Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 11. TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG

(Cūḷasīhanādasutta) Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy, một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, tại tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Chỉ ở đây, này các tỳ kheo, mới có người tu hành (sa-môn / samaṇo) thứ nhất, ở đây có người tu hành thứ hai, ở đây có người tu hành thứ ba, ở đây có người tu hành thứ tư; các học thuyết khác (tha đạo / parappavādā) đều trống rỗng những người tu hành khác. Này các tỳ kheo, các vị hãy rống lên tiếng rống của sư tử (sư tử hống / sīhanādaṁ) một cách đúng đắn như vậy.

MN 11. TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG

(Cùlasìhanàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo.” --“Bạch Thế Tôn,” những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết như sau:

– Này các Tỷ-kheo, chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn. Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy.

Này các tỳ kheo, có khả năng xảy ra trường hợp những du sĩ các nhóm khác sẽ nói như thế này: ‘Niềm tin vào đâu, mạnh mẽ như nào mà các tôn giả lại nói như vầy, chỉ ở đây mới có người tu hành thứ nhất, ở đây có người tu hành thứ hai, ở đây có người tu hành thứ ba, ở đây có người tu hành thứ tư; các học thuyết khác đều trống rỗng những người tu hành khác?’ Này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác nói như vậy cần được trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, có bốn Điều (pháp / dhammā) đã được Thế Tôn, bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, tuyên bố, mà khi chúng tôi tự mình quan sát thấy bên trong, chúng tôi nói như vầy, chỉ ở đây mới có người tu hành thứ nhất, ở đây có người tu hành thứ hai, ở đây có người tu hành thứ ba, ở đây có người tu hành thứ tư; các học thuyết khác đều trống rỗng những người tu hành khác. Bốn Điều nào? Này các hiền giả, chúng tôi có niềm tin tuyệt đối (tịnh tín / pasādo) vào bậc Đạo sư, có niềm tin tuyệt đối vào Điều dạy (pháp / dhamme), có sự thực hành trọn vẹn các nguyên tắc đạo đức; và những người cùng thực hành Điều dạy (đồng pháp / sahadhammikā) thì đáng yêu, đáng mến, cả những người tại gia lẫn những người xuất gia. Này các hiền giả, đây là bốn Điều đã được Thế Tôn, bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, tuyên bố, mà khi chúng tôi tự mình quan sát thấy bên trong, chúng tôi nói như vầy, chỉ ở đây mới có người tu hành thứ nhất, ở đây có người tu hành thứ hai, ở đây có người tu hành thứ ba, ở đây có người tu hành thứ tư; các học thuyết khác đều trống rỗng những người tu hành khác.’

Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra khi ở đây những Du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Chư Tôn giả có tin tưởng gì, có sức lực gì mà chư Tôn giả tuyên bố: ‘Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn’”. Này các Tỷ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: “Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: ‘Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất, ở đây là có Sa-môn thứ hai; Sa-môn thứ ba; Sa-môn thứ tư’. Thế nào là bốn? Chư Hiền, chúng tôi có lòng tin bậc Ðạo Sư, có lòng tin Pháp, có sự thành tựu viên mãn các Giới luật, và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người xuất gia, được chúng tôi thương, chúng tôi mến. Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: ‘Chỉ ở đây là Sa-môn… Sa-môn thứ tư’”.

Này các tỳ kheo, có khả năng xảy ra trường hợp tu sỹ đạo khác sẽ nói như thế này: ‘Này các hiền giả, chúng tôi cũng có niềm tin tuyệt đối vào bậc Đạo sư, người là Đạo sư của chúng tôi; chúng tôi cũng có niềm tin tuyệt đối vào Điều dạy, thứ là Điều dạy của chúng tôi; chúng tôi cũng thực hành trọn vẹn các nguyên tắc đạo đức, những gì là nguyên tắc đạo đức của chúng tôi; chúng tôi cũng có những người cùng thực hành Điều dạy đáng yêu, đáng mến, cả những người tại gia lẫn những người xuất gia. Này các hiền giả, ở đây có sự khác biệt nào, có chủ đích nào, có sự phân biệt nào giữa các vị và chúng tôi?’

Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra, khi ở đây, những Du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Chư Hiền, chúng tôi cũng có lòng tin bậc Ðạo Sư, vị ấy là Ðạo Sư của chúng tôi. Chúng tôi có lòng tin Pháp, Pháp ấy là Pháp của chúng tôi, chúng tôi thành tựu viên mãn các Giới luật, những Giới luật ấy là Giới luật của chúng tôi. Và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và cả những người xuất gia, được chúng tôi thương, được chúng tôi mến. Chư Hiền, như vậy có sự sai biệt gì, có sự đặc thù gì, có sự khác biệt gì giữa quý vị và chúng tôi?”.

