Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 10. KINH BỐN NƠI THIẾT LẬP SỰ CHÚ TÂM

(Satipaṭṭhānasutta)
Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy — một thời, Thế Tôn đang lưu trú tại vương quốc của người Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Này các tỳ kheo, đây là con đường trực tiếp (nhất hướng đạo / ekāyano maggo) để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu não và than khóc, chấm dứt đau khổ (khổ / dukkha) và ưu phiền (ưu / domanassa), là phương pháp đúng đắn, để trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikiriyāya) Niết-bàn, đó chính là bốn nơi thiết lập sự chú tâm (tứ niệm xứ / cattāro satipaṭṭhānā).

Bốn nơi nào? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), tập trung chú ý (chánh niệm / satimā) để loại bỏ (nhiếp phục / vineyya) lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý để loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát tâm qua tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý để loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý để loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời.

Phần giới thiệu đã xong.

MN 10. KINH NIỆM XỨ

(Satipatthàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: – Này các Tỷ-kheo.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn.

Thế Tôn thuyết như sau: – Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

1. Quan sát cơ thể (Kāyānupassanā)

1.1. Phần Hơi thở trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanāānāpānapabba)

Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo đi vào rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến một ngôi nhà trống và ngồi xuống, khoanh chân chéo nhau, giữ cơ thể thẳng đứng, và đặt sự tập trung chú ý (niệm / sati) ở phía trước mặt. Vị ấy tập trung chú ý (niệm/sati) thở vào, tập trung chú ý thở ra.

Khi thở vào dài, vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) ‘tôi thở vào dài’; hay khi thở ra dài, vị ấy biết rõ ‘tôi thở ra dài’.

Khi thở vào ngắn, vị ấy biết rõ ‘tôi thở vào ngắn’; hay khi thở ra ngắn, vị ấy biết rõ ‘tôi thở ra ngắn’.

Vị ấy rèn luyện (học / sikkhati): ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận toàn bộ cơ thể’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận toàn bộ cơ thể’.

Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, làm lắng dịu (an tịnh / passambhayaṁ) hoạt động của cơ thể (thân hành / kāyasaṅkhāraṁ)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, làm lắng dịu hoạt động của cơ thể’.

Này các tỳ kheo, giống như một người thợ tiện khéo léo hay người học việc của thợ tiện, khi kéo một cú dài, người ấy biết rõ ‘tôi đang kéo một cú dài’; hay khi kéo một cú ngắn, người ấy biết rõ ‘tôi đang kéo một cú ngắn’. Chính xác như vậy, này các tỳ kheo, khi thở vào dài, tỳ kheo biết rõ ‘tôi thở vào dài’… [cho đến] … vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, làm lắng dịu hoạt động của cơ thể’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành (tập khởi pháp / samudayadhamma) trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt (diệt pháp / vayadhamma) trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là cơ thể’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ (chấp thủ / upādiyati) bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Hơi thở đã xong.

(Quán thân)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

1.2. Phần Tư thế trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanāiriyāpathapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, khi đang đi, tỳ kheo biết rõ ‘tôi đang đi’; hay khi đang đứng, vị ấy biết rõ ‘tôi đang đứng’; hay khi đang ngồi, vị ấy biết rõ ‘tôi đang ngồi’; hay khi đang nằm, vị ấy biết rõ ‘tôi đang nằm’. Bất cứ khi nào cơ thể vị ấy được đặt trong tư thế (oai nghi / iriyāpatha) nào, vị ấy biết rõ nó là như vậy.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là cơ thể’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Tư thế đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”, hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”, hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”, hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.

Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một

vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

1.3. Phần Nhận biết rõ ràng trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanāsampajānapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo thực hành nhận biết rõ ràng khi đi tới đi lui; thực hành nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; thực hành nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi chân; thực hành nhận biết rõ ràng khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y phục; thực hành nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; thực hành nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; thực hành nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói chuyện, và giữ im lặng.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…]

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Nhận biết rõ ràng đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

1.4. Phần Suy nghĩ về tính không sạch trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanāpaṭikūlamanasikārapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da và chứa đầy đủ loại không sạch: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, mạc treo, thức ăn trong dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu’.

