Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 24. KINH TRẠM XE

(Rathavinītasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng sóc.

2. Khi ấy, có nhiều tỳ kheo người cùng quê hương [với Đức Phật] (đồng hương / jātibhūmakā) đã an cư mùa mưa tại quê hương, đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các tỳ kheo ấy đã ngồi một bên, Thế Tôn nói điều này với họ:

“Này các tỳ kheo, trong số các tỳ kheo cùng quê hương, ai là người được các bạn đồng tu (đồng phạm hạnh / sabrahmacārīnaṁ) tôn trọng như thế này: ‘[Người này] Tự mình ít mong muốn (thiểu dục / appiccho) và là người nói về sự ít mong muốn (appicchakathañca) cho các tỳ kheo; tự mình bằng lòng (tri túc / santuṭṭho) và là người nói về sự bằng lòng (santuṭṭhikathañca) cho các tỳ kheo; tự mình sống tách biệt (viễn ly / pavivitto) và là người nói về sự sống tách biệt (pavivekakathañca) cho các tỳ kheo; tự mình không tụ tập (vô triền / asaṁsaṭṭho) và là người nói về sự không tụ tập (asaṁsaggakathañca) cho các tỳ kheo; tự mình nỗ lực mạnh mẽ (tinh cần / āraddhavīriyo) và là người nói về sự nỗ lực mạnh mẽ (vīriyārambhakathañca) cho các tỳ kheo; tự mình thành tựu lối sống đạo đức (giới cụ túc / sīlasampanno) và là người nói về sự thành tựu lối sống đạo đức (sīlasampadākathañca) cho các tỳ kheo; tự mình thành tựu Định (định cụ túc / samādhisampanno) và là người nói về sự thành tựu Định (samādhisampadākathañca) cho các tỳ kheo; tự mình thành tựu trí tuệ (tuệ cụ túc / paññāsampanno) và là người nói về sự thành tựu trí tuệ (paññāsampadākathañca) cho các tỳ kheo; tự mình thành tựu giải thoát (giải thoát cụ túc / vimuttisampanno) và là người nói về sự thành tựu giải thoát (vimuttisampadākathañca) cho các tỳ kheo; tự mình thành tựu sự thấy rõ bản chất và hiểu biết về giải thoát (giải thoát tri kiến cụ túc / vimuttiñāṇadassanasampanno) và là người nói về sự thành tựu sự thấy rõ bản chất và hiểu biết về giải thoát (vimuttiñāṇadassanasampadākathañca) cho các tỳ kheo; là người khuyên bảo (giáo giới / ovādako), người hướng dẫn (chỉ giáo / viññāpako), người làm sáng tỏ (khích lệ / sandassako), người thúc đẩy (samādapako), người làm phấn chấn (samuttejako), người làm hoan hỷ (sampahaṁsako) cho các bạn đồng tu’?”

“Bạch Thế Tôn, có Tôn giả tên là Puṇṇa Mantāṇiputta (Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử), ở quê hương, được các bạn đồng tu tôn trọng như thế này: ‘Tự mình ít mong muốn và là người nói về sự ít mong muốn cho các tỳ kheo; tự mình bằng lòng […lặp lại…] là người khuyên bảo, người hướng dẫn, người làm sáng tỏ, người thúc đẩy, người làm phấn chấn, người làm hoan hỷ cho các bạn đồng tu’.”

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đang ngồi không xa Thế Tôn. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta khởi lên suy nghĩ này:

“Thật là lợi ích cho Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, thật là khéo được lợi ích cho Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, khi mà các bạn đồng tu có trí tuệ đã hết lời ca ngợi vị ấy ngay trước mặt Bậc Đạo Sư, và Bậc Đạo Sư cũng tán thành điều đó. Mong sao có một lúc nào đó, ta có thể gặp gỡ Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, mong sao có một cuộc đàm đạo [giữa chúng ta].”

4. Sau đó, Thế Tôn ở lại Rājagaha cho đến khi vừa ý, rồi khởi hành chuyến du hành hướng về Sāvatthi. Đi du hành tuần tự, Ngài đến Sāvatthi. Tại đó, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ Viên), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta nghe tin: “Thế Tôn đã đến Sāvatthi; Ngài đang trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, tu viện của Anāthapiṇḍika.”

