MN 8. KINH GỘT RỬA
(Sallekhasutta)
Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Kỳ Viên, trong tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Khi ấy, Tôn giả Mahācunda vào buổi chiều, sau khi xuất định, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahācunda thưa với Thế Tôn điều này:
"Bạch Thế Tôn, có nhiều loại quan điểm sai (kiến / diṭṭhiyo) khác nhau khởi lên ở đời—hoặc liên quan đến quan điểm về tự ngã (ngã luận / attavādapaṭisaṁyuttā), hoặc liên quan đến quan điểm về thế giới (thế giới luận / lokavādapaṭisaṁyuttā)—bạch Thế Tôn, đối với một vị tỳ kheo ngay từ đầu đang suy nghĩ (tác ý / manasikaroto), làm thế nào để có sự từ bỏ (đoạn trừ / pahānaṁ) những quan điểm sai này, làm thế nào để có sự buông bỏ (xả ly / paṭinissaggo) những quan điểm sai này?"
"Này Cunda, có nhiều loại quan điểm sai khác nhau khởi lên ở đời—hoặc liên quan đến quan điểm về tự ngã, hoặc liên quan đến quan điểm về thế giới—bất cứ nơi nào những quan điểm sai này khởi lên, bất cứ nơi nào chúng ám ảnh, và bất cứ nơi nào chúng chi phối, người ấy quán sát bằng trí tuệ đúng đắn theo đúng thực tại (như thật chánh tuệ / yathābhūtaṁ sammappaññā) rằng: 'Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'—như vậy là có sự từ bỏ những quan điểm sai này, như vậy là có sự buông bỏ những quan điểm sai này.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất (sơ thiền / paṭhamaṁ jhānaṁ), một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan và hạnh phúc (hỷ lạc / pītisukhaṁ) sinh ra từ sự rời bỏ (do viễn ly sanh / vivekajaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa (sallekhena)'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại (hiện tại lạc trú / diṭṭhadhammasukhavihārā).
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, với sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ diệt / vitakkavicārānaṁ vūpasamā), đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai (nhị thiền / dutiyaṁ jhānaṁ), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định (do định sanh / samādhijaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, cạn hết đắm nhiễm vào sự hân hoan (ly hỷ / pītiyā ca virāgā), sống với tâm quân bình (xả / upekkhako), chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato ca sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể (thân cảm sự lạc / sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyya), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba (tam thiền / tatiyaṁ jhānaṁ), trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là: 'Người có tâm quân bình, chú tâm (chánh niệm / satimā), sống hạnh phúc'. Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, với việc hoàn toàn từ bỏ hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ (xả lạc xả khổ / sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā), với sự tan biến từ trước của thanh thản và ưu phiền (diệt hỷ ưu / pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư (tứ thiền / catutthaṁ jhānaṁ), một trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), có sự trong sạch của sự chú tâm nhờ tâm bình thản (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, bằng cách vượt qua hoàn toàn nhận thức về hình ảnh (vượt qua sắc tưởng / sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā), với sự tan biến của nhận thức qua va chạm (diệt chướng ngại tưởng / paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā), không suy nghĩ đến nhận thức về sự khác biệt (không tác ý dị tưởng / nānattasaññānaṁ amanasikārā), nghĩ rằng 'Không gian là vô tận', đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình (tịch tịnh trú / santā ete vihārā).
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ''Cái Biết' là vô tận', đạt đến và an trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi 'Cái Biết' là Vô Tận, nghĩ rằng 'Không có vật gì', đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.
Này Cunda, có khả năng xảy ra trường hợp một vị tỳ kheo ở đây, vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, đạt đến và an trú trong xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Vị ấy có thể nghĩ như sau: 'Tôi đang sống bằng sự gột rửa'. Nhưng này Cunda, trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này không được gọi là sự gột rửa. Trong kỷ luật của bậc thánh, những trạng thái này được gọi là trạng thái sống yên bình.