Này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác nói như vậy cần được trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng (cứu cánh / niṭṭhā) là một, hay mục tiêu cuối cùng là nhiều?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng là một, mục tiêu cuối cùng không phải là nhiều.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có đắm nhiễm (tham / sarāgassa) hay cho người đã cạn hết đắm nhiễm (ly tham / vītarāgassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người đã cạn hết đắm nhiễm, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người có đắm nhiễm.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có ám ảnh khó chịu (sân / sadosassa) hay cho người đã hết ám ảnh khó chịu (ly sân / vītadosassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người đã hết ám ảnh khó chịu, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người có ám ảnh khó chịu.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có sự u mê (si / samohassa) hay cho người đã hết sự u mê (ly si / vītamohassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người đã hết sự u mê, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người có sự u mê.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có mong muốn (ái / sataṇhassa) hay cho người đã hết mong muốn (ly ái / vītataṇhassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người đã hết mong muốn, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người có mong muốn.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có sự bám giữ (thủ / saupādānassa) hay cho người không có sự bám giữ (vô thủ / anupādānassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người không có sự bám giữ, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người có sự bám giữ.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có hiểu biết (người có minh / viddasuno) hay cho người không hiểu biết (người vô minh / aviddasuno)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người có hiểu biết, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người không hiểu biết.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người bị cuốn theo và chống đối (thuận nghịch / anuruddhappaṭiviruddhassa) hay cho người không bị cuốn theo và chống đối (vô thuận nghịch / ananuruddhaappaṭiviruddhassā)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người không bị cuốn theo và chống đối, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người bị cuốn theo và chống đối.’

‘Nhưng này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người thích thú và vui say trong sự suy diễn phức tạp (hý luận / papañcārāmassa papañcaratino) hay cho người không thích thú và không vui say trong sự suy diễn phức tạp (vô hý luận / nippapañcārāmassa nippapañcaratino)?’ Trả lời một cách đúng đắn, này các tỳ kheo, tu sỹ đạo khác sẽ trả lời như thế này: ‘Này các hiền giả, mục tiêu cuối cùng đó dành cho người không thích thú và không vui say trong sự suy diễn phức tạp, mục tiêu cuối cùng đó không dành cho người thích thú và vui say trong sự suy diễn phức tạp.’

Chư Tỷ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: “Chư Hiền, cứu cánh là một hay cứu cánh là đa diện?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh là một, cứu cánh không phải đa diện”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có tham, hay cho người không tham?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không tham, không phải cho người có tham”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có sân, hay cho người không sân?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không sân, không phải cho người có sân”.

–"Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có si hay cho người không si? Nếu trả lời đứng đắn… phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không si, không phải cho người có si”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có ái, hay cho người không ái?” Nếu trả lời đứng đắn… phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không ái, không phải cho người có ái”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có chấp thủ, hay cho người không chấp thủ?” Nếu trả lời đứng đắn… phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không chấp thủ, không phải cho người chấp thủ”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có trí, hay cho người không có trí?” Nếu trả lời đứng đắn… phải trả lời: “Cứu cánh ấy cho người có trí, không phải cho người không có trí”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người thuận ứng, nghịch ứng hay cho người không thuận ứng, không nghịch ứng?” Nếu trả lời đứng đắn… phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không thuận ứng, không nghịch ứng, không phải cho người thuận ứng, nghịch ứng”.

–“Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người ưa hý luận, thích hý luận hay cho người không ưa hý luận, không thích hý luận?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo cần phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, không phải cho người ưa hý luận, thích hý luận”.

Này các tỳ kheo, có hai quan điểm này, quan điểm tồn tại [sau khi chết] (hữu kiến / bhavadiṭṭhi) và quan điểm không tồn tại [sau khi chết] (phi hữu kiến / vibhavadiṭṭhi). Này các tỳ kheo, bất kỳ người tu hành hay Bà-la-môn nào dính mắc vào quan điểm tồn tại [sau khi chết], đi đến quan điểm tồn tại [sau khi chết], bám chặt vào quan điểm tồn tại [sau khi chết], thì họ chống đối lại quan điểm không tồn tại [sau khi chết]. Này các tỳ kheo, bất kỳ người tu hành hay Bà-la-môn nào dính mắc vào quan điểm không tồn tại [sau khi chết], đi đến quan điểm không tồn tại [sau khi chết], bám chặt vào quan điểm không tồn tại [sau khi chết], thì họ chống đối lại quan điểm tồn tại [sau khi chết].

