Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 12. ĐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG

(Mahāsīhanādasutta)
Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy — Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại khu rừng bên ngoài thành phố, phía tây.

Lúc bấy giờ, Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, vừa mới rời bỏ Điều dạy (pháp / dhamma) và Luật này không lâu. Người ấy nói những lời như thế này giữa hội chúng ở Vesali:

“Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường (pháp thượng nhân / uttari manussadhammā), không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh (tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh / alamariyañāṇadassanaviseso). Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic (do tầm tư gõ nhịp / takkapariyāhataṁ), được hình thành qua sự dò xét (do suy tư tạo ra / vīmaṁsānucaritaṁ), tự mình nghĩ ra (tự mình biện tài / sayampaṭibhānaṁ). Và Điều dạy ấy được thuyết giảng vì mục đích gì, nó dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ (khổ diệt / dukkhakkhayāyā) một cách trọn vẹn.”

Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi sáng, mặc y, mang bát, đi vào Vesali để khất thực. Tôn giả Sāriputta nghe Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, nói những lời như thế này giữa hội chúng ở Vesali: “Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh. Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra. Và Điều dạy ấy được thuyết giảng vì mục đích gì, nó dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.”

Sau khi đi khất thực ở Vesali, ăn xong và trở về từ buổi khất thực, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, vừa mới rời bỏ Điều dạy và Luật này không lâu. Người ấy nói những lời như thế này giữa hội chúng ở Vesali: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh. Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra. Và Điều dạy ấy được thuyết giảng vì mục đích gì, nó dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.’”

MN 12. ÐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG

(Mahàsìhanàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một khu rừng phía Tây.

Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesali: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Lúc ấy Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, vào thành Vesali để khất thực. Tôn giả Sariputta nghe Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi nói như sau trong hội chúng ở Vesali: “Sa- môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm và thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Rồi Tôn giả Sariputta khất thực xong, sau khi ăn và đi khất thực trở về đến chỗ ở Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong hội chúng Vesali: "“Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân… (như trên)… diệt tận khổ đau”.

"Này Sāriputta, Sunakkhatta là một kẻ rỗng tuếch, hay tức giận. Và chính do tức giận mà người ấy nói ra những lời này. Này Sāriputta, kẻ rỗng tuếch Sunakkhatta nghĩ rằng: ‘Ta sẽ nói lời chê bai’, nhưng thực chất người ấy lại đang nói lời ca ngợi Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgatassa). Này Sāriputta, đó là lời ca ngợi Người Đến Như Vậy khi có ai nói rằng: ‘Và Điều dạy ấy được thuyết giảng vì mục đích gì, nó dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.’

Này Sāriputta, kẻ rỗng tuếch Sunakkhatta không nhận thức đúng Điều (đúng pháp/dhammanvaya) này về con người của Ta: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Người Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh Đẳng Giác / sammāsambuddho), đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu biết thế gian, bậc vô thượng điều ngự những người đáng được điều ngự, bậc thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn.’

Này Sāriputta, kẻ rỗng tuếch Sunakkhatta không nhận thức đúng Điều này về con người của Ta: ‘Vị Thế Tôn ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông — từ một hóa thành nhiều, từ nhiều hóa thành một; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua tường, qua vách, qua núi mà không bị cản trở như đi trong không gian; lặn hụp dưới đất như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất; ngồi kiết già bay trong không gian như loài chim có cánh; chạm và xoa bóp mặt trăng và mặt trời bằng tay, những vật có thần lực lớn, uy lực lớn như vậy; vươn quyền lực của thân cho đến tận cõi Phạm thiên.’

Này Sāriputta, kẻ rỗng tuếch Sunakkhatta không nhận thức đúng Điều này về con người của Ta: ‘Vị Thế Tôn ấy với tai thần (thiên nhĩ / dibbāya sotadhātuyā) thanh tịnh, vượt quá mức con người, nghe được cả hai loại âm thanh — của chư thiên và loài người, dù ở xa hay ở gần.’

Này Sāriputta, kẻ rỗng tuếch Sunakkhatta không nhận thức đúng Điều này về con người của Ta: ‘Vị Thế Tôn ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) tâm của các chúng sinh khác, các cá nhân khác bằng tâm của mình — tâm có đắm nhiễm (tham / rāga) thì thấy rõ là tâm có đắm nhiễm, tâm không có đắm nhiễm thì thấy rõ là tâm không có đắm nhiễm; tâm có ám ảnh khó chịu (sân / dosa) thì thấy rõ là tâm có ám ảnh khó chịu, tâm không có ám ảnh khó chịu thì thấy rõ là tâm không có ám ảnh khó chịu; tâm có sự u mê (si / moha) thì thấy rõ là tâm có sự u mê, tâm không có sự u mê thì thấy rõ là tâm không có sự u mê; tâm thu lại thì thấy rõ là tâm thu lại, tâm phân tán thì thấy rõ là tâm phân tán; tâm mở rộng thì thấy rõ là tâm mở rộng, tâm không mở rộng thì thấy rõ là tâm không mở rộng; tâm có cái cao hơn thì thấy rõ là tâm có cái cao hơn, tâm không có cái cao hơn thì thấy rõ là tâm không có cái cao hơn; tâm có Định thì thấy rõ là tâm có Định, tâm không có Định thì thấy rõ là tâm không có Định; tâm giải thoát thì thấy rõ là tâm giải thoát, tâm không giải thoát thì thấy rõ là tâm không giải thoát.’

– Này Sariputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Này Sariputta, Ông ta nghĩ: “Ta sẽ nói xấu”. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sariputta, ai nói như sau là tán thán Như Lai: “Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn, vị đã chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua thành, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên”. Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp này về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham. Hay tâm không tham biết là tâm không tham… tâm chuyên chú… tâm tán loạn… đại hành tâm… không phải đại hành tâm… tâm chưa vô thượng… tâm vô thượng… Tâm Thiền định… Tâm không Thiền định… tâm giải thoát… tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”. Vị ấy biết như vậy.