1. Phương pháp Gột Rửa
(Sallekhapariyāya)
Nhưng này Cunda, ở đây các ông cần phải thực hành sự gột rửa:
'Những người khác sẽ gây hại (tàn ác / vihiṁsakā), chúng ta ở đây sẽ không gây hại'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ giết hại sinh mệnh (sát sanh / pāṇātipātī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc giết hại sinh mệnh'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ lấy của không cho (trộm cắp / adinnādāyī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc lấy của không cho'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ sống không thánh thiện (phi Phạm hạnh / abrahmacārī), chúng ta ở đây sẽ sống thánh thiện'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nói dối, chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói dối'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nói lời chia rẽ (nói hai lời / pisuṇavācā), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời chia rẽ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nói lời thô lỗ (ác khẩu / pharusavācā), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời thô lỗ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nói lời nhảm nhí (ỷ ngữ / samphappalāpī), chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc nói lời nhảm nhí'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có lòng tham (tham lam / abhijjhālū), chúng ta ở đây sẽ không có lòng tham'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có tâm ác ý hãm hại (sân hận / byāpannacittā), chúng ta ở đây sẽ không có tâm ác ý hãm hại'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhī), chúng ta ở đây sẽ Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhī)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có suy nghĩ sai (tà tư duy / micchāsaṅkappā), chúng ta ở đây sẽ Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có lời nói sai (tà ngữ / micchāvācā), chúng ta ở đây sẽ có Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có hành động sai (tà nghiệp / micchākammantā), chúng ta ở đây sẽ có Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammantā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có đời sống sai (tà mạng / micchāājīvā), chúng ta ở đây sẽ có Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có nỗ lực sai (tà tinh tấn / micchāvāyāmā), chúng ta ở đây sẽ có Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có trí nhớ không quên sai (tà niệm / micchāsatī), chúng ta ở đây sẽ có Trí nhớ không quên Thiện (chánh niệm / sammāsatī)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có định sai (tà định / micchāsamādhi), chúng ta ở đây sẽ có Định Thiện (chánh định / sammāsamādhī)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có hiểu biết sai (tà trí / micchāñāṇī), chúng ta ở đây sẽ có hiểu biết Thiện'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ có giải thoát sai (tà giải thoát / micchāvimuttī), chúng ta ở đây sẽ có giải thoát Thiện'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ bị uể oải, buồn ngủ bao trùm (hôn trầm thụy miên chi phối / thinamiddhapariyuṭṭhitā), chúng ta ở đây sẽ thoát khỏi uể oải, buồn ngủ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ bồn chồn (trạo cử / uddhatā), chúng ta ở đây sẽ không bồn chồn'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nghi ngờ (vicikicchī), chúng ta ở đây sẽ vượt qua nghi ngờ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ tức giận (phẫn nộ / kodhanā), chúng ta ở đây sẽ không tức giận'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ thù dai (hiềm hận / upanāhī), chúng ta ở đây sẽ không thù dai'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ che giấu lỗi lầm (hư ngụy / makkhī), chúng ta ở đây sẽ không che giấu lỗi lầm'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ cố chấp (não hại / paḷāsī), chúng ta ở đây sẽ không cố chấp'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ đố kỵ (tật đố / issukī), chúng ta ở đây sẽ không đố kỵ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ keo kiệt (xan tham / maccharī), chúng ta ở đây sẽ không keo kiệt'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ lừa gạt (khiếp nhược / saṭhā), chúng ta ở đây sẽ không lừa gạt'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ là kẻ đạo đức giả (huyễn hoặc / māyāvī), chúng ta ở đây sẽ không là kẻ đạo đức giả'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ cứng đầu (ngoan cố / thaddhā), chúng ta ở đây sẽ không cứng đầu'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ vô cùng ngạo mạn (quá mạn / atimānī), chúng ta ở đây sẽ không vô cùng ngạo mạn'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ khó dạy bảo (ác ngữ / dubbacā), chúng ta ở đây sẽ dễ dạy bảo'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ là bạn xấu (ác hữu / pāpamittā), chúng ta ở đây sẽ là bạn tốt'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ sao nhãng (phóng dật / pamattā), chúng ta ở đây sẽ không sao nhãng (không phóng dật / appamattā)'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ không có niềm tin (vô tín / assaddhā), chúng ta ở đây sẽ có niềm tin'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ không biết xấu hổ (vô tàm / ahirikā), chúng ta ở đây sẽ có lòng biết xấu hổ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ không biết sợ hãi [điều ác] (vô quý / anottāpī), chúng ta ở đây sẽ biết sợ hãi [điều ác]'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ nghe ít học ít (thiểu văn / appassutā), chúng ta ở đây sẽ nghe nhiều học rộng'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ lười biếng (kusītā), chúng ta ở đây sẽ nỗ lực tinh tấn'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ mất sự chú tâm (thất niệm / muṭṭhassatī), chúng ta ở đây sẽ thiết lập sự chú tâm'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ thiếu trí tuệ (ác tuệ / duppaññā), chúng ta ở đây sẽ đầy đủ trí tuệ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
'Những người khác sẽ bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ (tự kiến thủ, cố chấp, khó xả ly / sandiṭṭhiparāmāsī ādhānaggāhī duppaṭinissaggī), chúng ta ở đây sẽ không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ'; sự gột rửa cần phải được thực hành như vậy.