Này các tỳ kheo, giống như một chiếc bao tải có miệng ở cả hai đầu, chứa đầy các loại hạt khác nhau, chẳng hạn như: lúa nếp, lúa tẻ, đậu xanh, đậu đen, hạt vừng, gạo. Một người có mắt mở nó ra và quan sát: ‘Đây là lúa nếp, đây là lúa tẻ, đây là đậu xanh, đây là đậu đen, đây là hạt vừng, đây là gạo’.

Chính xác như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da và chứa đầy đủ loại không sạch: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông […lặp lại…] nước tiểu’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…]

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Suy nghĩ về tính không sạch đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

1.5. Phần Suy nghĩ về các đặc tính trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanādhātumanasikārapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, dù nó đang được đặt hay định vị như thế nào, theo các đặc tính (giới / dhātu): ‘Trong cơ thể này có tính cứng (địa đại / pathavīdhātu), tính lỏng (thủy đại / āpodhātu), tính nhiệt (hỏa đại / tejodhātu), tính gió (phong đại / vāyodhātu)’.

Này các tỳ kheo, giống như một người thợ mổ bò khéo léo hay người học việc của thợ mổ bò, sau khi giết một con bò, cắt nó thành từng mảnh và ngồi ở ngã tư đường.

Chính xác như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, dù nó đang được đặt hay định vị như thế nào, theo các đặc tính: ‘Trong cơ thể này có tính cứng, tính lỏng, tính nhiệt, tính gió’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…]

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Suy nghĩ về các đặc tính đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

1.6. Phần Chín giai đoạn nghĩa địa trong Quan sát cơ thể (Kāyānupassanānavasivathikapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, giống như tỳ kheo nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, chết được một ngày, hai ngày, hay ba ngày, sưng phồng lên, xanh lè, và rỉ mủ. Vị ấy so sánh chính cơ thể này: ‘Cơ thể này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó’. Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…]

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Lại nữa, này các tỳ kheo, giống như tỳ kheo nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, đang bị quạ ăn, hay bị diều hâu ăn, hay bị kền kền ăn, hay bị cò ăn, hay bị chó ăn, hay bị hổ ăn, hay bị báo ăn, hay bị chó rừng ăn, hay bị các loại côn trùng khác nhau ăn. Vị ấy so sánh chính cơ thể này: ‘Cơ thể này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó’. Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…]

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Lại nữa, này các tỳ kheo, giống như tỳ kheo nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn là một bộ xương dính máu thịt, được nối với nhau bằng gân […lặp lại…]

Chỉ còn là một bộ xương không còn thịt nhưng dính máu, được nối với nhau bằng gân […lặp lại…]

Chỉ còn là một bộ xương không còn máu thịt, được nối với nhau bằng gân […lặp lại…]

Chỉ còn là những khúc xương rời rạc, văng vãi khắp các hướng: chỗ này là xương tay, chỗ kia là xương chân, chỗ kia là xương mắt cá, chỗ kia là xương ống chân, chỗ kia là xương đùi, chỗ kia là xương chậu, chỗ kia là xương sườn, chỗ kia là xương sống, chỗ kia là xương vai, chỗ kia là xương cổ, chỗ kia là xương hàm, chỗ kia là răng, chỗ kia là hộp sọ. Vị ấy so sánh chính cơ thể này: ‘Cơ thể này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó’. Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong […lặp lại…] Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Lại nữa, này các tỳ kheo, giống như tỳ kheo nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, xương trắng bệch như màu vỏ ốc […lặp lại…]

Xương chất thành đống, đã hơn một năm […lặp lại…]

Xương mục nát và vỡ vụn thành bụi. Vị ấy so sánh chính cơ thể này: ‘Cơ thể này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình ở bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là cơ thể’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần Chín giai đoạn nghĩa địa đã xong.

Mười bốn phần Quan sát cơ thể đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại… với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại… với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm… chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ- kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

2. Quan sát cảm giác (Vedanānupassanā)

Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi trải nghiệm một cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukhaṁ vedanaṁ), tỳ kheo biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác dễ chịu’.

Khi trải nghiệm một cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhaṁ vedanaṁ), vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác khó chịu’.

Khi trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu (thọ bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ vedanaṁ), vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu’.

Khi trải nghiệm một cảm giác dễ chịu thuộc bản năng (hữu triền / sāmisaṁ), vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác dễ chịu thuộc bản năng’.