Này Sāriputta, có mười những sức mạnh của Người Đến Như Vậy (mười lực Như Lai / dasa tathāgatabalāni) này của Người Đến Như Vậy, nhờ được trang bị những sức mạnh này, Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu (ngưu vương / āsabhaṁ ṭhānaṁ), rống tiếng rống của sư tử (sư tử hống / sīhanādaṁ) giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý (phạm luân / brahmacakkaṁ). Mười sức mạnh đó là gì?

(1) Ở đây, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật nguyên nhân đúng là nguyên nhân, và không phải nguyên nhân là không phải nguyên nhân. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật nguyên nhân đúng là nguyên nhân, và không phải nguyên nhân là không phải nguyên nhân, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(2) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật kết quả (dị thục / vipāka) của việc nhận lấy các hành động (nghiệp / kamma) trong quá khứ, tương lai và hiện tại, theo nguyên nhân và điều kiện. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật kết quả của việc nhận lấy các hành động trong quá khứ, tương lai và hiện tại, theo nguyên nhân và điều kiện, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(3) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật con đường dẫn đến mọi nơi. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật con đường dẫn đến mọi nơi, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(4) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật thế giới có nhiều đặc tính, các đặc tính khác nhau. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật thế giới có nhiều đặc tính, các đặc tính khác nhau, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(5) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật sự khác biệt về khuynh hướng tâm lý (thiên hướng / dhimuttikata) của các chúng sinh. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật sự khác biệt về khuynh hướng tâm lý của các chúng sinh, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(6) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật mức độ nhạy bén của các năng lực tinh thần (căn cơ cao thấp / indriyaparopariyatta) của các chúng sinh khác, các cá nhân khác. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật mức độ nhạy bén của các năng lực tinh thần của các chúng sinh khác, các cá nhân khác, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(7) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật sự vẩn đục, sự làm sạch và sự thoát ra (nhiễm ô, thanh tịnh, xuất khởi / saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ) của các trạng thái Thiền-na (thiền / jhāna), sự giải thoát, Định, và các trạng thái đạt được. Việc Người Đến Như Vậy thấy rõ đúng như thật sự vẩn đục, sự làm sạch và sự thoát ra của các trạng thái Thiền-na, sự giải thoát, Định, và các trạng thái đạt được, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(8) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ (túc mạng / pubbenivāsa), một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng dõi như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc (lạc / sukha) và đau khổ (khổ / dukkha) như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta tái sinh ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng dõi như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta tái sinh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các chi tiết và bối cảnh. Việc Người Đến Như Vậy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời […lặp lại…] cùng với các chi tiết và bối cảnh, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(9) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá mức con người, nhìn thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, đến cõi tốt đẹp và cõi tồi tệ; vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo hành động của họ: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành vi xấu xa về thân, hành vi xấu xa về lời nói, hành vi xấu xa về ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi), và hành động theo quan điểm sai; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này có hành vi tốt đẹp về thân, hành vi tốt đẹp về lời nói, hành vi tốt đẹp về ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), và hành động theo Nhìn thấy Thiện; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới.’ Như vậy, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, vị ấy nhìn thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, đến cõi tốt đẹp và cõi tồi tệ; vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo hành động của họ. Việc Người Đến Như Vậy với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, nhìn thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh… […lặp lại…] vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo hành động của họ, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

(10) Lại nữa, này Sāriputta, Người Đến Như Vậy do sự cạn kiệt (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) và đạt đến sự giải thoát của tâm (tâm giải thoát / cetovimutti), sự giải thoát qua hiểu biết (tuệ giải thoát / paññāvimutti) không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó. Việc Người Đến Như Vậy do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó, này Sāriputta, đây là một sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ sức mạnh này Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

Này Sāriputta, đây là mười sức mạnh của Người Đến Như Vậy, nhờ được trang bị những sức mạnh này, Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

Này Sāriputta, ai nói về ta, người biết như vậy, thấy như vậy rằng: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ (đoạn trừ / appahāya) lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào. Này Sāriputta, giống như một tỳ kheo có đầy đủ đạo đức, đầy đủ Định, đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc (trí tuệ / paññā) có thể đạt được kết quả ngay trong hiện tại; ta nói rằng sự việc này cũng chắc chắn như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào.

(Mười lực của Như Lai)

Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười?

(1) Ở đây, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ (Tri thị xứ phi xứ lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, và chuyển Phạm luân.

(2) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (Tri tam thế nghiệp báo lực.) Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(3) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri con đường đưa đến tất cả cảnh giới (Tri nhứt thiết đạo trí lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(4) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt (Tri thế gian chủng chủng tánh lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(5) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri chí hướng sai biệt của các loại hữu tình (Tri tha chúng sanh chưởng chưởng dục lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri … chuyển Phạm luân.

(6) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri những căn thượng hạ của các loài hữu tình, loài Người (Tri tha chúng sanh chư căn thượng hạ lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(7) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền, chứng về Thiền, về giải thoát, về định (Tri chư Thiền tam muội lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(8) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Ngài nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(9) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(10) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc tự mình chứng tri, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực. Chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, như Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu Thiền định, thành tựu trí tuệ có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

Này Sāriputta, có bốn sự tự tin tuyệt đối (vô sở úy / vesārajjāni) này của Người Đến Như Vậy, nhờ được trang bị những sự tự tin này, Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý. Bốn điều đó là gì?

