Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 8. KINH GỘT RỬA

(Sallekhasutta)

Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Kỳ Viên, trong tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Khi ấy, Tôn giả Mahācunda vào buổi chiều, sau khi xuất định, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahācunda thưa với Thế Tôn điều này:

“Bạch Thế Tôn, có nhiều loại quan điểm sai (kiến / diṭṭhiyo) khác nhau khởi lên ở đời—hoặc liên quan đến quan điểm về tự ngã (ngã luận / attavādapaṭisaṁyuttā), hoặc liên quan đến quan điểm về thế giới (thế giới luận / lokavādapaṭisaṁyuttā)—bạch Thế Tôn, đối với một vị tỳ kheo ngay từ đầu đang suy nghĩ (tác ý / manasikaroto), làm thế nào để có sự từ bỏ (đoạn trừ / pahānaṁ) những quan điểm sai này, làm thế nào để có sự buông bỏ (xả ly / paṭinissaggo) những quan điểm sai này?”

"Này Cunda, có nhiều loại quan điểm sai khác nhau khởi lên ở đời—hoặc liên quan đến quan điểm về tự ngã, hoặc liên quan đến quan điểm về thế giới—bất cứ nơi nào những quan điểm sai này khởi lên, bất cứ nơi nào chúng ám ảnh, và bất cứ nơi nào chúng chi phối, người ấy quán sát bằng trí tuệ đúng đắn theo đúng thực tại (như thật chánh tuệ / yathābhūtaṁ sammappaññā) rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’—như vậy là có sự từ bỏ những quan điểm sai này, như vậy là có sự buông bỏ những quan điểm sai này.

MN 8. KINH ÐOẠN GIẢM

(Sallekha Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Cunda, vào buổi chiều từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Cunda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận. Bạch Thế Tôn, đối với một Tỷ-kheo, có tác ý ngay từ ban đầu, thời có thể đoạn trừ những sở kiến ấy hay không, có thể xả ly những sở kiến ấy hay không?

– Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận, - chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cài này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất (sơ thiền / paṭhamaṁ jhānaṁ), một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan và hạnh phúc (hỷ lạc / pītisukhaṁ) sinh ra từ sự rời bỏ (do viễn ly sanh / vivekajaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa (sallekhena)’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại (hiện tại lạc trú / diṭṭhadhammasukhavihārā).

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, với sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ diệt / vitakkavicārānaṁ vūpasamā), đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai (nhị thiền / dutiyaṁ jhānaṁ), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định (do định sanh / samādhijaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, cạn hết đắm nhiễm vào sự hân hoan (ly hỷ / pītiyā ca virāgā), sống với tâm quân bình (xả / upekkhako), chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato ca sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể (thân cảm sự lạc / sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyya), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba (tam thiền / tatiyaṁ jhānaṁ), trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là: ‘Người có tâm quân bình, chú tâm (chánh niệm / satimā), sống hạnh phúc’. Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, với việc hoàn toàn từ bỏ hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ (xả lạc xả khổ / sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā), với sự tan biến từ trước của thanh thản và ưu phiền (diệt hỷ ưu / pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư (tứ thiền / catutthaṁ jhānaṁ), một trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), có sự trong sạch của sự chú tâm nhờ tâm bình thản (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, bằng cách vượt qua hoàn toàn nhận thức về hình ảnh (vượt qua sắc tưởng / sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā), với sự tan biến của nhận thức qua va chạm (diệt chướng ngại tưởng / paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā), không suy nghĩ đến nhận thức về sự khác biệt (không tác ý dị tưởng / nānattasaññānaṁ amanasikārā), nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình (tịch tịnh trú / santā ete vihārā).

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.

Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Tôi đang sống bằng sự gột rửa’. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.