Khi trải nghiệm một cảm giác dễ chịu không thuộc bản năng (vô triền / nirāmisaṁ), vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác dễ chịu không thuộc bản năng’.

Khi trải nghiệm một cảm giác khó chịu thuộc bản năng, vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác khó chịu thuộc bản năng’.

Khi trải nghiệm một cảm giác khó chịu không thuộc bản năng, vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác khó chịu không thuộc bản năng’.

Khi trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu thuộc bản năng, vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu thuộc bản năng’.

Khi trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu không thuộc bản năng, vị ấy biết rõ ‘tôi đang trải nghiệm một cảm giác không dễ chịu không khó chịu không thuộc bản năng’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình ở bên trong, hay sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình ở bên ngoài, hay sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các cảm giác, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các cảm giác, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các cảm giác. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là cảm giác’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình.

Phần Quan sát cảm giác đã xong.

(Quán thọ)

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.

Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.

3. Quan sát tâm (Cittānupassanā)

Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát tâm qua tâm của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi tâm có sự đắm nhiễm (hữu tham / sarāgaṁ), tỳ kheo biết rõ ‘tâm có sự đắm nhiễm’. Khi tâm cạn hết đắm nhiễm (ly tham / vītarāgaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm cạn hết đắm nhiễm’. Khi tâm có sự ác ý (hữu sân / sadosaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm có sự ác ý’. Khi tâm không có sự ác ý (ly sân / vītadosaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không có sự ác ý’. Khi tâm có sự u mê (hữu si / samohaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm có sự u mê’. Khi tâm không có sự u mê (ly si / vītamohaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không có sự u mê’. Khi tâm bị thu hẹp (thâu nhiếp / saṅkhittaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm bị thu hẹp’. Khi tâm bị phân tán (tán loạn / vikkhittaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm bị phân tán’. Khi tâm được mở rộng (đáo đại / mahaggataṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm được mở rộng’. Khi tâm không được mở rộng (bất đáo đại / amahaggataṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không được mở rộng’. Khi tâm còn giới hạn (hữu thượng / sauttaraṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm còn giới hạn’. Khi tâm không giới hạn (vô thượng / anuttaraṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không giới hạn’. Khi tâm hợp thành một (định / samāhitaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm hợp thành một’. Khi tâm không hợp thành một (bất định / asamāhitaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không hợp thành một’. Khi tâm được giải thoát (vimuttaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm được giải thoát’. Khi tâm không được giải thoát (avimuttaṁ), vị ấy biết rõ ‘tâm không được giải thoát’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát tâm qua tâm của mình ở bên trong, hay sống quan sát tâm qua tâm của mình ở bên ngoài, hay sống quan sát tâm qua tâm của mình cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên tâm, hay sống quan sát tính hoại diệt trên tâm, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên tâm. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là tâm’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát tâm qua tâm của mình.

Phần Quan sát tâm đã xong.

(Quán tâm)

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si”. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm được thâu nhiếp”. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm bị tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: “Tâm được quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: “Tâm không được quảng đại”. Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: “Tâm hữu hạn”. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: “Tâm vô thượng”. Hay với tâm có định, tuệ tri: “Tâm có định”; hay với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không định”. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải thoát”; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không giải thoát”.

Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.

4. Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanā)

4.1. Phần Năm điều làm mờ yếu trong Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanānīvaraṇapabba)

Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇesu). Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm điều làm mờ yếu?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi có sự muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchanda) ở bên trong, tỳ kheo biết rõ ‘có sự muốn thỏa mãn bản năng ở bên trong tôi’; hay khi không có sự muốn thỏa mãn bản năng ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có sự muốn thỏa mãn bản năng ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào sự muốn thỏa mãn bản năng chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào sự muốn thỏa mãn bản năng đã sinh khởi bị từ bỏ (đoạn trừ / pahānaṁ); và vị ấy biết rõ bằng cách nào sự muốn thỏa mãn bản năng đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại (vô sanh / anuppādo) trong tương lai.