‘Ông tự nhận là Người Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn, nhưng những Điều này ông chưa giác ngộ.’ Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai ở đời có thể chỉ trích ta một cách hợp pháp về điều này. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

‘Ông tự nhận là người hết sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava), nhưng những nguồn ác này của ông chưa hoàn toàn cạn kiệt.’ Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai ở đời có thể chỉ trích ta một cách hợp pháp về điều này. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

‘Những Điều mà ông gọi là chướng ngại, khi một người thực hành chúng, chúng không thực sự là chướng ngại.’ Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai ở đời có thể chỉ trích ta một cách hợp pháp về điều này. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

‘Và Điều dạy ấy được ông thuyết giảng vì mục đích gì, nó không dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.’ Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai ở đời có thể chỉ trích ta một cách hợp pháp về điều này. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

Này Sāriputta, đây là bốn sự tự tin tuyệt đối của Người Đến Như Vậy, nhờ được trang bị những sự tự tin này, Người Đến Như Vậy xác nhận vị trí dẫn đầu, rống tiếng rống của sư tử giữa các hội chúng, và vận chuyển bánh xe chân lý.

Này Sāriputta, ai nói về ta, người biết như vậy, thấy như vậy rằng: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào. Này Sāriputta, giống như một tỳ kheo có đầy đủ đạo đức, đầy đủ Định, đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc có thể đạt được kết quả ngay trong hiện tại; ta nói rằng sự việc này cũng chắc chắn như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào.

(Bốn pháp vô sở úy)

Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là bốn?

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì, một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quý vị tự xưng đã chứng ngộ hoàn toàn”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì… có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ”. Này Sariputta, vì Ta không thấy… đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì… có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp khi được thực hành thời không có gì gọi là chướng ngại pháp cả”. Này Sariputta, vì Ta không thấy… đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy, chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa

vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

Này Sāriputta, có tám hội chúng này. Tám hội chúng nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng Gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng Tứ Thiên Vương, hội chúng Đao Lợi, hội chúng Ma vương, hội chúng Phạm thiên — này Sāriputta, đây là tám hội chúng. Này Sāriputta, nhờ được trang bị bốn sự tự tin tuyệt đối này, Người Đến Như Vậy đi đến và thâm nhập vào tám hội chúng này. Này Sāriputta, ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đó, ta đã từng ngồi cùng họ, từng nói chuyện với họ, và từng tham gia thảo luận với họ. Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự sợ hãi hay sự rụt rè sẽ xâm chiếm ta tại đó. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

Này Sāriputta, ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Bà-la-môn […lặp lại…] hội chúng Gia chủ… hội chúng Sa-môn… hội chúng Tứ Thiên Vương… hội chúng Đao Lợi… hội chúng Ma vương… hội chúng Phạm thiên. Tại đó, ta đã từng ngồi cùng họ, từng nói chuyện với họ, và từng tham gia thảo luận với họ. Ta không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự sợ hãi hay sự rụt rè sẽ xâm chiếm ta tại đó. Này Sāriputta, vì không thấy dấu hiệu này, ta sống đạt được sự an toàn, đạt được sự không sợ hãi, đạt được sự tự tin tuyệt đối.

Này Sāriputta, ai nói về ta, người biết như vậy, thấy như vậy rằng: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào. Này Sāriputta, giống như một tỳ kheo có đầy đủ đạo đức, đầy đủ Định, đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc có thể đạt được kết quả ngay trong hiện tại; ta nói rằng sự việc này cũng chắc chắn như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào.

(Tám hội chúng)

Này Sariputta, có tám Hội chúng này: Hội chúng Sát-đế-lị, Hội chúng Bà-la-môn, Hội chúng Gia chủ, Hội chúng Sa-môn, Hội chúng Tứ thiên vương, Hội chúng Tam thập tam thiên, Hội chúng Màra, Hội chúng Phạm thiên. Này Sariputta, có tám Hội chúng này. Này Sariputta, Như Lai thành tựu bốn pháp vô sở úy như vậy, đến gần và vào tám Hội chúng này.

Này Sariputta, Ta nhớ lại Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Sát-đế-lị. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận; này Sariputta, ta thấy không có lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta nhớ lại, Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Bà-la-môn… (như trên)… Hội chúng Gia chủ… Hội chúng Sa-môn… Hội chúng Tứ thiên vương… Hội chúng Tam thập tam thiên… Hội chúng Màra… Hội chúng Phạm thiên. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận, này Sariputta, Ta thấy không có một lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

Này Sāriputta, có bốn loại sinh này. Bốn loại nào? Sinh từ trứng, sinh từ thai, sinh từ nơi ẩm ướt, sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātikā).

Và này Sāriputta, thế nào là sinh từ trứng? Này Sāriputta, những chúng sinh nào phá vỡ vỏ trứng mà sinh ra — này Sāriputta, đây gọi là sinh từ trứng. Và này Sāriputta, thế nào là sinh từ thai? Này Sāriputta, những chúng sinh nào phá vỡ màng thai mà sinh ra — này Sāriputta, đây gọi là sinh từ thai. Và này Sāriputta, thế nào là sinh từ nơi ẩm ướt? Này Sāriputta, những chúng sinh nào sinh ra trong cá ươn, hoặc sinh ra trong xác chết thối, hoặc trong cháo thối, hoặc trong vũng nước đọng, hoặc trong cống rãnh — này Sāriputta, đây gọi là sinh từ nơi ẩm ướt. Và này Sāriputta, thế nào là sinh ra tự nhiên? Chư thiên, chúng sinh ở địa ngục, một số con người, và một số chúng sinh ở cõi đọa đày — này Sāriputta, đây gọi là sinh ra tự nhiên. Này Sāriputta, đây là bốn loại sinh.

Này Sāriputta, ai nói về ta, người biết như vậy, thấy như vậy rằng: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào. Này Sāriputta, giống như một tỳ kheo có đầy đủ đạo đức, đầy đủ Định, đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc có thể đạt được kết quả ngay trong hiện tại; ta nói rằng sự việc này cũng chắc chắn như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào.