(Tám chứng đắc)

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây một Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy có thể nghĩ “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vị ấy có thể tự nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

1. Phương pháp Gột Rửa

(Sallekhapariyāya)

Nhưng này Cunda, ở đây các ông cần phải thực hành sự gột rửa:

‘Những người khác sẽ gây hại (tàn ác / vihiṁsakā), chúng ta ở đây sẽ không gây hại’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ giết hại sinh mệnh (sát sanh / pāṇātipātī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc giết hại sinh mệnh’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ lấy của không cho (trộm cắp / adinnādāyī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc lấy của không cho’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ sống không thánh thiện (phi Phạm hạnh / abrahmacārī), chúng ta ở đây sẽ sống thánh thiện’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nói dối, chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói dối’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nói lời chia rẽ (nói hai lời / pisuṇavācā), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời chia rẽ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nói lời thô lỗ (ác khẩu / pharusavācā), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời thô lỗ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nói lời nhảm nhí (ỷ ngữ / samphappalāpī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời nhảm nhí’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có lòng tham (tham lam / abhijjhālū), chúng ta ở đây sẽ không có lòng tham’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có tâm ác ý hãm hại (sân hận / byāpannacittā), chúng ta ở đây sẽ không có tâm ác ý hãm hại’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhī), chúng ta ở đây sẽ Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhī)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có suy nghĩ sai (tà tư duy / micchāsaṅkappā), chúng ta ở đây sẽ Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có lời nói sai (tà ngữ / micchāvācā), chúng ta ở đây sẽ có Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có hành động sai (tà nghiệp / micchākammantā), chúng ta ở đây sẽ có Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammantā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có đời sống sai (tà mạng / micchāājīvā), chúng ta ở đây sẽ có Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có nỗ lực sai (tà tinh tấn / micchāvāyāmā), chúng ta ở đây sẽ có Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có trí nhớ không quên sai (tà niệm / micchāsatī), chúng ta ở đây sẽ có Trí nhớ không quên Thiện (chánh niệm / sammāsatī)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có định sai (tà định / micchāsamādhi), chúng ta ở đây sẽ có Định Thiện (chánh định / sammāsamādhī)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có hiểu biết sai (tà trí / micchāñāṇī), chúng ta ở đây sẽ có hiểu biết Thiện’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ có giải thoát sai (tà giải thoát / micchāvimuttī), chúng ta ở đây sẽ có giải thoát Thiện’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ bị uể oải, buồn ngủ bao trùm (hôn trầm thụy miên chi phối / thinamiddhapariyuṭṭhitā), chúng ta ở đây sẽ thoát khỏi uể oải, buồn ngủ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ bồn chồn (trạo cử / uddhatā), chúng ta ở đây sẽ không bồn chồn’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nghi ngờ (vicikicchī), chúng ta ở đây sẽ vượt qua nghi ngờ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ tức giận (phẫn nộ / kodhanā), chúng ta ở đây sẽ không tức giận’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ thù dai (hiềm hận / upanāhī), chúng ta ở đây sẽ không thù dai’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ che giấu lỗi lầm (hư ngụy / makkhī), chúng ta ở đây sẽ không che giấu lỗi lầm’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ cố chấp (não hại / paḷāsī), chúng ta ở đây sẽ không cố chấp’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ đố kỵ (tật đố / issukī), chúng ta ở đây sẽ không đố kỵ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ keo kiệt (xan tham / maccharī), chúng ta ở đây sẽ không keo kiệt’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ lừa gạt (khiếp nhược / saṭhā), chúng ta ở đây sẽ không lừa gạt’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ là kẻ đạo đức giả (huyễn hoặc / māyāvī), chúng ta ở đây sẽ không là kẻ đạo đức giả’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ cứng đầu (ngoan cố / thaddhā), chúng ta ở đây sẽ không cứng đầu’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ vô cùng ngạo mạn (quá mạn / atimānī), chúng ta ở đây sẽ không vô cùng ngạo mạn’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ khó dạy bảo (ác ngữ / dubbacā), chúng ta ở đây sẽ dễ dạy bảo’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ là bạn xấu (ác hữu / pāpamittā), chúng ta ở đây sẽ là bạn tốt’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ sao nhãng (phóng dật / pamattā), chúng ta ở đây sẽ không sao nhãng (không phóng dật / appamattā)’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ không có niềm tin (vô tín / assaddhā), chúng ta ở đây sẽ có niềm tin’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ không biết xấu hổ (vô tàm / ahirikā), chúng ta ở đây sẽ có lòng biết xấu hổ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ không biết sợ hãi [điều ác] (vô quý / anottāpī), chúng ta ở đây sẽ biết sợ hãi [điều ác]’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ nghe ít học ít (thiểu văn / appassutā), chúng ta ở đây sẽ nghe nhiều học rộng’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ lười biếng (kusītā), chúng ta ở đây sẽ nỗ lực tinh tấn’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ mất sự chú tâm (thất niệm / muṭṭhassatī), chúng ta ở đây sẽ thiết lập sự chú tâm’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ thiếu trí tuệ (ác tuệ / duppaññā), chúng ta ở đây sẽ đầy đủ trí tuệ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