Này các tỳ kheo, bất kỳ người tu hành hay Bà-la-môn nào không phân biệt được rõ ràng đúng như thật sự hình thành (tập / samudayañca), sự tan biến (diệt / atthaṅgamañca), vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇañca) của hai quan điểm này, thì họ là những người có đắm nhiễm, có ám ảnh khó chịu, có sự u mê, có mong muốn, có sự bám giữ, họ là người không hiểu biết, họ bị cuốn theo và chống đối, họ thích thú và vui say trong sự suy diễn phức tạp; họ không thoát khỏi sự Tái sinh (sanh / jātiyā), già, chết, sầu, bi, đau khổ (khổ / dukkhehi), ưu phiền (ưu / domanassehi), và tuyệt vọng; tôi nói rằng ‘họ không thoát khỏi đau khổ’.

Nhưng này các tỳ kheo, bất kỳ người tu hành hay Bà-la-môn nào phân biệt được rõ ràng đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát khỏi của hai quan điểm này, thì họ là những người đã cạn hết đắm nhiễm, hết ám ảnh khó chịu, hết sự u mê, hết mong muốn, không có sự bám giữ, họ là người có hiểu biết, họ không bị cuốn theo và chống đối, họ không thích thú và không vui say trong sự suy diễn phức tạp; họ thoát khỏi sự Tái sinh, già, chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, và tuyệt vọng; tôi nói rằng ‘họ thoát khỏi đau khổ’.

Chư Tỷ-kheo, có hai loại tri kiến này: hữu kiến và phi hữu kiến. Chư Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà- la-môn nào chấp trước hữu kiến, thân thiết hữu kiến, cố chấp hữu kiến; những vị ấy bị chướng ngại đối với phi hữu kiến. Chư Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chấp trước phi hữu kiến, thân thiết phi hữu kiến, cố chấp phi hữu kiến; những vị ấy bị chướng ngại bởi hữu kiến.

Chư Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri sự tập khởi và sự đoạn diệt của hai loại kiến này, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của chúng, những vị này là những vị có tham, có sân, có si, có ái, có chấp thủ, không có trí, có thuận ứng, có nghịch ứng, có ưa hý luận, có thích hý luận; những vị ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói những vị ấy không giải thoát khỏi đau khổ.

Chư Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự đoạn diệt của hai loại kiến này, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của chúng; những vị này là những vị không tham, không sân, không si, không ái, không chấp thủ, có trí, không có thuận ứng, không có nghịch ứng, không ưa hý luận, thích hý luận; những vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói những vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

Này các tỳ kheo, có bốn sự bám giữ này. Bốn loại nào? Sự bám giữ vào bản năng (dục thủ / kāmupādānaṁ), sự bám giữ vào quan điểm (kiến thủ / diṭṭhupādānaṁ), sự bám giữ vào mê tín và giáo điều (giới cấm thủ / sīlabbatupādānaṁ), sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã (ngã luận thủ / attavādupādānaṁ).

Này các tỳ kheo, có một số người tu hành và Bà-la-môn tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññāvādā) mọi sự bám giữ. Họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã. Lý do của điều đó là gì? Vì những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này không phân biệt được rõ ràng đúng như thật ba trường hợp này. Do đó, những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ; nhưng họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã.

Này các tỳ kheo, có một số người tu hành và Bà-la-môn tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ. Họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã. Lý do của điều đó là gì? Vì những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này không phân biệt được rõ ràng đúng như thật hai trường hợp này. Do đó, những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ; nhưng họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã.

Này các tỳ kheo, có một số người tu hành và Bà-la-môn tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ. Họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã. Lý do của điều đó là gì? Vì những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này không phân biệt được rõ ràng đúng như thật một trường hợp này. Do đó, những tôn giả người tu hành và Bà-la-môn này tự nhận là những người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ; nhưng họ không tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, họ tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, nhưng không tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã.

Chư Tỷ-kheo, có bốn chấp thủ. Thế nào là bốn? Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.

Chư Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chân chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ; họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về kiến thủ, về giới cấm thủ, về ngã luận thủ. Vì sao vậy? Những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không như thật tuệ tri ba sự. Do vậy, những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chân chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về kiến thủ, về giới cấm thủ, về ngã luận thủ.