(Bốn loại sanh)

Này Sariputta, có bốn loại sanh. Thế nào là bốn? Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.

Này Sariputta, thế nào là noãn sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào phá vỏ trứng, mà sanh, này Sariputta như vậy gọi là noãn sanh. Và này Sariputta, thế nào là thai sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào phá màn da mỏng che chỗ kín mà sanh, này Sariputta, như vậy gọi là thai sanh. Và này Sariputta, thế nào là thấp sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào sanh ra từ cá thúi, từ xác chết thúi, từ cháo cơm thúi, hay trong hồ nước dơ hay trong ao nước nhớp. Này Sariputta, như vậy gọi là thấp sanh. Và này Sariputta, thế nào là hóa sanh? Chư Thiên, các chúng sanh ở địa ngục, một số thuộc loài người và một số thuộc đọa xứ. Này Sariputta, như vậy gọi là hóa sanh.

Này Sariputta có bốn loại sanh như vậy. Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

Này Sāriputta, có năm cõi giới này. Năm cõi nào? Địa ngục, loài vật, cõi ngạ quỷ, loài người, chư thiên.

Này Sāriputta, ta thấy rõ địa ngục, con đường dẫn đến địa ngục, và phương pháp thực hành dẫn đến địa ngục; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục. Này Sāriputta, ta thấy rõ loài vật, con đường dẫn đến loài vật, và phương pháp thực hành dẫn đến loài vật; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào loài vật. Này Sāriputta, ta thấy rõ cõi ngạ quỷ, con đường dẫn đến cõi ngạ quỷ, và phương pháp thực hành dẫn đến cõi ngạ quỷ; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi ngạ quỷ. Này Sāriputta, ta thấy rõ loài người, con đường dẫn đến thế giới loài người, và phương pháp thực hành dẫn đến thế giới loài người; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào loài người. Này Sāriputta, ta thấy rõ chư thiên, con đường dẫn đến thế giới chư thiên, và phương pháp thực hành dẫn đến thế giới chư thiên; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới. Này Sāriputta, ta thấy rõ Niết-bàn, con đường dẫn đến Niết-bàn, và phương pháp thực hành dẫn đến Niết-bàn; và ta thấy rõ cách một người thực hành như thế nào để do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó.

(Năm sanh thú và Niết bàn)

Này Sariputta, có năm loại sanh thú này. Thế nào là năm? Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên.

(1) Này Sariputta, Ta tuệ tri địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và hành lộ đưa đến địa ngục. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, sự việc này ta cũng tuệ tri.

(2) Và này Sariputta, Ta tuệ tri bàng sanh, con đường đưa đến bàng sanh và hành lộ đưa đến bàng sanh. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào bàng sanh, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(3) Và này Sariputta, Ta tuệ tri ngạ quỷ, con đường đưa đến ngạ quỷ và hành lộ đưa đến ngạ quỷ. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ngạ quỷ, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(4) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri loài Người, con đường đưa đến thế giới loài Người và hành lộ đưa đến thế giới loài Người. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào loài Người, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(5) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri chư Thiên, con đường đưa đến Thiên giới và hành lộ đưa đến Thiên giới. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, thế giới này, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, Ta cũng tuệ tri.

Ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục, đang trải qua những cảm giác (thọ / vedanā) hoàn toàn đau khổ, khốc liệt, cay đắng. Này Sāriputta, giống như một hố than hồng sâu hơn chiều cao một người, đầy những hòn than không có ngọn lửa, không có khói. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính hố than hồng đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng vào chính hố than hồng này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy rơi vào hố than hồng đó, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn đau khổ, khốc liệt, cay đắng.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi khốn khổ, cõi tồi tệ, cõi đọa đày, địa ngục, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn đau khổ, khốc liệt, cay đắng.

Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào loài vật. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào loài vật, đang trải qua những cảm giác đau khổ, khốc liệt, cay đắng. Này Sāriputta, giống như một hố phân sâu hơn chiều cao một người, đầy phân. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính hố phân đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng vào chính hố phân này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy rơi vào hố phân đó, đang trải qua những cảm giác đau khổ, khốc liệt, cay đắng.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào loài vật. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào loài vật, đang trải qua những cảm giác đau khổ, khốc liệt, cay đắng.

Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi ngạ quỷ. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ, đang trải qua những cảm giác phần lớn là đau khổ. Này Sāriputta, giống như một cái cây mọc trên vùng đất gồ ghề, lá thưa thớt, bóng râm lốm đốm. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính cái cây đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng đến chính cái cây này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy đang ngồi hoặc nằm dưới bóng râm của cái cây đó, đang trải qua những cảm giác phần lớn là đau khổ.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi ngạ quỷ. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ, đang trải qua những cảm giác phần lớn là đau khổ.

Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào loài người. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào loài người, đang trải qua những cảm giác phần lớn là hạnh phúc (lạc / sukha). Này Sāriputta, giống như một cái cây mọc trên vùng đất bằng phẳng, cành lá sum suê, bóng râm dày đặc. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính cái cây đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng đến chính cái cây này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy đang ngồi hoặc nằm dưới bóng râm của cái cây đó, đang trải qua những cảm giác phần lớn là hạnh phúc.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào loài người. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào loài người, đang trải qua những cảm giác phần lớn là hạnh phúc.

Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới.’ Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc. Này Sāriputta, giống như một tòa lâu đài, trong đó có một căn phòng trên gác được trát vách trong ngoài, kín gió, cửa đóng chặt, cửa sổ khép kín. Trong đó có một chiếc giường trải thảm lông dài, thảm len trắng, thảm thêu hoa, trải da linh dương cao cấp, có mái che phía trên, có gối đỏ hai đầu. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính tòa lâu đài đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng đến chính tòa lâu đài này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy đang ngồi hoặc nằm trong tòa lâu đài đó, trong căn phòng trên gác đó, trên chiếc giường đó, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới. Vào một thời gian sau, với mắt thần thanh tịnh, vượt quá mức con người, ta nhìn thấy người ấy sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới thiên giới, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc.

Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này — người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó. Vào một thời gian sau, ta nhìn thấy người ấy do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc. Này Sāriputta, giống như một hồ sen có nước trong trẻo, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bờ hồ thoai thoải, phong cảnh tuyệt đẹp. Gần đó có một khu rừng rậm rạp. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước, đi thẳng bằng một con đường trực tiếp hướng đến chính hồ sen đó. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói như vầy: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho người ấy sẽ đi thẳng đến chính hồ sen này.’ Vào một thời gian sau, người kia nhìn thấy người ấy đã lội xuống hồ sen đó, tắm rửa, uống nước, làm dịu đi mọi sự mệt nhọc, kiệt sức và nóng bức, rồi bước lên và ngồi hoặc nằm trong khu rừng đó, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc.

Đúng như vậy, này Sāriputta, ta thấy rõ tâm của một người nào đó bằng tâm của mình như thế này: ‘Người này đang thực hành như vậy, đang cư xử như vậy, và đã bước lên con đường như vậy, sao cho do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó.’ Vào một thời gian sau, ta nhìn thấy người ấy do sự cạn kiệt các nguồn ác, tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến sự giải thoát của tâm, sự giải thoát qua hiểu biết không còn nguồn ác ngay trong hiện tại, và an trú trong đó, đang trải qua những cảm giác hoàn toàn hạnh phúc. Này Sāriputta, đây là năm cõi giới.

Này Sāriputta, ai nói về ta, người biết như vậy, thấy như vậy rằng: ‘Sa-môn Gotama không có những trạng thái vượt quá mức người thường, không có khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng Điều dạy được đúc kết qua suy luận logic, được hình thành qua sự dò xét, tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào. Này Sāriputta, giống như một tỳ kheo có đầy đủ đạo đức, đầy đủ Định, đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc có thể đạt được kết quả ngay trong hiện tại; ta nói rằng sự việc này cũng chắc chắn như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm đó, không buông bỏ quan điểm sai đó, thì người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như một vật được mang đến đặt vào.

(1) Này Sariputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có lửa ngọn, không có khói, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi khô cổ, đắng họng, khát nước, và đi thẳng đến hố than ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy, có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố than kia”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố than ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt.

(2) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào bàng sanh”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy kẻ ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào bàng sanh, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố phân, sâu hơn thân người, đầy những phẩn uế, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hố phân ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố phân ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố phân ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta… (như trên)… thống khổ, khốc liệt.

(3) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào ngạ quỷ, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt”. Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất không bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa. Và một người đi đến bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con

đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy ở đây với tâm của Ta… (như trên)… thống khổ, khốc liệt.

(4) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta biết tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào loài người”. Sau một thời gian… Ta thấy người ấy sanh vào loài người, và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây rậm rạp. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ của người này như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây, với tâm của Ta… được nhiều cảm giác lạc thọ.

(5) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Sau một thời gian… Ta thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một ngôi lầu, có gác nhọn, có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến ngôi lầu ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến ngôi lầu ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm trong ngôi lầu ấy, trong gác nhọn ấy, trên sàng tọa ấy và cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta… được nhiều cảm giác lạc thọ.

(6) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, và không xa hồ ấy có khu rừng rậm rạp. Một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hồ sen ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hồ sen ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, sau khi tẩm mình vào hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước và làm cho dịu bớt mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, sau khi ra khỏi hồ liền qua ngồi hay nằm trong rừng cây rậm rạp ấy và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Cũng vậy, này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.

Này Sariputta, năm loại này là năm sanh thú. Này Sariputta, có ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, và nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuộc trắc nghiệm”. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu thiền định, thành tựu trí tuệ, có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

Này Sāriputta, ta nhớ lại đã từng sống đời sống phạm hạnh có đủ bốn yếu tố — ta đã từng là người tu khổ hạnh, tu khổ hạnh tột bậc; ta đã từng là người sống thô ráp, sống thô ráp tột bậc; ta đã từng là người cẩn trọng, cẩn trọng tột bậc; ta đã từng là người sống tách biệt, sống tách biệt tột bậc.

Này Sāriputta, đây là sự tu khổ hạnh của ta — ta sống trần truồng, phóng uế bừa bãi, liếm tay cho sạch; ta không nhận thức ăn từ người nói “Mời ngài đến”, không nhận thức ăn từ người nói “Mời ngài đứng lại”; ta không nhận thức ăn mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời ăn. Ta không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng chảo, không nhận thức ăn qua ngưỡng cửa, không nhận thức ăn qua cây gậy, không nhận thức ăn qua cối giã gạo, không nhận thức ăn từ hai người đang ăn, không nhận thức ăn từ phụ nữ có thai, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận thức ăn từ nơi phân phát thức ăn, không nhận thức ăn từ nơi có chó đứng chờ, không nhận thức ăn từ nơi có ruồi bu bầy đàn; ta không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống rượu lên men, không uống nước cám. Ta chỉ nhận thức ăn từ một nhà và ăn một miếng, hoặc nhận thức ăn từ hai nhà và ăn hai miếng […lặp lại…] hoặc nhận thức ăn từ bảy nhà và ăn bảy miếng; ta sống bằng một bát nhỏ, sống bằng hai bát nhỏ […lặp lại…] sống bằng bảy bát nhỏ; ta ăn một ngày một lần, ăn hai ngày một lần […lặp lại…] ăn bảy ngày một lần; như vậy, ta sống chuyên tâm vào việc ăn thức ăn theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần.

