Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 23. KINH GÒ MỐI

(Vammikasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại rừng Jetavana, trong tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumārakassapa đang trú ở khu rừng Andhavana.

Khi ấy, một vị chư thiên với nhan sắc tuyệt đẹp, khi đêm đã về khuya, chiếu sáng toàn bộ khu rừng Andhavana, đi đến chỗ Tôn giả Kumārakassapa; sau khi đến, vị ấy đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vị chư thiên ấy nói với Tôn giả Kumārakassapa điều này:

2. "Này tỳ kheo, này tỳ kheo, cái gò mối này ban đêm bốc khói, ban ngày bốc cháy. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Này người có trí (sumedha), hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một cái then cửa. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một cái then cửa’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ cái then cửa; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một con cóc. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một con cóc’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ con cóc; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một ngã ba đường. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một ngã ba đường’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ ngã ba đường; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một cái rổ lọc. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một cái rổ lọc’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ cái rổ lọc; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một con rùa. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một con rùa’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ con rùa; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một cái thớt băm thịt. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một cái thớt băm thịt’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ cái thớt băm thịt; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một miếng thịt. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một miếng thịt’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy vứt bỏ miếng thịt; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới’.

Người có trí cầm lấy con dao và đào xới, thấy một con rắn chúa. [Người ấy nói:] ‘Thưa ngài, một con rắn chúa’. Vị Bà-la-môn nói như sau: ‘Hãy để con rắn chúa yên, đừng đụng chạm đến con rắn chúa; hãy đảnh lễ con rắn chúa’.

Này tỳ kheo, ông hãy đi đến Thế Tôn để hỏi những câu hỏi này, và Thế Tôn trả lời cho ông như thế nào, ông hãy ghi nhớ như vậy. Này tỳ kheo, ta không thấy ai trong thế giới này với chư thiên, ma vương, phạm thiên, giữa quần chúng sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người, có thể làm thỏa mãn tâm trí bằng cách giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata), hoặc đệ tử của Người Đến Như Vậy, hoặc người đã nghe từ những vị ấy."

Vị chư thiên đã nói điều này. Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ.

MN 23. KINH GÒ MỐI

(Vammika Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumara Kassapa trú tại Andhavana.

Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumara Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumara Kassapa:

"Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.

"Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: “Thưa Tôn giả, một then cửa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: “Thưa Tôn giả, một con nhái”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngã: “Thưa Tôn giả, một con đường hai ngã”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí hãy lấy con đường hai ngã lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: “Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Hãy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: “Thưa Tôn giả, một con rùa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: “Thưa Tôn giả, một con dao phay”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: “Thưa Tôn giả một miếng thịt”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: “Thưa Tôn giả, con rắn hổ”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ”.

“Này Tỷ-kheo, hãy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cõi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”.

Vị thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.

3. Rồi Tôn giả Kumārakassapa, khi đêm đã qua, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumārakassapa bạch Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, đêm nay có một vị chư thiên với nhan sắc tuyệt đẹp, khi đêm đã về khuya, chiếu sáng toàn bộ khu rừng Andhavana, đi đến chỗ con; sau khi đến, vị ấy đứng sang một bên. Đứng sang một bên, bạch Thế Tôn, vị chư thiên ấy nói với con điều này: ‘Này tỳ kheo, này tỳ kheo, cái gò mối này ban đêm bốc khói, ban ngày bốc cháy. Vị Bà-la-môn nói như sau: “Này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới”. Người có trí cầm lấy con dao và đào xới […lặp lại…] hoặc người đã nghe từ những vị ấy’.

Bạch Thế Tôn, vị chư thiên đã nói điều này. Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ. Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, ban đêm bốc khói là gì, ban ngày bốc cháy là gì, vị Bà-la-môn là ai, người có trí là ai, con dao là gì, đào xới là gì, cái then cửa là gì, con cóc là gì, ngã ba đường là gì, cái rổ lọc là gì, con rùa là gì, cái thớt băm thịt là gì, miếng thịt là gì, con rắn chúa là ai?"

4. "Này tỳ kheo, ‘gò mối’ là tên gọi khác của cơ thể này, được tạo thành từ bốn đặc tính lớn (tứ đại / cātumahābhūtika), sinh ra từ cha mẹ, được nuôi dưỡng bằng cơm và cháo, có tính chất không bền vững, phải xoa bóp, tắm rửa, dễ vỡ vụn và hoại diệt.

Này tỳ kheo, những công việc đã bắt đầu làm vào ban ngày, ban đêm vị ấy chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / anuvitakketi anuvicāreti) về chúng—đây là ban đêm bốc khói. Này tỳ kheo, sau khi ban đêm chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, ban ngày vị ấy thực hiện các công việc bằng hành động của thân, lời nói, và ý nghĩ—đây là ban ngày bốc cháy.