5. Khi ấy, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta thu dọn chỗ ở, mang theo y bát, khởi hành chuyến du hành hướng về Sāvatthi. Đi du hành tuần tự, vị ấy đến Sāvatthi, đến Jetavana, tu viện của Anāthapiṇḍika, đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta đang ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp thoại để làm sáng tỏ, thúc đẩy, làm phấn chấn, làm hoan hỷ vị ấy. Sau đó, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, sau khi được Thế Tôn làm sáng tỏ, thúc đẩy, làm phấn chấn, làm hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã vui mừng đón nhận và hoan hỷ với lời Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài về phía hữu, rồi đi đến Andhavana (Rừng Mù) để nghỉ ngơi ban ngày.

6. Khi ấy, một tỳ kheo đi đến nơi Tôn giả Sāriputta ở; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta điều này: “Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo tên là Puṇṇa Mantāṇiputta mà hiền giả thường xuyên ca ngợi, vị ấy sau khi được Thế Tôn làm sáng tỏ, thúc đẩy, làm phấn chấn, làm hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã vui mừng đón nhận và hoan hỷ với lời Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài về phía hữu, rồi đã đi đến Andhavana để nghỉ ngơi ban ngày.”

7. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta vội vã lấy tọa cụ, đi theo sát ngay phía sau Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, mắt luôn nhìn theo. Sau đó, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta đi sâu vào Andhavana và ngồi nghỉ ban ngày dưới gốc một cây nọ. Tôn giả Sāriputta cũng đi sâu vào Andhavana và ngồi nghỉ ban ngày dưới gốc một cây nọ.

8. Khi ấy, vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta xuất định, đi đến nơi Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta ở; sau khi đến, trao đổi những lời chào hỏi thân hữu với Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và thăm hỏi, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta điều này:

MN 24. KINH TRẠM XE

(Rathavinìta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa.

Lúc ấy một số đông Tỷ-kheo người địa phương, sau khi an cư mùa mưa tại địa phương xong, liền đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, ai ở tại địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục cho các Tỷ-kheo; tự mình tri túc và giảng về tri túc cho các Tỷ-kheo; tự mình độc cư và giảng về độc cư cho các Tỷ-kheo; tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm cho các Tỷ-kheo; tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu Thiền định và giảng về thành tựu Thiền định cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói về thành tựu giải thoát tri kiến cho các Tỷ-kheo; vị giáo giới, vị khai thị, vị trình bày, vị khích lệ, vị làm cho phấn khởi, vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ?”.

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Punna Mantaniputta là Tỷ-kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và nói về thiểu dục cho các Tỷ-kheo… (như trên)… vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta ngồi cách Thế Tôn không xa. Tôn giả Sariputta suy nghĩ như sau: “Hạnh phúc thay Tôn giả Punna Mantaniputta! Chơn hạnh phúc thay Tôn giả Punna Mantaniputta! Tôn giả đã được các vị đồng phạm hạnh có trí tán thán từng điểm một trước mặt bậc Ðạo Sư, và được bậc Ðạo Sư chấp nhận; có thể chúng ta sẽ gặp Tôn giả Punna Mantaniputta, tại một chỗ nào, trong một thời gian nào, có thể sẽ có một cuộc đàm luận với Tôn giả.”

Thế Tôn trú tại Rajagaha (Vương Xá) lâu cho đến khi vừa ý, rồi khởi hành đi Savatthi; Ngài tuần tự đi và đến Savatthi. Ở đây, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika.

Tôn giả Punna Mantaniputta được nghe: “Thế Tôn đã đến Savatthi, trú ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika”. Rồi Tôn giả Punna Mantaniputta thâu dọn lại sàng tọa, cầm y bát, khởi hành đi Savatthi. Tôn giả tuần tự đi đến Savatthi, Jetavana, vườn ông Anathapindika, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Punna Mantaniputta đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Tôn giả Punna Mantaniputta, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ đi Andhavana để nghỉ trưa.

