Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 18. KINH VIÊN MẬT

(Madhupiṇḍikasutta) Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú ở Kapilavatthu, tại khu vườn Nigrodha.

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Ngài đi đến Đại Lâm để nghỉ ngơi ban ngày. Đi sâu vào Đại Lâm, Ngài ngồi nghỉ ban ngày dưới gốc cây Beluva non.

Lúc bấy giờ, Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca đang đi dạo, đi loanh quanh để thư giãn chân cẳng, cũng đi đến Đại Lâm. Đi sâu vào Đại Lâm, ông ta đi đến gốc cây Beluva non, nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, ông ta chào hỏi Thế Tôn. Sau những lời chào hỏi thân hữu xã giao, ông ta chống gậy đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca nói với Thế Tôn điều này: “Sa-môn có quan điểm gì, tuyên bố điều gì?”

“Này hiền giả, theo như quan điểm mà vị ấy không tranh chấp (tranh chấp / viggayha) với bất kỳ ai ở đời — thế giới với chư thiên, ma vương, phạm thiên, với quần chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người; và theo như cách mà các nhận thức (tưởng / saññā) không còn chảy ngầm (tùy miên / anusenti) trong vị Bà-la-môn ấy, người sống rời bỏ khỏi (ly / visaṁyuttaṁ) các bản năng (dục / kāma), không còn nghi ngờ (vô nghi / akathaṅkathiṁ), đã cắt đứt sự bồn chồn (đoạn trừ hối quá / chinnakukkuccaṁ), cạn hết mong muốn (ly ái / vītataṇhaṁ) trong các cõi tồn tại. Này hiền giả, tôi có quan điểm như vậy, tôi tuyên bố như vậy.”

Khi được nói như vậy, Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca lắc đầu, thè lưỡi, nhăn trán thành ba nếp nhăn, chống gậy rồi bỏ đi.

Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi xuất định, đi đến khu vườn Nigrodha; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn. Ngồi xong, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, sáng nay ta đắp y, mang bát đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, ta đi đến Đại Lâm để nghỉ ngơi ban ngày. Đi sâu vào Đại Lâm, ta ngồi nghỉ ban ngày dưới gốc cây Beluva non. Này các tỳ kheo, lúc bấy giờ Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca đang đi dạo, đi loanh quanh để thư giãn chân cẳng, cũng đi đến Đại Lâm. Đi sâu vào Đại Lâm, ông ta đi đến gốc cây Beluva non, nơi ta đang ở; sau khi đến, ông ta chào hỏi ta. Sau những lời chào hỏi thân hữu xã giao, ông ta chống gậy đứng sang một bên. Đứng sang một bên, này các tỳ kheo, Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca nói với ta điều này: ‘Sa-môn có quan điểm gì, tuyên bố điều gì?’

Khi được nói như vậy, này các tỳ kheo, ta đã nói với Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca điều này: ‘Này hiền giả, theo như quan điểm mà vị ấy không tranh chấp với bất kỳ ai ở đời — thế giới với chư thiên, ma vương, phạm thiên, với quần chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người; và theo như cách mà các nhận thức không còn chảy ngầm trong vị Bà-la-môn ấy, người sống rời bỏ khỏi các bản năng, không còn nghi ngờ, đã cắt đứt sự bồn chồn, cạn hết mong muốn trong các cõi tồn tại. Này hiền giả, tôi có quan điểm như vậy, tôi tuyên bố như vậy.’ Khi được nói như vậy, này các tỳ kheo, Daṇḍapāṇi dòng Thích-ca lắc đầu, thè lưỡi, nhăn trán thành ba nếp nhăn, chống gậy rồi bỏ đi."

MN 18. KINH MẬT HOÀN

(Madhupindika Sutta)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Thế Tôn sống giữa các vị dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Nigrodharama.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika.

Có vị Gậy cầm tay (Dandapani) Sakka (Thích-ca), kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy, đứng một bên. Gậy cầm tay Sakka nói với Thế Tôn: “Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?”

– “Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy”.

Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến vườn Nigrodha, khi đến xong, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, ở đây, Ta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường khất thực trở về, Ta đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ta ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika. Có vị Gậy cầm tay Sakka kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Ta ở, khi đến xong, nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy. Ðứng một bên, Gậy cầm tay Sakka nói với Ta như sau: “Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?” Chư Tỷ-kheo, được nói vậy, Ta trả lời Gậy cầm tay Sakka: “Này Hiền giả, theo lời Ta dạy trong thế giới với chư Thiên, Mara, và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời. Các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy”. Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.

Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

Khi được nói như vậy, một tỳ kheo nọ thưa với Thế Tôn điều này: “Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn có quan điểm gì mà không tranh chấp với bất kỳ ai ở đời — thế giới với chư thiên, ma vương, phạm thiên, với quần chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người? Và bạch Thế Tôn, làm thế nào mà các nhận thức không còn chảy ngầm trong Thế Tôn — vị Bà-la-môn sống rời bỏ khỏi các bản năng, không còn nghi ngờ, đã cắt đứt sự bồn chồn, cạn hết mong muốn trong các cõi tồn tại?”

“Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại (hý luận tưởng / papañcasaññāsaṅkhā) bủa vây một người; nếu ở đây không có gì để vui thú chạy theo (dục hỷ / abhinanditabbaṁ), không có gì để ca ngợi (hoan nghênh / abhivaditabbaṁ), không có gì để bám chặt (thủ trước / ajjhositabbaṁ). Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm (tham / rāgānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù (sân / paṭighānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của nghi ngờ (nghi / vicikicchānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của ngạo mạn (mạn / mānānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm cõi tồn tại (hữu tham / bhavarāgānusayānaṁ), đây là kết thúc sự chảy ngầm của không hiểu biết (vô minh / avijjānusayānaṁ), đây là sự kết thúc của việc cầm gậy, cầm kiếm, cãi vã, tranh chấp, tranh luận, mắng mỏ ‘mày mày’, nói xấu và nói dối. Tại đây, những điều không thiện (bất thiện pháp / pāpakā akusalā dhammā) này bị chặn (diệt / nirujjhanti) không còn dư tàn.”

Thế Tôn đã nói điều này. Nói xong, Bậc Thiện Thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất.

Rồi không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, các tỳ kheo ấy khởi lên suy nghĩ: “Này các hiền giả, Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: ‘Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt. Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn.’ Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này?”

Rồi các tỳ kheo ấy khởi lên suy nghĩ: “Tôn giả Mahākaccāna này được Bậc Đạo Sư khen ngợi và được các vị đồng tu có trí tuệ tôn trọng. Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này. Hay là chúng ta hãy đi đến nơi Tôn giả Mahākaccāna ở; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này.”

Rồi các tỳ kheo ấy đi đến nơi Tôn giả Mahākaccāna ở; sau khi đến, họ chào hỏi Tôn giả Mahākaccāna. Sau những lời chào hỏi thân hữu xã giao, họ ngồi xuống một bên. Ngồi sang một bên, các tỳ kheo ấy nói với Tôn giả Mahākaccāna điều này: “Này hiền giả Kaccāna, Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng tôi, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: ‘Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt. Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn.’ Này hiền giả Kaccāna, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, chúng tôi khởi lên suy nghĩ: ‘Này các hiền giả, Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: “Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt. Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn.” Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này?’ Này hiền giả Kaccāna, chúng tôi khởi lên suy nghĩ: ‘Tôn giả Mahākaccāna này được Bậc Đạo Sư khen ngợi và được các vị đồng tu có trí tuệ tôn trọng. Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này. Hay là chúng ta hãy đi đến nơi Tôn giả Mahākaccāna ở; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này.’ Xin Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích.”

– Nhưng bạch Thế Tôn, lời dạy ấy là gì mà Thế Tôn, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời? Các tưởng sẽ không ám ảnh Thế Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu?

– Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy bước vào tịnh xá.

Sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này cho chúng ta, không giải thích rộng rãi ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: “Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì… không còn dư tàn”. Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa”. Rồi những Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Nay có Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này”.