Ta ăn rau cỏ, hoặc ăn lúa hoang, hoặc ăn lúa nếp hoang, hoặc ăn da vụn, hoặc ăn rêu, hoặc ăn cám, hoặc ăn váng cháo, hoặc ăn bã vừng, hoặc ăn cỏ, hoặc ăn phân bò, ta sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn những trái cây tự rụng.

Ta mặc y bằng gai thô, mặc y bằng vải pha gai, mặc y bằng vải bọc tử thi, mặc y bằng giẻ rách nhặt từ đống rác, mặc y bằng vỏ cây, mặc y bằng da linh dương, mặc y bằng da linh dương có cả móng, mặc y bằng cỏ kusa, mặc y bằng dải vỏ cây, mặc y bằng những mảnh gỗ, mặc y bằng chăn bện tóc người, mặc y bằng chăn bện lông đuôi ngựa, mặc y bằng lông chim cú; ta nhổ tóc và râu, chuyên tâm vào việc nhổ tóc và râu; ta đứng liên tục, từ chối chỗ ngồi; ta ngồi xổm, chuyên tâm vào nỗ lực ngồi xổm; ta nằm trên giường gai, dọn chỗ nằm trên giường gai; ta chuyên tâm vào việc xuống nước tắm ba lần mỗi ngày, kể cả buổi tối — như vậy, ta sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ và thiêu đốt cơ thể. Này Sāriputta, đây là sự tu khổ hạnh của ta.

Này Sāriputta, đây là sự sống thô ráp của ta — bụi bẩn tích tụ trên cơ thể ta trong nhiều năm đóng thành lớp vảy. Này Sāriputta, giống như một gốc cây tinduka tích tụ bụi bẩn trong nhiều năm đóng thành lớp vảy, đúng như vậy, này Sāriputta, bụi bẩn tích tụ trên cơ thể ta trong nhiều năm đóng thành lớp vảy. Này Sāriputta, ta chưa bao giờ có ý nghĩ: ‘Ôi, ước gì ta có thể dùng tay chà xát lớp bụi bẩn này, hoặc ước gì người khác dùng tay chà xát lớp bụi bẩn này cho ta.’ Này Sāriputta, ta không hề có ý nghĩ như vậy. Này Sāriputta, đây là sự sống thô ráp của ta.

Này Sāriputta, đây là sự cẩn trọng của ta — này Sāriputta, ta luôn tập trung chú ý (chánh niệm / sato) khi bước tới, luôn tập trung chú ý khi bước lui, lòng thương xót của ta hiện diện ngay cả đối với một giọt nước: ‘Mong sao ta không gây tổn hại đến những sinh vật nhỏ bé đi lạc vào những nơi không bằng phẳng.’ Này Sāriputta, đây là sự cẩn trọng của ta.

Này Sāriputta, đây là sự sống tách biệt của ta — này Sāriputta, ta đi sâu vào một khu rừng và sống ở đó. Khi ta nhìn thấy một người chăn bò, hoặc người chăn súc vật, hoặc người cắt cỏ, hoặc người nhặt củi, hoặc người làm việc trong rừng, ta liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ đồi cao này sang đồi cao khác. Vì lý do gì? Để họ không nhìn thấy ta, và ta không nhìn thấy họ. Này Sāriputta, giống như một con nai rừng khi nhìn thấy con người liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ đồi cao này sang đồi cao khác; đúng như vậy, này Sāriputta, khi ta nhìn thấy một người chăn bò, hoặc người chăn súc vật, hoặc người cắt cỏ, hoặc người nhặt củi, hoặc người làm việc trong rừng, ta liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ đồi cao này sang đồi cao khác. Vì lý do gì? Để họ không nhìn thấy ta, và ta không nhìn thấy họ. Này Sāriputta, đây là sự sống tách biệt của ta.

Này Sāriputta, ta đi bằng bốn chân đến những chuồng bò mà đàn bò đã rời đi và người chăn bò đã đi khỏi, và ta ăn phân của những con bê non, những con bò đang bú. Và này Sāriputta, chừng nào nước tiểu và phân của chính ta chưa cạn kiệt, ta ăn chính nước tiểu và phân của mình. Này Sāriputta, đây là sự ăn uống cực kỳ gớm ghiếc của ta.

Này Sāriputta, ta đi sâu vào một khu rừng đáng sợ và sống ở đó. Này Sāriputta, sự đáng sợ của khu rừng đáng sợ đó là như thế này — bất kỳ ai chưa cạn hết đắm nhiễm mà đi vào khu rừng đó, phần lớn đều bị dựng tóc gáy. Này Sāriputta, trong những đêm mùa đông lạnh giá, vào thời kỳ giữa tám ngày có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, ta sống ngoài trời vào ban đêm, và sống trong rừng vào ban ngày; vào tháng cuối cùng của mùa hè, ta sống ngoài trời vào ban ngày, và sống trong rừng vào ban đêm. Này Sāriputta, bài kệ chưa từng được nghe trước đây này, một cách tự nhiên, đã hiện lên trong ta:

Nóng bức và lạnh buốt,
Một mình giữa rừng sâu,
Trần truồng không lửa sưởi,
Mâu-ni mải tìm cầu.

Này Sāriputta, ta dọn chỗ nằm trong bãi tha ma, gối đầu lên những khúc xương người chết. Này Sāriputta, những đứa trẻ chăn bò đi đến, khạc nhổ vào ta, tiểu tiện lên ta, ném đất vào ta, và nhét que củi vào lỗ tai ta. Nhưng này Sāriputta, ta không nhớ đã từng khởi lên một ý nghĩ ác nào đối với chúng. Này Sāriputta, đây là sự an trú trong tâm quân bình (xả / upekkhā) của ta.

(Khổ hạnh của Bồ-tát)

Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.

Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau: Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng. Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc, Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chỏ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chỏ hỏ. Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.

Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: “Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta”. Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.

Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: “Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!” Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.

Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi

cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta.

Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.

Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghesau đây được khởi lên:

Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.

Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ thức ăn.’ Họ nói như vầy: ‘Chúng ta hãy sống bằng trái táo ta (kola).’ Họ ăn trái táo ta, ăn bột táo ta, uống nước táo ta — họ tiêu thụ nhiều loại thức ăn làm từ trái táo ta. Này Sāriputta, ta nhớ lại đã từng ăn chỉ một trái táo ta làm thức ăn. Này Sāriputta, có thể ông nghĩ rằng: ‘Chắc hẳn trái táo ta vào thời đó rất lớn.’ Này Sāriputta, không nên nhìn nhận điều đó như vậy. Trái táo ta vào thời đó cũng chỉ lớn bằng trái táo ta bây giờ. Này Sāriputta, do ta chỉ ăn một trái táo ta làm thức ăn, cơ thể ta trở nên gầy gò tột độ. Giống như những đốt cây leo āsītika hay cây leo kāḷa; đúng như vậy, tay chân ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như móng chân lạc đà; đúng như vậy, mông của ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như một chuỗi hạt; đúng như vậy, xương sống của ta nhô lên lõm xuống như thế do ăn quá ít. Giống như những thanh rui của một ngôi nhà hoang tàn bị gãy gập, xiêu vẹo; đúng như vậy, các xương sườn của ta gãy gập, xiêu vẹo như thế do ăn quá ít. Giống như trong một giếng nước sâu, những vì sao phản chiếu dưới nước trông sâu thẳm, chìm nghỉm; đúng như vậy, trong hốc mắt của ta, con ngươi trông sâu thẳm, chìm nghỉm như thế do ăn quá ít. Giống như một quả bầu đắng bị cắt khi còn xanh, bị gió và nắng làm nứt nẻ, héo rũ; đúng như vậy, da đầu của ta nứt nẻ, héo rũ như thế do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ da bụng’, thì ta nắm trúng xương sống; khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ xương sống’, thì ta nắm trúng da bụng. Này Sāriputta, da bụng của ta dính sát vào xương sống như thế do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hay tiểu tiện’, ta liền ngã úp mặt xuống đất ngay tại chỗ do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta xoa bóp tay chân để xoa dịu cơ thể, thì này Sāriputta, khi ta xoa bóp tay chân, những sợi lông với gốc rễ thối rữa rụng lả tả khỏi cơ thể do ăn quá ít.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ thức ăn.’ Họ nói như vầy: ‘Chúng ta hãy sống bằng hạt đậu xanh […lặp lại…] sống bằng hạt vừng […lặp lại…] sống bằng hạt gạo.’ Họ ăn hạt gạo, ăn bột gạo, uống nước gạo — họ tiêu thụ nhiều loại thức ăn làm từ hạt gạo. Này Sāriputta, ta nhớ lại đã từng ăn chỉ một hạt gạo làm thức ăn. Này Sāriputta, có thể ông nghĩ rằng: ‘Chắc hẳn hạt gạo vào thời đó rất lớn.’ Này Sāriputta, không nên nhìn nhận điều đó như vậy. Hạt gạo vào thời đó cũng chỉ lớn bằng hạt gạo bây giờ. Này Sāriputta, do ta chỉ ăn một hạt gạo làm thức ăn, cơ thể ta trở nên gầy gò tột độ. Giống như những đốt cây leo āsītika hay cây leo kāḷa; đúng như vậy, tay chân ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như móng chân lạc đà; đúng như vậy, mông của ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như một chuỗi hạt; đúng như vậy, xương sống của ta nhô lên lõm xuống như thế do ăn quá ít. Giống như những thanh rui của một ngôi nhà hoang tàn bị gãy gập, xiêu vẹo; đúng như vậy, các xương sườn của ta gãy gập, xiêu vẹo như thế do ăn quá ít. Giống như trong một giếng nước sâu, những vì sao phản chiếu dưới nước trông sâu thẳm, chìm nghỉm; đúng như vậy, trong hốc mắt của ta, con ngươi trông sâu thẳm, chìm nghỉm như thế do ăn quá ít. Giống như một quả bầu đắng bị cắt khi còn xanh, bị gió và nắng làm nứt nẻ, héo rũ; đúng như vậy, da đầu của ta nứt nẻ, héo rũ như thế do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ da bụng’, thì ta nắm trúng xương sống; khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ xương sống’, thì ta nắm trúng da bụng. Này Sāriputta, da bụng của ta dính sát vào xương sống như thế do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hay tiểu tiện’, ta liền ngã úp mặt xuống đất ngay tại chỗ do ăn quá ít. Này Sāriputta, khi ta xoa bóp tay chân để xoa dịu cơ thể, thì này Sāriputta, khi ta xoa bóp tay chân, những sợi lông với gốc rễ thối rữa rụng lả tả khỏi cơ thể do ăn quá ít.