‘Những người khác sẽ bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ (tự kiến thủ, cố chấp, khó xả ly / sandiṭṭhiparāmāsī ādhānaggāhī duppaṭinissaggī), chúng ta ở đây sẽ không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ’; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.

(Ðoạn giảm)

Này Cunda, ở đây đoạn giảm được các Người thực hiện khi các Người nghĩ:

(1) “Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(2) “Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(3) “Những kẻ khác có thể lấy của không cho, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ lấy của không cho”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(4) “Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh”, như vậy… (như trên)… thực hiện.
(5) “Những kẻ khác có thể nói láo, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói láo”,… (như trên)…
(6) “Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi”,… (như trên)…
(7) “Những kẻ khác có thể nói lời độc ác”, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác", … (như trên)…
(8) “Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm”,… (như trên)…
(9) “Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây không tham dục”,… (như trên)…
(10) “Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm”,… (như trên)…
(11) "Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến,… (như trên)…
(12) “Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy”,… (như trên)…
(13) “Những kẻ khác có thể có tà ngữ, chúng ta ở đây sẽ có chánh ngữ”,… (như trên)…
(14) “Những kẻ khác có thể có tà nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có chánh nghiệp”,… (như trên)…
(15) “Những kẻ khác có thể có tà mạng, chúng ta ở đây sẽ có chánh mạng”,… (như trên)…
(16) “Những kẻ khác có thể có tà tinh tấn, chúng ta ở đây sẽ có chánh tinh tấn”,… (như trên)…
(17) “Những kẻ khác có thể có tà niệm, chúng ta ở đây sẽ có chánh niệm”,… (như trên)…
(18) “Những kẻ khác có thể có tà định, chúng ta ở đây sẽ có chánh định”,… (như trên)…
(19) “Những kẻ khác có thể có tà trí, chúng ta ở đây sẽ có chánh trí”,… (như trên)…
(20) “Những kẻ khác có thể có tà giải thoát, chúng ta ở đây sẽ có chánh giải thoát”,… (như trên)…
(21) “Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối”,… (như trên)…
(22) “Những kẻ khác có thể có trạo hối, chúng ta ở đây sẽ không có trạo hối”,… (như trên)…
(23) “Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc”,… (như trên)…
(24) “Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ”,… (như trên)…
(25) “Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận”,… (như trên)…
(26) “Những kẻ khác có thể hư ngụy, chúng ta ở đây sẽ không hư ngụy”,… (như trên)…
(27) “Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại”,… (như trên)…
(28) “Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố”,… (như trên)…
(29) “Những kẻ khác có thể xan tham, chúng ta ở đây sẽ không xan tham”,… (như trên)…
(30) "Những kẻ khác có thể man trá, chúng ta ở đây sẽ không man trá,… (như trên)…\

