Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

Kinh Tấm Vải

(Vatthasutta)

Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

MN 7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI

(Vatthùpama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. --“Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, ví như một tấm vải bị dính bẩn, ố màu; nếu người thợ nhuộm nhúng nó vào bất kỳ loại thuốc nhuộm nào—dù là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, hay màu đỏ sẫm—thì màu sắc của nó sẽ hiện ra rất xấu xí, màu sắc của nó sẽ hiện ra không trong sạch. Do nguyên nhân gì? Này các tỳ kheo, là do tấm vải không trong sạch.

Tương tự như vậy, này các tỳ kheo, khi tâm trí bị dính bẩn, một cõi xấu là điều chắc chắn xảy ra. Này các tỳ kheo, ví như một tấm vải trong sạch, trắng trẻo; nếu người thợ nhuộm nhúng nó vào bất kỳ loại thuốc nhuộm nào—dù là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, hay màu đỏ sẫm—thì màu sắc của nó sẽ hiện ra rất đẹp đẽ, màu sắc của nó sẽ hiện ra trong sạch. Do nguyên nhân gì? Này các tỳ kheo, là do tấm vải trong sạch.

Tương tự như vậy, này các tỳ kheo, khi tâm trí không bị dính bẩn, một cõi tốt đẹp là điều chắc chắn xảy ra.

– Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.

Và này các tỳ kheo, thế nào là những vết nhơ (tùy phiền não / upakkilesā) của tâm trí? Lòng tham và sự thèm khát vô độ (tham dục và tà tham / abhijjhāvisamalobho) là vết nhơ của tâm trí, ác ý hãm hại (sân hận / byāpādo) là vết nhơ của tâm trí, tức giận (phẫn / kodho) là vết nhơ của tâm trí, thù dai (hận / upanāho) là vết nhơ của tâm trí, bôi nhọ (triêu / makkho) là vết nhơ của tâm trí, hống hách (kháng / paḷāso) là vết nhơ của tâm trí, đố kỵ (tật / issā) là vết nhơ của tâm trí, keo kiệt (san / macchariyaṁ) là vết nhơ của tâm trí, dối trá (huyễn / māyā) là vết nhơ của tâm trí, đạo đức giả (khi / sāṭheyyaṁ) là vết nhơ của tâm trí, cứng đầu (thể / thambho) là vết nhơ của tâm trí, hiếu thắng (táo / sārambho) là vết nhơ của tâm trí, ngạo mạn (mạn / māno) là vết nhơ của tâm trí, quá ngạo mạn (quá mạn / atimāno) là vết nhơ của tâm trí, say sưa tự mãn (kiêu / mado) là vết nhơ của tâm trí, sao nhãng (phóng dật / pamādo) là vết nhơ của tâm trí.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.

Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo ấy sau khi biết rõ ‘lòng tham và sự thèm khát vô độvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ (đoạn trừ / pajahati) lòng tham và sự thèm khát vô độvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘ác ý hãm hạivết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ ác ý hãm hạivết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘tức giậnvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ tức giậnvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘thù daivết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ thù daivết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘bôi nhọvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ bôi nhọvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘hống háchvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ hống háchvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘đố kỵvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ đố kỵvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘keo kiệtvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ keo kiệtvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘dối trávết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ dối trávết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘đạo đức giảvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ đạo đức giảvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘cứng đầuvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ cứng đầuvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘hiếu thắngvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ hiếu thắngvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘ngạo mạnvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ ngạo mạnvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘quá ngạo mạnvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ quá ngạo mạnvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘say sưa tự mãnvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ say sưa tự mãnvết nhơ của tâm trí; sau khi biết rõ ‘sao nhãngvết nhơ của tâm trí’, vị ấy từ bỏ sao nhãngvết nhơ của tâm trí.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: “Sân là cấu uế của tâm”, và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn… hận… hư ngụy… não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống… ngoan cố… cấp tháo… mạn… quá mạn… kiêu; nghĩ rằng: “Phóng dật là cấu uế của tâm” thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.