Khi có sự ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có sự ác ý hãm hại ở bên trong tôi’; hay khi không có sự ác ý hãm hại ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có sự ác ý hãm hại ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào sự ác ý hãm hại chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào sự ác ý hãm hại đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào sự ác ý hãm hại đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Khi có sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có sự uể oải, buồn ngủ ở bên trong tôi’; hay khi không có sự uể oải, buồn ngủ ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có sự uể oải, buồn ngủ ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào sự uể oải, buồn ngủ chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào sự uể oải, buồn ngủ đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào sự uể oải, buồn ngủ đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Khi có sự bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có sự bồn chồn, hối hận ở bên trong tôi’; hay khi không có sự bồn chồn, hối hận ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có sự bồn chồn, hối hận ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào sự bồn chồn, hối hận chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào sự bồn chồn, hối hận đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào sự bồn chồn, hối hận đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Khi có sự nghi ngờ (nghi / vicikicchā) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có sự nghi ngờ ở bên trong tôi’; hay khi không có sự nghi ngờ ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có sự nghi ngờ ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào sự nghi ngờ chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào sự nghi ngờ đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào sự nghi ngờ đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các Điều. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là pháp’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm điều làm mờ yếu.

Phần Năm điều làm mờ yếu đã xong.

(Quán pháp)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có sân hận”. Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có nghi”. Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.

4.2. Phần Các tập hợp trong Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanākhandhapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm tập hợp bị bám giữ (ngũ thủ uẩn / pañcasu upādānakkhandhesu). Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm tập hợp bị bám giữ? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát: ‘Đây là vật chất (sắc / rūpaṁ), đây là sự hình thành (tập khởi / samudayo) của vật chất, đây là sự biến mất (diệt / atthaṅgamo) của vật chất; đây là cảm giác (thọ / vedanā), đây là sự hình thành của cảm giác, đây là sự biến mất của cảm giác; đây là nhận thức (tưởng / saññā), đây là sự hình thành của nhận thức, đây là sự biến mất của nhận thức; đây là các hoạt động (hành / saṅkhārā), đây là sự hình thành của các hoạt động, đây là sự biến mất của các hoạt động; đây là ‘cái biết’ (thức / viññāṇaṁ), đây là sự hình thành của ‘cái biết’, đây là sự biến mất của ‘cái biết’’;

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các Điều. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là pháp’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với năm tập hợp bị bám giữ.

Phần Các tập hợp đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ- kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt”. Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.

4.3. Phần Sáu trường giao tiếp trong Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanāāyatanapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với sáu trường (xứ / āyatanesu) bên trong và bên ngoài. Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với sáu trường bên trong và bên ngoài?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo biết rõ con mắt, và biết rõ các hình ảnh (sắc / rūpe); vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào (duyên / paṭicca) cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Vị ấy biết rõ lỗ tai, và biết rõ các âm thanh; vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Vị ấy biết rõ cái mũi, và biết rõ các mùi hương; vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Vị ấy biết rõ cái lưỡi, và biết rõ các vị nếm; vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Vị ấy biết rõ cơ thể, và biết rõ các xúc chạm; vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Vị ấy biết rõ trí não, và biết rõ các Điều; vị ấy biết rõ xiềng xích nào sinh ra dựa vào cả hai thứ đó. Vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích chưa sinh khởi nay sinh khởi; vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã sinh khởi bị từ bỏ; và vị ấy biết rõ bằng cách nào xiềng xích đã bị từ bỏ sẽ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các Điều. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là pháp’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với sáu trường bên trong và bên ngoài.

Phần Sáu trường giao tiếp đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ- kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Tỷ-kheo tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng… tuệ tri mũi và tuệ tri các hương… tuệ tri lưỡi… và tuệ tri các vị… tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.

4.4. Phần Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ trong Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanābojjhaṅgapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (Thất giác chi / sattasu bojjhaṅgesu). Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi có dấu hiệu trí nhớ không quên (niệm giác chi / satisambojjhaṅga) ở bên trong, tỳ kheo biết rõ ‘có dấu hiệu trí nhớ không quên ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu trí nhớ không quên ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu trí nhớ không quên ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu trí nhớ không quên chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu trí nhớ không quên đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích (trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có dấu hiệu Nỗ Lực ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu Nỗ Lực ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu Nỗ Lực ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Nỗ Lực chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Nỗ Lực đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có dấu hiệu sự hân hoan (hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có dấu hiệu sự hân hoan ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu sự hân hoan ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu sự hân hoan ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu sự hân hoan chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu sự hân hoan đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu (khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu ở bên trong tôi’; hay khi không có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào Dấu hiệu cơ thể lắng dịu chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào Dấu hiệu cơ thể lắng dịu đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có dấu hiệu Định (định giác chi / samādhisambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có dấu hiệu Định ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu Định ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu Định ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Định chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Định đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Khi có dấu hiệu Tâm cân bằng (xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga) ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘có dấu hiệu Tâm cân bằng ở bên trong tôi’; hay khi không có dấu hiệu Tâm cân bằng ở bên trong, vị ấy biết rõ ‘không có dấu hiệu Tâm cân bằng ở bên trong tôi’. Vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Tâm cân bằng chưa sinh khởi nay sinh khởi; và vị ấy biết rõ bằng cách nào dấu hiệu Tâm cân bằng đã sinh khởi được phát triển đến mức hoàn thiện.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các Điều. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là pháp’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ.