(31) “Những kẻ khác có thể khi cuống, chúng ta ở đây sẽ không khi cuống”,… (như trên)…
(32) “Những kẻ khác có thể ngoan cố, chúng ta ở đây không thể ngoan cố”,… (như trên)…
(33) “Những kẻ khác có thể cấp tháo, chúng ta ở đây không thể cấp tháo”,… (như trên)…
(34) “Những kẻ khác có thể khó nói (nan thuyết), chúng ta ở đây sẽ dễ nói”,… (như trên)…
(35) “Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện hữu”,… (như trên)…
(36) “Những kẻ khác có thể phóng dật, chúng ta ở đây sẽ không phóng dật”,… (như trên)…
(37) “Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có tín tâm”,… (như trên)…
(38) “Những kẻ khác có thể không xấu hổ, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ”,… (như trên)…
(39) “Những kẻ khác có thể không sợ hãi, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi”,… (như trên)…
(40) “Những kẻ khác có thể nghe ít, chúng ta ở đây sẽ nghe nhiều”… (như trên)…
(41) “Những kẻ khác có thể biếng nhác, chúng ta ở đây sẽ siêng năng”,… (như trên)…
(42) “Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ an trú niệm”,… (như trên)…
(43) “Những kẻ khác có thể liệt tuệ, chúng ta ở đây thành tựu tuệ”,… (như trên)…
(44) “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả” như vậy đoạn giảm được thực hiện.

2. Phương pháp Khởi Tâm

(Cittupapādapariyāya)

Này Cunda, Ta nói rằng ngay cả sự khởi lên ý nghĩ (tâm sanh / cittuppāda) cũng mang lại nhiều lợi ích đối với những điều thiện, huống hồ là việc tuân theo bằng hành động của cơ thể và lời nói. Do đó, này Cunda, cần phải khởi lên ý nghĩ: ‘Những người khác sẽ gây hại, chúng ta ở đây sẽ không gây hại’. Cần phải khởi lên ý nghĩ: ‘Những người khác sẽ giết hại sinh mệnh, chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc giết hại sinh mệnh’ […lặp lại…] Cần phải khởi lên ý nghĩ: ‘Những người khác sẽ bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, chúng ta ở đây sẽ không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ’.

(Khởi tâm)

Này Cunda, Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp (với tâm ý). Do vậy, này Cunda:

(1) “Những kẻ khác có thể làm hại, chúng ta ở đây sẽ không làm hại”, cần phải khởi tâm như vậy. (2) “Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh”, cần phải khởi tâm như vậy… (như trên)… (3-43) "Những kẻ khác… (như trên)…
(44) “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, cần phải phát tâm như vậy.

3. Phương pháp Tránh Né

(Parikkamanapariyāya)

Này Cunda, giống như có một con đường gập ghềnh, và có một con đường bằng phẳng khác để sự đi vòng qua (tránh né) (parikkamanāya); hoặc này Cunda, giống như có một bến nước gập ghềnh, và có một bến nước bằng phẳng khác để sự đi vòng qua (tránh né); cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại là con đường để tránh né; đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh là con đường để tránh né; đối với người lấy của không cho, việc tránh xa lấy của không cho là con đường để tránh né; đối với người sống không thánh thiện, việc sống thánh thiện là con đường để tránh né; đối với người nói dối, việc tránh xa nói dối là con đường để tránh né; đối với người nói lời chia rẽ, việc tránh xa nói lời chia rẽ là con đường để tránh né; đối với người nói lời thô lỗ, việc tránh xa nói lời thô lỗ là con đường để tránh né; đối với người nói lời nhảm nhí, việc tránh xa nói lời nhảm nhí là con đường để tránh né; đối với người có lòng tham, sự không có lòng tham là con đường để tránh né; đối với người có tâm ác ý hãm hại, sự không có tâm ác ý hãm hại là con đường để tránh né.

Đối với người có quan điểm sai, việc Nhìn thấy Thiện là con đường để tránh né; đối với người có suy nghĩ sai, việc Suy nghĩ Thiện là con đường để tránh né; đối với người có lời nói sai, việc Lời nói Thiện là con đường để tránh né; đối với người có hành động sai, việc Hành động Thiện là con đường để tránh né; đối với người có đời sống sai, việc Đời sống Thiện là con đường để tránh né; đối với người có nỗ lực sai, việc Nỗ lực Thiện là con đường để tránh né; đối với người có trí nhớ không quên sai, việc Trí nhớ không quên Thiện là con đường để tránh né; đối với người có định sai, việc Định Thiện là con đường để tránh né; đối với người có hiểu biết sai, hiểu biết Thiện là con đường để tránh né; đối với người có giải thoát sai, giải thoát Thiện là con đường để tránh né.