Này tỳ kheo, ‘vị Bà-la-môn’ là tên gọi khác của Người Đến Như Vậy, bậc A-la-hán, Tự mình giác ngộ hoàn toàn. Này tỳ kheo, ‘người có trí’ là tên gọi khác của vị tỳ kheo đang học tập (hữu học / sekha).

Này tỳ kheo, ‘con dao’ là tên gọi khác của sự hiểu biết thấu đáo (tuệ / paññā) của bậc thánh. Này tỳ kheo, ‘đào xới’ là tên gọi khác của sự khởi đầu nỗ lực (phát cần tinh tấn / vīriyārambha).

Này tỳ kheo, ‘cái then cửa’ là tên gọi khác của sự không hiểu biết (vô minh / avijjā). Hãy vứt bỏ cái then cửa, hãy từ bỏ sự không hiểu biết; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘con cóc’ là tên gọi khác của sự phẫn nộ và bực dọc (kodhūpāyāsa). Hãy vứt bỏ con cóc, hãy từ bỏ sự phẫn nộ và bực dọc; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘ngã ba đường’ là tên gọi khác của sự nghi ngờ (vicikicchā). Hãy vứt bỏ ngã ba đường, hãy từ bỏ sự nghi ngờ; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘cái rổ lọc’ là tên gọi khác của năm điều làm mờ yếu (năm triền cái / pañca nīvaraṇāni), cụ thể là—điều làm mờ yếu của sự muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchanda), điều làm mờ yếu của sự ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), điều làm mờ yếu của sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), điều làm mờ yếu của sự bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), điều làm mờ yếu của sự nghi ngờ. Hãy vứt bỏ cái rổ lọc, hãy từ bỏ năm điều làm mờ yếu; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘con rùa’ là tên gọi khác của năm tập hợp bị bám giữ (năm thủ uẩn / pañcupādānakkhandhā), cụ thể là—bám giữ vào tập vật chất (sắc thủ uẩn / rūpupādānakkhandha), bám giữ vào tập cảm giác (thọ thủ uẩn / vedanupādānakkhandha), bám giữ vào tập nhận thức (tưởng thủ uẩn / saññupādānakkhandha), bám giữ vào tập hoạt động (hành thủ uẩn / saṅkhārupādānakkhandha), bám giữ vào tập ‘cái biết’ (thức thủ uẩn / viññāṇupādānakkhandha). Hãy vứt bỏ con rùa, hãy từ bỏ năm tập hợp bị bám giữ; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘cái thớt băm thịt’ là tên gọi khác của năm sợi dây trói buộc của bản năng (năm dục công đức / pañca kāmaguṇā)—những hình ảnh (sắc / rūpa) được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññeyyānaṁ), khả ái, dễ thương, hấp dẫn, mang hình dáng đáng yêu, liên hệ đến bản năng (dục / kāma), kích thích sự đắm nhiễm (tham / rajanīyānaṁ); những âm thanh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở tai […lặp lại…]; những mùi hương được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mũi […lặp lại…]; những vị được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở lưỡi […lặp lại…]; những xúc chạm được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở thân, khả ái, dễ thương, hấp dẫn, mang hình dáng đáng yêu, liên hệ đến bản năng, kích thích sự đắm nhiễm. Hãy vứt bỏ cái thớt băm thịt, hãy từ bỏ năm sợi dây trói buộc của bản năng; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘miếng thịt’ là tên gọi khác của sự đắm nhiễm vui thú (hỷ tham / nandīrāga). Hãy vứt bỏ miếng thịt, hãy từ bỏ sự đắm nhiễm vui thú; này người có trí, hãy cầm lấy con dao và đào xới—đó là ý nghĩa của điều này.

Này tỳ kheo, ‘con rắn chúa’ là tên gọi khác của vị tỳ kheo người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava). Hãy để con rắn chúa yên, đừng đụng chạm đến con rắn chúa; hãy đảnh lễ con rắn chúa—đó là ý nghĩa của điều này."

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Kumārakassapa hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Gò Mối thứ ba đã kết thúc.

Rồi Tôn giả Kumara Kassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumarakassapa bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm đào lên”. Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa… (như trên)… đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”. Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.

Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, cái gì phun khói ban đêm, cái gì chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái gì là cây gươm, cái gì là đào lên, cái gì là then cửa, cái gì là con nhái, cái gì là con đường hai ngã, cái gì là đồ lọc sữa, cái gì là con rùa, cái gì là con dao phay, cái gì là miếng thịt, cái gì là con rắn hổ?

– Này Tỷ-kheo, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.

Này Tỷ-kheo, cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.

Này Tỷ-kheo, cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng.

Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con đường hai ngã là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngã lên là từ bỏ nghi hoặc; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem bỏ đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc; hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ, là ý nghĩa này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-