Rồi những Tỷ-kheo ấy đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm xã giao với Tôn giả Mahakaccana rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ- kheo ấy thưa với Tôn giả Mahakaccana:

– "Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này và không giải thích rõ ràng ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: “Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì… không còn dư tàn”.

Này Hiền giả Mahakaccana, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, chúng tôi suy nghĩ: “Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy vắn tắt này cho chúng ta… đã đi vào tịnh xá:” Do bất cứ nhân duyên gì… không còn dư tàn". Ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy mà Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt… không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Này Hiền giả Mahakaccana, rồi chúng tôi suy nghĩ: “Nay Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng ta hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Tôn giả Mahakaccana sẽ giải thích cho”.

“Này các hiền giả, giống như một người đang cần lõi cây, đang tìm kiếm lõi cây, đang đi dạo để tìm lõi cây, lại bỏ qua rễ và thân của một cây lớn có lõi đang đứng sừng sững, mà lại nghĩ rằng lõi cây cần được tìm kiếm ở cành và lá; cũng vậy là hành động này của các tôn giả: khi Bậc Đạo Sư đang hiện diện ngay trước mặt, các vị lại bỏ qua Thế Tôn mà nghĩ rằng ý nghĩa này cần phải hỏi tôi. Này các hiền giả, Thế Tôn là người biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, Ngài đã trở thành con mắt, trở thành sự hiểu biết, trở thành Quy luật (pháp / dhamma), trở thành sự tối thượng, là người thuyết giảng, là người khởi xướng, là người dẫn đến ý nghĩa, là người ban cho sự bất tử, là chủ nhân của Quy luật, là Bậc Như Lai. Đó mới chính là thời điểm thích hợp để các vị hỏi chính Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho các vị như thế nào, các vị hãy ghi nhớ như thế ấy.”

“Chắc chắn rồi, hiền giả Kaccāna, Thế Tôn là người biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, Ngài đã trở thành con mắt, trở thành sự hiểu biết, trở thành Quy luật, trở thành sự tối thượng, là người thuyết giảng, là người khởi xướng, là người dẫn đến ý nghĩa, là người ban cho sự bất tử, là chủ nhân của Quy luật, là Bậc Như Lai. Đó mới chính là thời điểm thích hợp để chúng tôi hỏi chính Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ ghi nhớ như thế ấy. Tuy nhiên, Tôn giả Mahākaccāna được Bậc Đạo Sư khen ngợi và được các vị đồng tu có trí tuệ tôn trọng. Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này. Xin Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích, xin đừng xem đó là một gánh nặng.”

“Vậy thì này các hiền giả, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ (tác ý / manasikarotha) cẩn thận, tôi sẽ nói.”

“Thưa vâng, hiền giả,” các tỳ kheo ấy đáp lời Tôn giả Mahākaccāna. Tôn giả Mahākaccāna nói điều này:

– Chư Hiền, cũng như một người ưa thích lõi cây, tìm tòi lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở nơi cành lá. Cũng vậy là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quý vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Quý vị phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho quý vị, quý vị hãy như vậy thọ trì.

– Hiền giả Mahakaccana, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Tôn giả Mahakaccana hãy giải thích không có sự gì bất kính.

– Vậy chư Hiền hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahakaccana. Tôn giả Mahakaccana giảng như sau:

"Này các hiền giả, về việc Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: ‘Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt, đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn’, này các hiền giả, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này như sau:

– Chư Hiền, Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt lời dạy này… và đã đi vào tịnh xá: “Này Tỷ-kheo bất cứ vì nhân duyên gì… không còn dư tàn”. Chư Hiền, với lời dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Tôi hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ như sau:

Này các hiền giả, phụ thuộc (duyên / paṭicca) vào mắt và các hình ảnh (sắc / rūpe), ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇaṁ) sinh ra. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc (phasso). Với Xúc là điều kiện (duyên / paccayā), cảm giác (thọ / vedanā) [được sinh ra]. Những gì người ấy cảm nhận (thọ cảm / vedeti), người ấy nhận biết (tưởng tri / sañjānāti) về điều đó. Những gì người ấy nhận biết, người ấy suy nghĩ về nó (suy tầm / vitakketi) về điều đó. Những gì người ấy suy nghĩ về nó, người ấy suy diễn - hý luận (hý luận / papañceti) về điều đó. Dựa trên những gì người ấy suy diễn - hý luận, các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây người ấy từ các hình ảnh có thể nhận biết bằng ‘cái biết’ ở mắt trong quá khứ, tương lai và hiện tại.