Này Sāriputta, dù với tư thế ấy, sự thực hành ấy, sự khổ hạnh cực đoan ấy, ta vẫn không đạt được những trạng thái vượt quá mức người thường, không đạt được khả năng thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh. Vì sao? Vì không đạt được sự hiểu biết sâu sắc (trí tuệ / paññā) thuộc về bậc thánh này, sự hiểu biết sâu sắc thuộc về bậc thánh đã đạt được này là con đường dẫn ra khỏi, nó dẫn người thực hành theo đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ luân hồi.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được một vòng luân hồi nào mà ta chưa từng trải qua trong thời gian dài dằng dặc này, ngoại trừ cõi chư thiên Tịnh Cư. Này Sāriputta, nếu ta luân hồi vào cõi chư thiên Tịnh Cư, ta sẽ không trở lại thế giới này nữa.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ tái sinh.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được một sự tái sinh nào mà ta chưa từng trải qua trong thời gian dài dằng dặc này, ngoại trừ cõi chư thiên Tịnh Cư. Này Sāriputta, nếu ta tái sinh vào cõi chư thiên Tịnh Cư, ta sẽ không trở lại thế giới này nữa.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ chỗ ở.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được một chỗ ở nào mà ta chưa từng ở trong thời gian dài dằng dặc này, ngoại trừ cõi chư thiên Tịnh Cư. Này Sāriputta, nếu ta ở tại cõi chư thiên Tịnh Cư, ta sẽ không trở lại thế giới này nữa.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ tế tự.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được một lễ tế tự nào mà ta chưa từng thực hiện trong thời gian dài dằng dặc này, dù là khi làm một vị vua Sát-đế-lỵ đã được làm lễ quán đảnh, hay làm một vị Bà-la-môn giàu có.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Sự thanh tịnh đạt được nhờ thờ lửa.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được một ngọn lửa nào mà ta chưa từng thờ phụng trong thời gian dài dằng dặc này, dù là khi làm một vị vua Sát-đế-lỵ đã được làm lễ quán đảnh, hay làm một vị Bà-la-môn giàu có.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ trái táo”, và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Trái táo thời ấy to lớn”. Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái táo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng” chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã qu?úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ đậu xanh… (như trên)… chúng ta sống nhờ vừng mè… (như trên)… chúng ta sống nhờ hột gạo”, và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Hột gạo thời ấy to lớn”. Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành

như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã qu? úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ luân hồi”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự luân hồi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên (Suddhavasa). Này Sariputta, nếu Ta luân hồi tại Tịnh cư thiên thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ sanh khởi”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự sanh khởi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sariputta, nếu Ta sanh khởi tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ an trú”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự an trú mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sariputta, nếu Ta an trú tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ tế tự”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự tế tự mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài khi ta-là vị vua Sát-đế-lị có làm lễ quán đảnh hay làm vị Bà-la-môn giàu có.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ thờ lửa”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự thờ lửa mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài, khi Ta là vị vua Sát-đế-l?có làm lễ quán đảnh, hay làm vị Bà-la-môn giàu có.

Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm như thế này, có quan điểm sai như thế này: ‘Chừng nào người này còn trẻ trung, thanh niên, tóc đen nhánh, được trang bị tuổi trẻ tươi đẹp, trong giai đoạn đầu của cuộc đời, thì chừng đó người ấy được trang bị sự nhạy bén tối cao của sự hiểu biết sâu sắc. Nhưng khi người này trở nên già yếu, cao tuổi, lão suy, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi, thì khi đó sự nhạy bén của sự hiểu biết sâu sắc ấy bị suy giảm.’ Này Sāriputta, không nên nhìn nhận điều đó như vậy. Này Sāriputta, hiện nay ta đã già yếu, cao tuổi, lão suy, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, tuổi của ta đã tám mươi. Này Sāriputta, giả sử ta có bốn đệ tử sống đến một trăm tuổi, có tuổi thọ một trăm năm, được trang bị trí nhớ tối cao, sự nhanh trí tối cao, sự kiên trì tối cao, và sự nhạy bén tối cao của sự hiểu biết sâu sắc. Này Sāriputta, giống như một cung thủ bắn cung mạnh mẽ, được huấn luyện tốt, tay nghề cao, thiện xạ, có thể dễ dàng bắn một mũi tên nhẹ xuyên qua bóng của một cây cọ mà không chút khó khăn; đúng như vậy, họ được trang bị trí nhớ tối cao, sự nhanh trí tối cao, sự kiên trì tối cao, và sự nhạy bén tối cao của sự hiểu biết sâu sắc. Nếu họ liên tục hỏi ta những câu hỏi về bốn nơi thiết lập sự chú tâm (tứ niệm xứ / catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ), và mỗi khi được hỏi, ta đều trả lời cho họ, và họ ghi nhớ những gì ta đã trả lời, không hỏi lại ta lần thứ hai. Ngoại trừ lúc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ lúc đi đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ lúc ngủ để xua tan sự mệt mỏi, thì này Sāriputta, sự thuyết giảng Điều dạy của Người Đến Như Vậy vẫn không cạn kiệt, các từ ngữ và câu văn trong Điều dạy của Người Đến Như Vậy vẫn không cạn kiệt, khả năng trả lời câu hỏi của Người Đến Như Vậy vẫn không cạn kiệt. Rồi bốn đệ tử đó của ta, sống đến một trăm tuổi, có tuổi thọ một trăm năm, sẽ qua đời sau một trăm năm. Này Sāriputta, ngay cả khi các ông phải khiêng ta trên một chiếc cáng, thì sự nhạy bén của sự hiểu biết sâu sắc của Người Đến Như Vậy vẫn không hề thay đổi.

Này Sāriputta, nếu có ai nói một cách đúng đắn rằng: ‘Một chúng sinh không có sự u mê đã xuất hiện ở đời vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương xót thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người’, thì người ấy phải nói về chính ta một cách đúng đắn rằng: ‘Một chúng sinh không có sự u mê đã xuất hiện ở đời vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương xót thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.’"

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgasamāla đang đứng phía sau Thế Tôn, quạt cho Thế Tôn. Rồi Tôn giả Nāgasamāla thưa với Thế Tôn điều này:

“Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, khi nghe Điều dạy này, tóc gáy con dựng đứng. Bạch Thế Tôn, Điều dạy này tên là gì?”

“Do đó, này Nāgasamāla, hãy ghi nhớ Điều dạy này là bài giảng làm dựng tóc gáy (pháp môn kinh sợ / lomahaṁsanapariyāyo).”

Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Nāgasamāla hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Sư Tử Hống Đại kết thúc, bài thứ hai.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ”. Này Sariputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sariputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươi. Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.

Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”. Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.

Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài! Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?

– Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là “Pháp môn Lông tóc dựng ngược”. Ông hãy như vậy thọ trì.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Nagasamala hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn.

-ooOoo-