Đối với người bị uể oải, buồn ngủ bao trùm, việc thoát khỏi uể oải, buồn ngủ là con đường để tránh né; đối với người bồn chồn, sự không bồn chồn là con đường để tránh né; đối với người nghi ngờ, việc vượt qua nghi ngờ là con đường để tránh né; đối với người tức giận, sự không tức giận là con đường để tránh né; đối với người thù dai, sự không thù dai là con đường để tránh né; đối với người che giấu lỗi lầm, sự không che giấu lỗi lầm là con đường để tránh né; đối với người cố chấp, sự không cố chấp là con đường để tránh né; đối với người đố kỵ, sự không đố kỵ là con đường để tránh né; đối với người keo kiệt, sự không keo kiệt là con đường để tránh né; đối với người lừa gạt, sự không lừa gạt là con đường để tránh né; đối với kẻ đạo đức giả, sự không đạo đức giả là con đường để tránh né; đối với người cứng đầu, sự không cứng đầu là con đường để tránh né; đối với người vô cùng ngạo mạn, sự không vô cùng ngạo mạn là con đường để tránh né; đối với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo là con đường để tránh né; đối với người là bạn xấu, việc làm bạn tốt là con đường để tránh né; đối với người sao nhãng, sự không sao nhãng là con đường để tránh né; đối với người không có niềm tin, việc có niềm tin là con đường để tránh né; đối với người không biết xấu hổ, việc có lòng biết xấu hổ là con đường để tránh né; đối với người không biết sợ hãi [điều ác], việc biết sợ hãi [điều ác] là con đường để tránh né; đối với người nghe ít học ít, việc nghe nhiều học rộng là con đường để tránh né; đối với người lười biếng, việc nỗ lực tinh tấn là con đường để tránh né; đối với người mất sự chú tâm, việc thiết lập sự chú tâm là con đường để tránh né; đối với người thiếu trí tuệ, việc đầy đủ trí tuệ là con đường để tránh né; đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ là con đường để tránh né.

(Từ bỏ)

Này Cunda, giống như một con đường không bằng phẳng, có một con đường bằng phẳng khác đối trị. Này Cunda, giống như một bến nước không bằng phẳng, có một bến nước bằng phẳng khác đối trị. Cũng vậy này Cunda:

(1) Ðối với con người làm hại, có sự không làm hại đối trị. (2) Ðối với con người sát sanh, có từ bỏ sát sanh đối trị. (3) Ðối với con người lấy của không cho, có từ bỏ lấy của không cho đối trị. (4-43) …, không phạm hạnh, có phạm hạnh…; nói láo, có từ bỏ nói láo…; nói hai lưỡi, có từ bỏ nói hai lưỡi…; nói ác khẩu, có từ bỏ nói ác khẩu; nói phù phiếm, có từ bỏ nói phù phiếm…;… tham dục, có không tham dục…;… sân tâm, có không sân tâm…;… tà kiến, có chánh kiến…;… tà tư duy, có chánh tư duy…;… tà ngữ, có chánh ngữ…;… tà nghiệp, có chánh nghiệp…;… tà mạng, có chánh mạng…;… tà tinh tấn, có chánh tinh tấn…;… tà niệm, có chánh niệm…;… tà định, có chánh định…;… tà trí, có chánh trí…;… tà giải thoát, có chánh giải thoát…;… bị hôn trầm thụy miên chi phối, có không bị hôn trầm thụy miên chi phối…;… trạo hối, có không trạo hối…;… nghi hoặc, có trừ diệt nghi hoặc…;… phẫn nộ, có không phẫn nộ…;… oán hận, có không oán hận…;… hư ngụy, có không hư ngụy…;… não hại, có không não hại…;… tật đố, có không tật đố…;… xan tham, có không xan tham…;… man trá, có không man trá…;… khi cuống, có không khi cuống…;… ngoan cố, có không ngoan cố… cấp tháo, có không cấp tháo…;… khó nói, có không khó nói…;… ác hữu, có thiện hữu…;… phóng dật, có không phóng dật…;… bất tín, có tín tâm…;… không xấu hổ, có xấu hổ…;… không sợ hãi, có sợ hãi…;… nghe ít, có nghe nhiều…;… biếng nhác, có siêng năng…;… thất niệm, có an trú niệm…;… liệt tuệ, có thành tựu tuệ… (44) Ðối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, có không nhiễm thế tục, không

cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả đối trị.