Này các hiền giả, phụ thuộc vào tai và các âm thanh, ‘cái biết’ ở tai sinh ra […lặp lại…]

Này các hiền giả, phụ thuộc vào mũi và các mùi, ‘cái biết’ ở mũi sinh ra […lặp lại…]

Này các hiền giả, phụ thuộc vào lưỡi và các vị, ‘cái biết’ ở lưỡi sinh ra […lặp lại…]

Này các hiền giả, phụ thuộc vào thân và các xúc chạm, ‘cái biết’ ở thân sinh ra […lặp lại…]

Này các hiền giả, phụ thuộc vào giác quan trí não (ý căn / mana) và mọi Điều (pháp / dhamme), ‘cái biết’ ở trí não (ý thức / manoviññāṇaṁ) sinh ra. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc. Với Xúc là điều kiện, cảm giác [được sinh ra]. Những gì người ấy cảm nhận, người ấy nhận biết về điều đó. Những gì người ấy nhận biết, người ấy suy nghĩ về nó về điều đó. Những gì người ấy suy nghĩ về nó, người ấy suy diễn - hý luận về điều đó. Dựa trên những gì người ấy suy diễn - hý luận, các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây người ấy từ mọi Điều có thể nhận biết bằng ‘cái biết’ ở trí não trong quá khứ, tương lai và hiện tại.

Này các hiền giả, khi có mắt, hình ảnh‘cái biết’ ở mắt, người ấy sẽ hình thành (thi thiết / paññāpessati) khái niệm (chế định / paññatti) về Xúc — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về Xúc, sẽ hình thành khái niệm về cảm giác — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về cảm giác, sẽ hình thành khái niệm về nhận thức — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về nhận thức, sẽ hình thành khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý, sẽ hình thành khái niệm các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây [người đó] — điều này có thể xảy ra.

<dịch-dễ-hiểu>
Này các hiền giả, khi có mắt, hình ảnh‘cái biết’ ở mắt, điều này có thể xảy ra: hình thành khái niệm về Xúc. Khi có khái niệm về Xúc, điều này có thể xảy ra: hình thành khái niệm về cảm giác. Khi có khái niệm về cảm giác, điều này có thể xảy ra: hình thành về nhận thức. Khi có về nhận thức, điều này có thể xảy ra: hình thành hướng sự chú ý [đến nhận thức đó]. Khi có sự hướng chú ý [đến nhận thức đó], điều này có thể xảy ra: xuất hiện các khái niệm-nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại sẽ bủa vây [người đó].

Chuỗi hoạt động ở đây: mắt + sắc + nhãn thức → xúc → cảm giác(thọ) → nhận thức (tưởng) → suy nghĩ về (tầm) → người đó bị các “nhận thức mang tính phóng đại” xâm chiếm.
</dịch-dễ-hiểu>

Này các hiền giả, khi có tai, âm thanh […lặp lại…] khi có mũi, khi có mùi […lặp lại…] khi có lưỡi, khi có vị […lặp lại…] khi có thân, khi có xúc chạm […lặp lại…] khi có giác quan trí não, khi có mọi Điều, khi có ‘cái biết’ ở trí não, sẽ hình thành khái niệm về Xúc — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về Xúc, sẽ hình thành khái niệm về cảm giác — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về cảm giác, sẽ hình thành khái niệm về nhận thức — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về nhận thức, sẽ hình thành khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý — điều này có thể xảy ra. Khi có khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý, sẽ hình thành khái niệm các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây [người đó] — điều này có thể xảy ra.