Rồi một Tỷ-kheo khác đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sariputta: “Hiền giả Sariputta, Hiền giả luôn luôn tán dương Tỷ-kheo Punna Mantaniputta; vị này được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, từ tạ đi đến Andhavana để nghỉ trưa”.

Rồi Tôn giả Sariputta vội vã đem theo tọa cụ, đi theo sau lưng Tôn giả Punna Mantaniputta, đầu hướng về trước mặt (để theo dõi). Rồi Tôn giả Punna Mantaniputta đi sâu vào rừng Andhavana, và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây. Tôn giả Sariputta, sau khi đi sâu vào rừng Andhavana, ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sariputta từ Thiền định độc cư đứng dậy, đến tại chỗ Tôn giả Punna Mantaniputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Punna Mantaniputta những lời chào đón, hỏi thăm, xã giao rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta thưa với Tôn giả Punna Mantaniputta:

9. “Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn chúng ta không?”

“Đúng vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về lối sống đạo đức (giới thanh tịnh / sīlavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về tâm (tâm thanh tịnh / cittavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về quan điểm (kiến thanh tịnh / diṭṭhivisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờ (độ nghi thanh tịnh / kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đường (đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh / maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành (đạo tịch tri kiến thanh tịnh / paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết (tri kiến thanh tịnh / ñāṇadassanavisuddhatthaṁ) không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

10. “Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, khi được hỏi: có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về lối sống đạo đức không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Khi được hỏi: ‘Vậy thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về tâm không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, có phải vì mục đích sự thanh lọc về quan điểm […lặp lại…] vì mục đích sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờ […lặp lại…] vì mục đích sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đường […lặp lại…] vì mục đích sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành […lặp lại…] Thưa hiền giả, có phải [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Vậy thưa hiền giả, [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] gì?”

– Hiền giả, có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn? – Thật như vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tâm thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là mục đích kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Khi hỏi … tâm thanh tịnh? … kiến thanh tịnh?.. đoạn nghi thanh tịnh? … đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? … đạo tri kiến thanh tịnh? … Khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Như vậy, Hiền giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

“Thưa hiền giả, [chúng ta sống] đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn vì mục đích [đạt được] sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ (vô thủ trước bát-niết-bàn / anupādāparinibbānatthaṁ).”

– Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.

11. “Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về lối sống đạo đức chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về tâm chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về quan điểm chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờ chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đường chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

“Vậy thưa hiền giả, có phải sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ nằm ngoài những trạng thái này không?”

“Không phải vậy, thưa hiền giả.”

12. “Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về lối sống đạo đức chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Khi được hỏi: ‘Vậy thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về tâm chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về quan điểm chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?’ […lặp lại…] sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờsự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đườngsự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành… Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, có phải sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết chính là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Khi được hỏi: ‘Vậy thưa hiền giả, có phải sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ nằm ngoài những trạng thái này không?’, hiền giả trả lời: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả’. Vậy thưa hiền giả, ý nghĩa của lời nói này cần được hiểu như thế nào?”

– Hiền giả, có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải tâm thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đoạn nghi thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, khi hỏi “có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: "Không phải vậy. Khi hỏi “có phải tâm thanh tịnh …? … có phải kiến thanh tịnh …? … có phải đoạn nghi thanh tịnh …? … có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh …? … có phải đạo tri kiến thanh tịnh là …? … có phải tri kiến thanh tịnh …? … có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.” Hiền giả, vậy ý nghĩa lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?

13. "Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về lối sống đạo đứcsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữ (hữu thủ / saupādāna) là sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về tâmsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về quan điểmsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đườngsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hànhsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biếtsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ, thì Ngài đã tuyên bố một trạng thái còn bám giữsự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Và thưa hiền giả, nếu sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ nằm ngoài những trạng thái này, thì một phàm phu cũng có thể đạt được sự dập tắt hoàn toàn. Bởi vì thưa hiền giả, phàm phu vốn nằm ngoài những trạng thái này.