4. Phương pháp Hướng Thượng

(Uparibhāgapariyāya)

Này Cunda, giống như tất cả những điều không thiện đều dẫn đi xuống, và tất cả những điều thiện đều dẫn hướng đi lên (thượng phần / uparibhāgāya); cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại là con đường hướng đi lên; đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh là con đường hướng đi lên […lặp lại…] đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ là con đường hướng đi lên.

(Hướng thượng)

Này Cunda, ví như các bất thiện pháp, tất cả đều hướng hạ, còn các thiện pháp, tất cả đều hướng thượng. Cũng vậy, này Cunda:

(1) Con người không làm hại, hướng thượng đối với người làm hại, con người từ bỏ sát sanh, hướng thượng đối với người sát sanh. (2) Con người từ bỏ lấy của không cho, hướng thượng đối với người lấy của không cho. (3-43) Con người … (như trên)…
(44) Con người không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, hướng thượng đối với người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả.

5. Phương pháp Dập Tắt Hoàn Toàn

(Parinibbānapariyāya)

Này Cunda, một người tự mình bị chìm trong vũng lầy (palipapalipanno) mà có thể kéo một người khác bị chìm trong vũng lầy lên, điều đó không thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình không bị chìm trong vũng lầy mà có thể kéo một người khác bị chìm trong vũng lầy lên, điều đó có thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình chưa được huấn luyện, chưa được rèn giũa, chưa đạt được sự dập tắt hoàn toàn (viên tịch / parinibbuto) mà có thể huấn luyện, rèn giũa, và giúp người khác đạt được sự dập tắt hoàn toàn, điều đó không thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình đã được huấn luyện, đã được rèn giũa, đã đạt được sự dập tắt hoàn toàn mà có thể huấn luyện, rèn giũa, và giúp người khác đạt được sự dập tắt hoàn toàn, điều đó có thể xảy ra.

Cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn (parinibbānāya); đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lấy của không cho, việc tránh xa lấy của không cho dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người sống không thánh thiện, việc sống thánh thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói dối, việc tránh xa nói dối dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời chia rẽ, việc tránh xa nói lời chia rẽ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời thô lỗ, việc tránh xa nói lời thô lỗ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời nhảm nhí, việc tránh xa nói lời nhảm nhí dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có lòng tham, sự không có lòng tham dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có tâm ác ý hãm hại, sự không có tâm ác ý hãm hại dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.

Đối với người có quan điểm sai, việc Nhìn thấy Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có suy nghĩ sai, việc Suy nghĩ Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có lời nói sai, việc Lời nói Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có hành động sai, việc Hành động Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có đời sống sai, việc Đời sống Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có nỗ lực sai, việc Nỗ lực Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có trí nhớ không quên sai, việc Trí nhớ không quên Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có định sai, việc Định Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có hiểu biết sai, hiểu biết Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có giải thoát sai, giải thoát Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.

Đối với người bị uể oải, buồn ngủ bao trùm, việc thoát khỏi uể oải, buồn ngủ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người bồn chồn, sự không bồn chồn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nghi ngờ, việc vượt qua nghi ngờ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người tức giận, sự không tức giận dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người thù dai, sự không thù dai dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người che giấu lỗi lầm, sự không che giấu lỗi lầm dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người cố chấp, sự không cố chấp dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người đố kỵ, sự không đố kỵ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người keo kiệt, sự không keo kiệt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lừa gạt, sự không lừa gạt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với kẻ đạo đức giả, sự không đạo đức giả dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người cứng đầu, sự không cứng đầu dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người vô cùng ngạo mạn, sự không vô cùng ngạo mạn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người là bạn xấu, việc làm bạn tốt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người sao nhãng, sự không sao nhãng dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không có niềm tin, việc có niềm tin dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không biết xấu hổ, việc có lòng biết xấu hổ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không biết sợ hãi [điều ác], việc biết sợ hãi [điều ác] dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nghe ít học ít, việc nghe nhiều học rộng dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lười biếng, việc nỗ lực tinh tấn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người mất sự chú tâm, việc thiết lập sự chú tâm dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người thiếu trí tuệ, việc đầy đủ trí tuệ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.