Này các hiền giả, khi không có mắt, khi không có hình ảnh, khi không có ‘cái biết’ ở mắt, mà hình thành khái niệm về Xúc — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về Xúc, mà hình thành khái niệm về cảm giác — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về cảm giác, mà hình thành khái niệm về nhận thức — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về nhận thức, mà hình thành khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý, mà hình thành khái niệm các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây [người đó] — điều này không thể xảy ra.

Này các hiền giả, khi không có tai, khi không có âm thanh […lặp lại…] khi không có mũi, khi không có mùi […lặp lại…] khi không có lưỡi, khi không có vị […lặp lại…] khi không có thân, khi không có xúc chạm […lặp lại…] khi không có giác quan trí não, khi không có mọi Điều, khi không có ‘cái biết’ ở trí não, mà hình thành khái niệm về Xúc — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về Xúc, mà hình thành khái niệm về cảm giác — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về cảm giác, mà hình thành khái niệm về nhận thức — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về nhận thức, mà hình thành khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý — điều này không thể xảy ra. Khi không có khái niệm về sự chủ động hướng sự chú ý, mà hình thành khái niệm các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây [người đó] — điều này không thể xảy ra.

Này các hiền giả, về việc Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: ‘Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt, đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn’, này các hiền giả, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này là như vậy. Và nếu các tôn giả muốn, hãy đi đến gặp chính Thế Tôn để hỏi về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho các vị như thế nào, các vị hãy ghi nhớ như thế ấy."

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Chư Hiền, do nhơn lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên, do nhơn lỗ mũi và các hương, tỷ thức khởi lên, do nhơn lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên, do nhơn thân và xúc, thân thức khởi lên; do nhơn ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các pháp do ý thức nhận thức, quá khứ, tương lai, hiện tại.

Chư Hiền, sự kiện này xảy ra: khi nào có mắt, khi nào có sắc pháp, khi nào có nhãn thức, thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của xúc thời sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có thi thiết của thọ thời sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của tưởng, thời sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.

Sự kiện này xảy ra: khi nào có tai, khi nào có các tiếng, khi nào có nhĩ thức… Sự kiện này xảy ra: khi nào có lỗ mũi, khi nào có các hương, khi nào có tỷ thức… Sự kiện này xảy ra, khi nào có lưỡi, khi nào có các vị, khi nào có thiệt thức… Sự kiện này xảy ra: khi nào có thân, khi nào có các xúc, khi nào có thân thức… Sự kiện này xảy ra: khi nào có ý, khi nào có các pháp, khi nào có ý thức thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ.

Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: khi nào không có mắt, khi nào không có các sắc, khi nào không có nhãn thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của xúc, sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của tưởng, sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của suy tầm, thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.

Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: khi nào không có tai, khi nào không có các tiếng… khi nào không có mũi, khi nào không có các hương… khi nào không có lưỡi, khi nào không có các vị… khi nào không có thân, khi nào không có các xúc … Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có ý, khi nào không có các pháp, khi nào không có ý thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ…

Chư Hiền, Thế Tôn, sau khi nói lên lời dạy một cách vắn tắt… đã đi vào tịnh xá: “Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì… không dư tàn”. Chư Hiền, đối với lời dạy Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, và nghĩa lý không được giải thích một cách rộng rãi, tôi đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu quý vị muốn, hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, hãy hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải đáp như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