Chư Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chân chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ nhưng không hiển thị sự liễu tri về giới cấm thủ, sự liễu tri về ngã luận thủ. Vì sao vậy? Những Hiền giả Sa-môn, Bà-la- môn ấy không như thật tuệ tri hai sự. Do vậy, những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ; nhưng không hiển thị sự liễu tri về giới cấm thủ, sự liễu tri về ngã luận thủ.

Chư Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về ngã luận thủ. Vì sao vậy? Những Hiền giả Sa-môn, Bà-la- môn ấy không như thật tuệ tri một sự. Do vậy, những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chân chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về ngã luận thủ.

Này các tỳ kheo, trong một Điều dạy và kỷ luật (pháp luật / dhammavinaye) như vậy, niềm tin tuyệt đối vào bậc Đạo sư được tuyên bố là không đi đúng hướng; niềm tin tuyệt đối vào Điều dạy được tuyên bố là không đi đúng hướng; sự thực hành trọn vẹn các nguyên tắc đạo đức được tuyên bố là không đi đúng hướng; sự yêu mến đối với những người cùng thực hành Điều dạy được tuyên bố là không đi đúng hướng. Lý do của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, điều đó là như vậy vì Điều dạy và kỷ luật ấy được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không dẫn đến sự thoát ly, không dẫn đến sự lắng dịu (tịch tịnh / upasamasaṁvattanike), được trình bày bởi một người không phải là bậc Chánh Đẳng Giác.

Nhưng này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgato), bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, tự nhận là người tuyên bố hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, ngài tuyên bố một cách đúng đắn sự hiểu biết trọn vẹn mọi sự bám giữ, ngài tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào bản năng, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào quan điểm, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, tuyên bố sự hiểu biết trọn vẹn về sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã.

Này các tỳ kheo, trong một Điều dạy và kỷ luật như vậy, niềm tin tuyệt đối vào bậc Đạo sư được tuyên bố là đi đúng hướng; niềm tin tuyệt đối vào Điều dạy được tuyên bố là đi đúng hướng; sự thực hành trọn vẹn các nguyên tắc đạo đức được tuyên bố là đi đúng hướng; sự yêu mến đối với những người cùng thực hành Điều dạy được tuyên bố là đi đúng hướng. Lý do của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, điều đó là như vậy vì Điều dạy và kỷ luật ấy được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự lắng dịu, được trình bày bởi một bậc Chánh Đẳng Giác.

Chư Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật như vậy, nếu có tịnh tín đối với Ðạo Sư, tịnh tín ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có tịnh tín đối với Pháp, tịnh tín ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có thành tựu viên mãn các Giới luật, sự thành tựu ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có sự thương mến đối với những pháp hữu, sự thương mến ấy được xem là không hoàn toàn. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, sự tình là như vậy, trong một pháp luật không khéo thuyết giảng, không khéo hiển thị, không có hướng thượng, không dẫn đến tịch tịnh, không được bậc Chánh Ðẳng Giác hiển thị.

Và Như Tỷ-kheo, bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tự xưng liễu tri tất cả thủ, chân chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Như Lai hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, sự liễu tri về ngã luận thủ.

Chư Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật như vậy, nếu có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, tịnh tín ấy được xem là hoàn toàn; nếu có tịnh tín đối với Pháp, tịnh tín ấy được xem là hoàn toàn; nếu có thành tựu viên mãn các Giới luật, sự thành tựu ấy được xem là hoàn toàn; nếu có sự thương mến đối với các pháp hữu, sự thương mến ấy được xem là hoàn toàn. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, sự tình là như vậy, trong một pháp luật khéo thuyết giảng, khéo hiển thị, có hướng thượng, dẫn đến tịch tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác hiển thị.