14. Do đó, thưa hiền giả, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho hiền giả; nhờ ví dụ, một số người có trí ở đời hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thưa hiền giả, giả sử Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala đang ở Sāvatthi, bỗng có một việc khẩn cấp cần làm ở Sāketa. Giữa Sāvatthi và Sāketa, người ta chuẩn bị sẵn bảy chiếc xe ngựa trạm (trạm xe / rathavinītāni). Khi ấy, thưa hiền giả, Vua Pasenadi nước Kosala rời khỏi Sāvatthi, từ cổng nội cung bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ nhất; bằng chiếc xe ngựa trạm thứ nhất, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ hai; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ nhất và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ hai. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ hai, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ ba; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ hai và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ ba. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ ba, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ tư; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ ba và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ tư. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ tư, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ năm; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ tư và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ năm. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ năm, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ sáu; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ năm và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ sáu. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ sáu, vua đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ bảy; vua bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ sáu và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ bảy. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ bảy, vua đến được Sāketa, ngay tại cổng nội cung. Khi vua đã đến cổng nội cung, bạn bè, quan lại, người thân và huyết thống hỏi vua thế này: ‘Tâu Đại vương, có phải ngài đã đi từ Sāvatthi đến Sāketa, ngay tại cổng nội cung này, bằng [chỉ một] chiếc xe ngựa trạm này không?’ Thưa hiền giả, Vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào để được gọi là trả lời đúng?"

“Thưa hiền giả, Vua Pasenadi nước Kosala trả lời như thế này thì được gọi là trả lời đúng: ‘Ở đây, khi ta đang ở Sāvatthi, bỗng có một việc khẩn cấp cần làm ở Sāketa. Giữa Sāvatthi và Sāketa, người ta chuẩn bị sẵn cho ta bảy chiếc xe ngựa trạm. Khi ấy, ta rời khỏi Sāvatthi, từ cổng nội cung bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ nhất. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ nhất, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ hai; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ nhất và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ hai. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ hai, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ ba; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ hai và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ ba. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ ba, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ tư; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ ba và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ tư. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ tư, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ năm; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ tư và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ năm. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ năm, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ sáu; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ năm và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ sáu. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ sáu, ta đi đến chiếc xe ngựa trạm thứ bảy; ta bỏ lại chiếc xe ngựa trạm thứ sáu và bước lên chiếc xe ngựa trạm thứ bảy. Bằng chiếc xe ngựa trạm thứ bảy, ta đến được Sāketa, ngay tại cổng nội cung.’ Thưa hiền giả, Vua Pasenadi nước Kosala trả lời như thế thì được gọi là trả lời đúng.”

15. “Cũng y như vậy, thưa hiền giả, sự thanh lọc về lối sống đạo đức chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về tâm; sự thanh lọc về tâm chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về quan điểm; sự thanh lọc về quan điểm chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờ; sự thanh lọc về vượt qua nghi ngờ chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đường; sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết đâu là con đường và đâu không phải là con đường chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành; sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết về phương pháp thực hành chỉ là vì mục đích sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết; sự thanh lọc về thấy rõ bản chất và hiểu biết chỉ là vì mục đích sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ. Thưa hiền giả, đời sống thánh thiện được sống dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn chính là vì mục đích sự dập tắt hoàn toàn không còn bám giữ.”

– Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tâm thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đoạn nghi thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo tri kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết- bàn. Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.

Hiền giả, tôi sẽ cho Hiền giả một ví dụ, ở đây, một số kẻ có trí, nhờ ví dụ để hiểu ý nghĩa của lời nói. Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala trong khi ở tại Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho vua giữa Savatthi và Saketa. Hiền giả, rồi vua Pasenadi xứ Kosala, từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm, từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Saketa, tại cửa nội thành. Khi vua đến tại cửa nội thành, các bộ trưởng cận thần, các thân thích cùng huyết thống hỏi như sau:“-- Tâu Ðại vương có phải với trạm xe này, Bệ hạ đi từ Savatthi đến Saketa tại cửa nội thành?” Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào mới gọi là trả lời đúng đắn?

– Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế này mới trả lời đúng đắn: “-- Ở đây, trong khi ta ở Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho ta, giữa Savatthi và Saketa. Ta từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm xe thứ nhất, ta đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, ta leo lên trạm xe thứ hai; và nhờ trạm xe thứ hai, ta đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm; từ bỏ trạm xe thứ tư… đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm xe thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu… leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy, Ta đến được Saketa, tại cửa nội thành”. Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala trả lời như vậy mới trả lời một cách đúng đắn.

– Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.

16. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta điều này: “Tôn giả tên là gì, và các bạn đồng tu biết đến Tôn giả như thế nào?”

“Thưa hiền giả, tên tôi là Puṇṇa; và các bạn đồng tu biết đến tôi là Mantāṇiputta.”

“Thật kỳ diệu, thưa hiền giả! Thật phi thường, thưa hiền giả! Giống như một đệ tử có học (sutavatā) đã hiểu biết trọn vẹn giáo pháp của Bậc Đạo Sư, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta đã trả lời từng câu hỏi sâu sắc một cách vô cùng sâu sắc. Thật là lợi ích cho các bạn đồng tu, thật là khéo được lợi ích cho các bạn đồng tu, khi họ được nhìn thấy Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, được gần gũi hầu hạ vị ấy. Ngay cả nếu các bạn đồng tu phải đội Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta trên đỉnh đầu với một cuộn vải lót để được nhìn thấy, để được gần gũi hầu hạ, thì đó cũng là lợi ích cho họ, là khéo được lợi ích cho họ. Và đối với chúng tôi cũng là lợi ích, đối với chúng tôi cũng là khéo được lợi ích, khi chúng tôi được nhìn thấy Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, được gần gũi hầu hạ vị ấy.”

17. Khi được nói như vậy, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta nói với Tôn giả Sāriputta điều này: “Tôn giả tên là gì, và các bạn đồng tu biết đến Tôn giả như thế nào?”

“Thưa hiền giả, tên tôi là Upatissa; và các bạn đồng tu biết đến tôi là Sāriputta.”

“Ôi, tôi đang đàm đạo với một vị đệ tử được ví như chính Bậc Đạo Sư mà lại không hề hay biết: ‘Đây là Tôn giả Sāriputta’. Nếu tôi biết ‘Đây là Tôn giả Sāriputta’, thì tôi đã không thể nói được nhiều đến thế. Thật kỳ diệu, thưa hiền giả! Thật phi thường, thưa hiền giả! Giống như một đệ tử có học đã hiểu biết trọn vẹn giáo pháp của Bậc Đạo Sư, Tôn giả Sāriputta đã đặt từng câu hỏi sâu sắc một cách vô cùng sâu sắc. Thật là lợi ích cho các bạn đồng tu, thật là khéo được lợi ích cho các bạn đồng tu, khi họ được nhìn thấy Tôn giả Sāriputta, được gần gũi hầu hạ vị ấy. Ngay cả nếu các bạn đồng tu phải đội Tôn giả Sāriputta trên đỉnh đầu với một cuộn vải lót để được nhìn thấy, để được gần gũi hầu hạ, thì đó cũng là lợi ích cho họ, là khéo được lợi ích cho họ. Và đối với chúng tôi cũng là lợi ích, đối với chúng tôi cũng là khéo được lợi ích, khi chúng tôi được nhìn thấy Tôn giả Sāriputta, được gần gũi hầu hạ vị ấy.”

Như vậy, cả hai vị đại nhân này đều hoan hỷ với những lời nói tốt đẹp của nhau.

Kinh Trạm Xe kết thúc, là bài kinh thứ tư.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Punna Mantaniputta:

– Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?

– Hiền giả, tên tôi là Punna và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Mantaniputta.

– Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư, và vị đệ tử ấy là Tôn giả Punna Mantaniputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Punna Mantaniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta!

Khi được nói vậy, Tôn giả Punna Mantaniputta nói với Tôn giả Sariputta:

– Tôn giả tên là gì, và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?

– Hiền giả, tôi tên là Upatissa, và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Sariputta.

– Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là ngang hàng với bậc Ðạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sariputta. Nếu chúng tôi được biết là Tôn giả Sariputta, thì chúng tôi đã không nói nhiều như vậy. Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một, bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư. Và vị đệ tử ấy là Tôn giả Sariputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh… được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sariputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Sariputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, được thân cận, thì thật hạnh phúc cho các vị ấy, thật chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sariputta!

Như vậy, hai bậc cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.

-ooOoo-