Rồi các tỳ kheo ấy vui mừng đón nhận và hoan hỷ với lời nói của Tôn giả Mahākaccāna, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi sang một bên, các tỳ kheo ấy thưa với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, về việc Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng con, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: ‘Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt. Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm […lặp lại…] tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn.’ Bạch Thế Tôn, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, chúng con khởi lên suy nghĩ: ‘Này các hiền giả, Thế Tôn đã đọc lên một bản tóm tắt ngắn gọn này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đi vào tịnh thất: “Này tỳ kheo, do bất cứ nguyên nhân nào mà các khái niệm nhận thức mang tính suy diễn, phóng đại bủa vây một người; nếu ở đây không có sự vui thú chạy theo, không có sự ca ngợi, không có sự bám chặt. Thì đây chính là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm, đây là kết thúc sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù, đây là kết thúc sự chảy ngầm của quan điểm sai, đây là kết thúc sự chảy ngầm của nghi ngờ, đây là kết thúc sự chảy ngầm của ngạo mạn, đây là kết thúc sự chảy ngầm của đắm nhiễm cõi tồn tại, đây là kết thúc sự chảy ngầm của không hiểu biết, đây là sự kết thúc của việc cầm gậy, cầm kiếm, cãi vã, tranh chấp, tranh luận, mắng mỏ ‘mày mày’, nói xấu và nói dối. Tại đây, những điều không thiện này bị chặn không còn dư tàn.” Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này?’ Bạch Thế Tôn, chúng con khởi lên suy nghĩ: ‘Tôn giả Mahākaccāna này được Bậc Đạo Sư khen ngợi và được các vị đồng tu có trí tuệ tôn trọng. Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của bản tóm tắt ngắn gọn đã được Thế Tôn đọc lên mà chưa được phân tích chi tiết này. Hay là chúng ta hãy đi đến nơi Tôn giả Mahākaccāna ở; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này.’ Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến nơi Tôn giả Mahākaccāna ở; sau khi đến, chúng con đã hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahākaccāna đã phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những khía cạnh này, bằng những câu chữ này, bằng những văn tự này.”

“Này các tỳ kheo, Mahākaccāna là người thông thái; này các tỳ kheo, Mahākaccāna là người có trí tuệ lớn. Này các tỳ kheo, nếu các vị hỏi ta về ý nghĩa này, ta cũng sẽ giải thích chính xác như cách Mahākaccāna đã giải thích. Đó chính là ý nghĩa của điều này. Các vị hãy ghi nhớ như vậy.”

Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, giống như một người đang bị cơn đói và sự suy nhược hành hạ, tìm được một viên mật ong (viên mật / madhupiṇḍika), dù người ấy nếm nó từ bất cứ chỗ nào, người ấy đều nhận được vị ngọt ngào thuần khiết.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, một tỳ kheo có bản chất tâm trí nhạy bén, bất cứ nơi nào vị ấy dùng trí tuệ để quan sát ý nghĩa của phương pháp giảng dạy (pháp môn / dhammapariyāya) này, vị ấy sẽ đạt được sự hài lòng, đạt được sự lắng trong nội tại (tâm tịnh tín / cetaso pasādaṁ). Bạch Thế Tôn, phương pháp giảng dạy này tên là gì?"

“Vì vậy, này Ānanda, hãy ghi nhớ phương pháp giảng dạy này là ‘Phương pháp giảng dạy Viên Mật Ong’.”

Thế Tôn đã nói điều này. Tôn giả Ānanda hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Viên mật thứ tám đã kết thúc.

Rồi những Tỷ-kheo ấy, hoan hỷ, tùy hỷ lời Tôn giả Mahakaccana nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nói lên lời dạy này một cách vắn tắt cho chúng con… đã vào tịnh xá. “Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì… không còn dư tàn”. Khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói cho chúng ta lời dạy tóm tắt này, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: “Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn”. Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa?” Bạch Thế Tôn, và chúng con suy nghĩ: “Nay có Tôn giả Mahakaccana là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahakaccana đã giải thích ý nghĩa ấy cho chúng con với những phương pháp này, với những văn cú này, với những văn tự này.

– Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahakaccana là bậc Hiền trí. Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahakaccana là bậc Ðại tuệ. Chư Tỷ-kheo, nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như Mahakaccana đã trả lời. Như vậy là chính nghĩa lời dạy ấy, hãy như vậy thọ trì.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, như một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Bạch Thế Tôn, cũng vậy, Tỷ-kheo có tri thức biệt tài, cứ mỗi phần suy tư đến ý nghĩa pháp môn này với trí tuệ, cứ mỗi phần vị ấy được thưởng thức sự hoan hỷ, được thưởng thức sự thoải mái tâm trí. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?

– Do vậy, này Ananda, pháp môn này được gọi là pháp môn bánh mật (Mật hoàn). Hãy như vậy thọ trì!

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn

-ooOoo-