(Pháp môn giải thoát)

Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy không xảy ra. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy xảy ra. Cũng vậy, này Cunda:

(1) Ðối với người làm hại, không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát; đối với con người sát sanh, từ bỏ sát sanh đưa đến hoàn toàn giải thoát. (2) Ðối với con người lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho đưa đến hoàn toàn giải thoát. (3-43) Ðối với con người không phạm hạnh, sống phạm hạnh…; đối với con người nói láo, từ bỏ nói láo…; đối với con người nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi…; đối với con người ác khẩu, từ bỏ nói ác khẩu…; đối với con người nói phù phiếm, từ bỏ nói phù phiếm…; đối với con người có tham dục, không tham dục…; đối với con người có sân tâm, không sân tâm…; đối với con người có tà kiến, chánh kiến…; đối với con người có tà tư duy, chánh tư duy…; đối với con người có tà ngữ, chánh ngữ…; đối với con người có tà nghiệp, chánh nghiệp…; đối với con người có tà mạng, chánh mạng…; đối với con người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn…; đối với con người có tà niệm, chánh niệm…; đối với con người có tà định, chánh định…; đối với con người có tà trí, chánh trí…; đối với con người có tà giải thoát, chánh giải thoát…; đối với con người bị hôn trầm thụy miên chi phối, không bị hôn trầm thụy miên chi phối…; đối với con người trạo hối, không trạo hối…; đối với con người nghi hoặc, không nghi hoặc…; đối với con người phẫn nộ, không phẫn nộ…; đối với con người oán hận, không oán hận…; đối với con người hư ngụy, không hư ngụy…; đối với con người não hại, không não hại…; đối với con người tật đố, không tật đố…; đối với con người xan tham, không xan tham…; đối với con người man trá, không man trá…; đối với con người khi cuống, không khi cuống…; đối với con người ngoan cố, không ngoan cố…; đối với con người cấp tháo, không cấp tháo …; đối với con người khó nói, dễ nói…; đối với con người ác hữu, thiện hữu…; đối với con người phóng dật, không phóng dật…; đối với con người bất tín, tín tâm…; đối với con người không xấu hổ, có xấu hổ…; đối với con người không sợ hãi, có sợ hãi…; đối với con người nghe ít, nghe nhiều…; đối với con người biếng nhác, siêng năng…; đối với con người thất niệm, an trú niệm…; đối với con người liệt tuệ, thành tựu trí tuệ… (44) Ðối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, đưa đến hoàn toàn giải thoát.

Như vậy, này Cunda, phương pháp gột rửa đã được Ta giảng dạy, phương pháp khởi tâm đã được giảng dạy, phương pháp tránh né đã được giảng dạy, phương pháp hướng thượng đã được giảng dạy, phương pháp dập tắt hoàn toàn đã được giảng dạy. Này Cunda, những gì một vị Đạo sư cần làm cho các đệ tử vì lòng mong cầu lợi ích, vì lòng trắc ẩn, khởi lên từ lòng trắc ẩn, Ta đã làm điều đó cho các ông. Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Hãy thực hành Thiền-na, này Cunda, chớ có sao nhãng, chớ để về sau phải hối hận—đây là lời giáo huấn của Ta dành cho các ông."

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahācunda hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Bốn mươi bốn câu được tuyên thuyết,
Năm phần kết nối đã giảng bày;
Kinh này mang tên là Gột Rửa,
Thâm sâu tựa như chốn biển khơi.

Kinh Gột Rửa thứ tám kết thúc.

(Kết luận)

Này Cunda, như vậy Ta đã giảng pháp môn đoạn giảm, đã giảng pháp môn khởi tâm, đã giảng pháp môn đối trị, đã giảng pháp môn hướng thượng, đã giảng pháp môn giải thoát hoàn toàn.

Này Cunda, những gì bậc Ðạo Sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng cho các Người. Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Người.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Cunda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-