Phần Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi. Này các Tỷ- kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

Hay Tỷ-kheo nội tâm có trạch pháp giác chi… (như trên)… hay nội tâm có tinh tấn giác chi… (như trên)… hay nội tâm có hỷ giác chi… (như trên)… hay nội tâm có khinh an giác chi… (như trên)… hay nội tâm có định giác chi… (như trên)… hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có xả giác chi”; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có xả giác chi”. Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

4.5. Phần Bốn Thánh đế trong Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanāsaccapabba)

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bốn Thánh đế (tứ thánh đế / catūsu ariyasaccesu).

Và này các tỳ kheo, làm thế nào tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bốn Thánh đế? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo biết rõ đúng như thật ‘đây là đau khổ’; vị ấy biết rõ đúng như thật ‘đây là sự hình thành của đau khổ’; vị ấy biết rõ đúng như thật ‘đây là sự chấm dứt (diệt / nirodho) đau khổ’; vị ấy biết rõ đúng như thật ‘đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều ở bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều cả bên trong lẫn bên ngoài; hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều, hay sống quan sát cả tính hình thànhtính hoại diệt trên các Điều. Hay vị ấy sống quan sát: ‘đây là pháp’ là đủ, chỉ vừa cho sự nhận biết và ghi nhớ. Vị ấy sống không nương tựa, và không bám giữ bất cứ điều gì trên đời.

Này các tỳ kheo, như vậy tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều đối với bốn Thánh đế.

Phần Bốn Thánh đế đã xong.

Phần Quan sát Điều dạy đã xong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ- kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt”.

Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

Này các tỳ kheo, bất cứ ai rèn luyện bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy năm, người ấy có thể mong đợi một trong hai kết quả: sự hiểu biết trọn vẹn (A-la-hán / aññā) ngay trong hiện tại; hay nếu còn dư tàn (hữu dư y / upādisese) [của sự bám giữ], thì đạt trạng thái Không Trở Lại (Bất lai / anāgāmitā).

Này các tỳ kheo, không cần đến bảy năm. Bất cứ ai rèn luyện bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong sáu năm […lặp lại…] năm năm… bốn năm… ba năm… hai năm… một năm… Này các tỳ kheo, không cần đến một năm. Bất cứ ai rèn luyện bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy tháng, người ấy có thể mong đợi một trong hai kết quả: sự hiểu biết trọn vẹn ngay trong hiện tại; hay nếu còn dư tàn, thì đạt trạng thái Không Trở Lại. Này các tỳ kheo, không cần đến bảy tháng. Bất cứ ai rèn luyện bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong sáu tháng […lặp lại…] năm tháng… bốn tháng… ba tháng… hai tháng… một tháng… nửa tháng… Này các tỳ kheo, không cần đến nửa tháng. Bất cứ ai rèn luyện bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy ngày, người ấy có thể mong đợi một trong hai kết quả: sự hiểu biết trọn vẹn ngay trong hiện tại; hay nếu còn dư tàn, thì đạt trạng thái Không Trở Lại.

‘Này các tỳ kheo, đây là con đường trực tiếp để thanh lọc chúng sinh, để vượt qua sầu não và than khóc, để làm biến mất đau khổưu phiền, để đạt được phương pháp đúng đắn, để trực tiếp chứng nghiệm Niết-bàn, đó chính là bốn nơi chú tâm’. Điều đã được nói đến như vậy, chính là dựa vào điều này mà nói."

Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Bốn Nơi Chú Tâm thứ mười đã xong.

Phẩm Căn Bản (Mūlapariyāyavaggo) thứ nhất đã xong.

(Kết luận)

Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn

-ooOoo-