Và này các tỳ kheo, bốn sự bám giữ này, lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn sự bám giữ này lấy mong muốn làm gốc nguyên nhân, lấy mong muốn làm sự hình thành, lấy mong muốn làm nơi sinh ra, lấy mong muốn làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, mong muốn này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Mong muốn lấy cảm giác (thọ / vedanā) làm gốc nguyên nhân, lấy cảm giác làm sự hình thành, lấy cảm giác làm nơi sinh ra, lấy cảm giác làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, cảm giác này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Cảm giác lấy Xúc (xúc / phassa) làm gốc nguyên nhân, lấy Xúc làm sự hình thành, lấy Xúc làm nơi sinh ra, lấy Xúc làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, Xúc này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Xúc lấy sáu Trường giao tiếp (lục nhập / saḷāyatana) làm gốc nguyên nhân, lấy sáu Trường giao tiếp làm sự hình thành, lấy sáu Trường giao tiếp làm nơi sinh ra, lấy sáu Trường giao tiếp làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, sáu Trường giao tiếp này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Sáu Trường giao tiếp lấy Danh-sắc (danh sắc / nāmarūpa) làm gốc nguyên nhân, lấy Danh-sắc làm sự hình thành, lấy Danh-sắc làm nơi sinh ra, lấy Danh-sắc làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, Danh-sắc này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Danh-sắc lấy ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) (thức / viññāṇa) làm gốc nguyên nhân, lấy ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm sự hình thành, lấy ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm nơi sinh ra, lấy ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) lấy hoạt động (hành / saṅkhāra) làm gốc nguyên nhân, lấy hoạt động làm sự hình thành, lấy hoạt động làm nơi sinh ra, lấy hoạt động làm nguồn gốc. Và này các tỳ kheo, các hoạt động này lấy gì làm gốc nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Các hoạt động lấy không hiểu biết (vô minh / avijjā) làm gốc nguyên nhân, lấy không hiểu biết làm sự hình thành, lấy không hiểu biết làm nơi sinh ra, lấy không hiểu biết làm nguồn gốc.

Và này các tỳ kheo, khi tỳ kheo đã từ bỏ (đoạn trừ / pahīnā) không hiểu biếthiểu biết (minh / vijjā) sinh khởi, do không hiểu biết phai nhạt và hiểu biết sinh khởi, vị ấy không bám giữ vào sự bám giữ vào bản năng, không bám giữ vào sự bám giữ vào quan điểm, không bám giữ vào sự bám giữ vào mê tín và giáo điều, không bám giữ vào sự bám giữ vào học thuyết về tự ngã. Không bám giữ, vị ấy không lo âu (chấp trước / paritassati); không lo âu, vị ấy tự mình đạt đến trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng (viên tịch / parinibbāyati).

Vị ấy phân biệt được rõ ràng: ‘Sự tái sinh đã cạn kiệt, đời sống thánh thiện đã được sống trọn vẹn, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa’."

Thế Tôn đã nói những điều này. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Tiểu Sư Tử Hống, bài kinh thứ nhất.

Chư Tỷ-kheo, bốn loại chấp thủ này, lấy gì làm duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chủng, lấy gì làm nhân? Bốn loại chấp thủ này lấy ái làm duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm chủng, lấy ái làm nhân. Chư Tỷ-kheo, ái này lấy gì làm duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chủng, lấy gì làm nhân? Chư Tỷ- kheo, ái này lấy thọ làm duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm chủng, lấy thọ làm nhân. Chư Tỷ-kheo, thọ này lấy gì làm duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chủng, lấy gì làm nhân ? Chư Tỷ-kheo, thọ này lấy xúc làm duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm chủng, lấy xúc làm nhân. Chư Tỷ-kheo, xúc này lấy gì làm duyên… lấy gì làm nhân? Chư Tỷ-kheo, xúc này lấy sáu nhập làm duyên… lấy sáu nhập làm nhân. Chư Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy gì làm duyên… lấy gì làm nhân? Chư Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy danh sắc làm duyên… lấy danh sắc làm nhân. Chư Tỷ-kheo, danh sắc này lấy gì làm duyên… lấy gì làm nhân? Chư Tỷ-kheo, danh sắc này lấy thức làm duyên… lấy thức làm nhân. Chư Tỷ-kheo, thức này lấy gì làm duyên… lấy gì làm nhân? Chư Tỷ-kheo, thức này lấy hành làm duyên… lấy hành làm nhân. Chư Tỷ-kheo, hành này lấy gì làm duyên… lấy gì làm nhân? Chư Tỷ-kheo, hành này lấy vô minh làm duyên… lấy vô minh làm nhân.

Và Chư Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo đã đoạn trừ vô minh, đã làm minh sanh khởi, vị ấy do vô minh được đoạn trừ, do minh sanh khởi, nên không chấp thủ dục thủ, không chấp thủ kiến thủ, không chấp thủ giới cấm thủ, không chấp thủ ngã luận thủ. Nhờ không chấp thủ nên không tháo động, nhờ không tháo động, nên tự thân chứng được Niết-bàn; vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-