Này các tỳ kheo, khi vị tỳ kheo sau khi biết rõ ‘lòng tham và sự thèm khát vô độvết nhơ của tâm trí’, lòng tham và sự thèm khát vô độvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ (đoạn tận / pahīno hoti); sau khi biết rõ ‘ác ý hãm hạivết nhơ của tâm trí’, ác ý hãm hạivết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘tức giậnvết nhơ của tâm trí’, tức giậnvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘thù daivết nhơ của tâm trí’, thù daivết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘bôi nhọvết nhơ của tâm trí’, bôi nhọvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘hống háchvết nhơ của tâm trí’, hống háchvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘đố kỵvết nhơ của tâm trí’, đố kỵvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘keo kiệtvết nhơ của tâm trí’, keo kiệtvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘dối trávết nhơ của tâm trí’, dối trávết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘đạo đức giảvết nhơ của tâm trí’, đạo đức giảvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘cứng đầuvết nhơ của tâm trí’, cứng đầuvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘hiếu thắngvết nhơ của tâm trí’, hiếu thắngvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘ngạo mạnvết nhơ của tâm trí’, ngạo mạnvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘quá ngạo mạnvết nhơ của tâm trí’, quá ngạo mạnvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘say sưa tự mãnvết nhơ của tâm trí’, say sưa tự mãnvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ; sau khi biết rõ ‘sao nhãngvết nhơ của tâm trí’, sao nhãngvết nhơ của tâm trí đã được hoàn toàn từ bỏ.

Vị ấy có được niềm tin tuyệt đối (tịnh tín / aveccappasādena) vào Đức Phật: ‘Chính vì điều này, Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ hiểu biếtcách cư xử đúng đắn, Đấng Thiện Thệ, Người hiểu rõ thế gian, Bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, Bậc Thầy của chư thiên và loài người, Đức Phật, Thế Tôn’;

Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, … sân… phẫn… hận… hư ngụy… não hại… tật đố… xan tham… man trá… khi cuống… ngoan cố… cấp tháo… mạn… quá mạn… kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: “Phóng dật là cấu uế của tâm”, phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Vị ấy có được niềm tin tuyệt đối vào Quy luật (pháp / dhamme): ‘Quy luật được Thế Tôn khéo léo giảng dạy, có thể thấy ngay trong hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt hướng thượng, được người trí tự mình trải nghiệm’;

Vị ấy có được niềm tin tuyệt đối vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành tốt đẹp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành ngay thẳng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành đúng phương pháp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành chân chính, tức là bốn đôi tám vị. Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn này đáng được cúng dường, đáng được tôn kính, đáng được nhận quà tặng, đáng được chắp tay chào, là ruộng phước vô thượng ở đời’.

Đến mức độ mà vị ấy đã buông bỏ (xả ly / cattaṁ), nhả ra, thoát được khỏi, hoàn toàn từ bỏ, và buông xả [các vết nhơ], vị ấy nghĩ: ‘Ta đã có được niềm tin tuyệt đối vào Đức Phật’, và vị ấy nhận được sự hiểu biết về ý nghĩa, nhận được sự hiểu biết về Quy luật, nhận được niềm vui sướng (hân hoan / pāmojjaṁ) liên quan đến Quy luật. Từ người có niềm vui sướng, sự hân hoan (hỷ / pīti) sinh ra; với tâm trí hân hoan, cơ thể trở nên lắng dịu (khinh an / passambhati); với cơ thể lắng dịu, vị ấy trải nghiệm hạnh phúc (lạc / sukha); với người có hạnh phúc, tâm trí trở nên tập trung (định / samādhiyati).

[Vị ấy nghĩ:] ‘Ta đã có được niềm tin tuyệt đối vào Quy luật… […lặp lại…] vào Tăng đoàn’, và vị ấy nhận được sự hiểu biết về ý nghĩa, nhận được sự hiểu biết về Quy luật, nhận được niềm vui sướng liên quan đến Quy luật; từ người có niềm vui sướng, sự hân hoan sinh ra; với tâm trí hân hoan, cơ thể trở nên lắng dịu; với cơ thể lắng dịu, vị ấy trải nghiệm hạnh phúc; với người có hạnh phúc, tâm trí trở nên tập trung.

[Vị ấy nghĩ:] ‘Đến mức độ mà ta đã cho đi, nhả ra, thoát được khỏi, hoàn toàn từ bỏ, và buông xả’, và vị ấy nhận được sự hiểu biết về ý nghĩa, nhận được sự hiểu biết về Quy luật, nhận được niềm vui sướng liên quan đến Quy luật; từ người có niềm vui sướng, sự hân hoan sinh ra; với tâm trí hân hoan, cơ thể trở nên lắng dịu; với cơ thể lắng dịu, vị ấy trải nghiệm hạnh phúc; với người có hạnh phúc, tâm trí trở nên tập trung.

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly.

Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, từ hân hoan, hỷ sanh, từ hỷ thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.

Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh, từ hỷ thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.

Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.

Vị ấy tự nghĩ: “Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.

Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo có đạo đức như vậy, hiểu Điểu dạy như vậy, có trí tuệ như vậy, cho dù vị ấy có ăn thức ăn khất thực là gạo sālī trắng tinh cùng với nhiều loại súp và thức ăn kèm, điều đó cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy. Này các tỳ kheo, ví như một tấm vải bị dính bẩn, ố màu, nhờ nước trong sạch mà trở nên sạch sẽ, trắng trẻo; hoặc ví như vàng nhờ lò nung mà trở nên sạch sẽ, sáng bóng; tương tự như vậy, này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo có đạo đức như vậy, hiểu Điểu dạy như vậy, có trí tuệ như vậy, cho dù vị ấy có ăn thức ăn khất thực là gạo sālī trắng tinh cùng với nhiều loại súp và thức ăn kèm, điều đó cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy.

Vị ấy an trú, lan tỏa Tâm yêu thương (từ / mettā) cùng với tâm trí đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm trí đi cùng Tâm yêu thương, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn (vô lượng / appamāṇena), không hận thù, không ác ý hãm hại. Vị ấy an trú, lan tỏa Tâm thông cảm (bi / karuṇā) cùng với tâm trí… […lặp lại…] lan tỏa Tâm cùng vui (hỷ / muditā) cùng với tâm trí… […lặp lại…] lan tỏa tâm quân bình (xả / upekkhā) cùng với tâm trí đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm trí đi cùng tâm quân bình, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý hãm hại.

Vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti): ‘Có cái này, có cái thấp kém, có cái cao thượng, có sự thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) vượt lên trên những nhận thức (tưởng / saññā) này’.

Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm trí được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsava), tâm trí được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), tâm trí được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết rằng ‘đã được giải thoát’.

Vị ấy thấy rõ: ‘Sự tái sinh đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là: ‘Người đã tắm rửa bằng sự tắm rửa bên trong’."

Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… (như trên)… với tâm câu hữu với hỷ… (như trên)… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.

Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đang ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja nói với Thế Tôn điều này: “Nhưng Tôn giả Gotama có đi đến sông Bāhukā để tắm không?”

“Này Bà-la-môn, sông Bāhukā thì có ích gì? Sông Bāhukā có thể làm được gì?”

“Thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người coi là nơi giải thoát, thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người coi là nơi mang lại phước báu, và nhiều người gột rửa những hành động ác đã làm ở dòng sông Bāhukā.”

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?

– Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?

– Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja bằng những vần kệ:

"Sông Bāhukā, Adhikakka,
Gayā, Sundarikā, hay Sarasvatī,
Payāga, hay dòng Bāhumatī;
Kẻ ngu dẫu tắm mãi,
Nghiệp đen chẳng sạch trong.

Sundarikā làm được gì?
Payāga hay Bāhukā làm được gì?
Kẻ thù hằn, mang đầy tội lỗi,
Nước chẳng thể rửa sạch ác nhân.

Người thanh tịnh, ngày nào cũng tốt lành,
Người thanh tịnh, ngày nào cũng giữ giới;
Người thanh tịnh, hành động luôn trong sạch,
Lời nguyện cầu luôn luôn được thành tựu;
Này Bà-la-môn, hãy tắm ngay tại đây,
Ban an toàn cho tất cả sinh linh.

Nếu ông không nói dối,
Nếu ông không sát sinh;
Nếu không lấy của không cho,
Có niềm tin, không keo kiệt;
Đi đến Gayā để làm gì?
Giếng nước nhà cũng chính là Gayā."

Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja:

Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.

Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.

Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,

Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu (thiện) hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?

Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja nói với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che khuất, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình dáng; cũng vậy, Quy luật đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Quy luật và Tăng đoàn tỳ kheo. Xin cho con được xuất gia trước mặt Tôn giả Gotama, xin cho con được thọ giới cụ túc.”

Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đã được xuất gia trước mặt Thế Tôn, đã được thọ giới cụ túc. Không lâu sau khi thọ giới cụ túc, Tôn giả Bhāradvāja sống một mình, rời bỏ, không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết chí; và không bao lâu, mục đích vô thượng của cốt lõi đời sống thánh thiện—điều mà các thiện nam tử đã rời bỏ gia đình để sống đời không nhà hướng tới—vị ấy đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại.

Vị ấy nhận biết: “Sự tái sinh đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Kinh Tấm Vải thứ bảy đã kết thúc.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!

Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bharadvaja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Như vậy, Tôn giả Bharadvaja trở thành một vị A-la-hán nữa.

-ooOoo-