2. Phương pháp Khởi Tâm
(Cittupapādapariyāya)
Này Cunda, Ta nói rằng ngay cả sự khởi lên ý nghĩ (tâm sanh / cittuppāda) cũng mang lại nhiều lợi ích đối với những điều thiện, huống hồ là việc tuân theo bằng hành động của cơ thể và lời nói. Do đó, này Cunda, cần phải khởi lên ý nghĩ: 'Những người khác sẽ gây hại, chúng ta ở đây sẽ không gây hại'. Cần phải khởi lên ý nghĩ: 'Những người khác sẽ giết hại sinh mệnh, chúng ta ở đây sẽ tránh xa việc giết hại sinh mệnh' [...lặp lại...] Cần phải khởi lên ý nghĩ: 'Những người khác sẽ bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, chúng ta ở đây sẽ không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ'.
3. Phương pháp Tránh Né
(Parikkamanapariyāya)
Này Cunda, giống như có một con đường gập ghềnh, và có một con đường bằng phẳng khác để sự đi vòng qua (tránh né) (parikkamanāya); hoặc này Cunda, giống như có một bến nước gập ghềnh, và có một bến nước bằng phẳng khác để sự đi vòng qua (tránh né); cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại là con đường để tránh né; đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh là con đường để tránh né; đối với người lấy của không cho, việc tránh xa lấy của không cho là con đường để tránh né; đối với người sống không thánh thiện, việc sống thánh thiện là con đường để tránh né; đối với người nói dối, việc tránh xa nói dối là con đường để tránh né; đối với người nói lời chia rẽ, việc tránh xa nói lời chia rẽ là con đường để tránh né; đối với người nói lời thô lỗ, việc tránh xa nói lời thô lỗ là con đường để tránh né; đối với người nói lời nhảm nhí, việc tránh xa nói lời nhảm nhí là con đường để tránh né; đối với người có lòng tham, sự không có lòng tham là con đường để tránh né; đối với người có tâm ác ý hãm hại, sự không có tâm ác ý hãm hại là con đường để tránh né.
Đối với người có quan điểm sai, việc Nhìn thấy Thiện là con đường để tránh né; đối với người có suy nghĩ sai, việc Suy nghĩ Thiện là con đường để tránh né; đối với người có lời nói sai, việc Lời nói Thiện là con đường để tránh né; đối với người có hành động sai, việc Hành động Thiện là con đường để tránh né; đối với người có đời sống sai, việc Đời sống Thiện là con đường để tránh né; đối với người có nỗ lực sai, việc Nỗ lực Thiện là con đường để tránh né; đối với người có trí nhớ không quên sai, việc Trí nhớ không quên Thiện là con đường để tránh né; đối với người có định sai, việc Định Thiện là con đường để tránh né; đối với người có hiểu biết sai, hiểu biết Thiện là con đường để tránh né; đối với người có giải thoát sai, giải thoát Thiện là con đường để tránh né.
Đối với người bị uể oải, buồn ngủ bao trùm, việc thoát khỏi uể oải, buồn ngủ là con đường để tránh né; đối với người bồn chồn, sự không bồn chồn là con đường để tránh né; đối với người nghi ngờ, việc vượt qua nghi ngờ là con đường để tránh né; đối với người tức giận, sự không tức giận là con đường để tránh né; đối với người thù dai, sự không thù dai là con đường để tránh né; đối với người che giấu lỗi lầm, sự không che giấu lỗi lầm là con đường để tránh né; đối với người cố chấp, sự không cố chấp là con đường để tránh né; đối với người đố kỵ, sự không đố kỵ là con đường để tránh né; đối với người keo kiệt, sự không keo kiệt là con đường để tránh né; đối với người lừa gạt, sự không lừa gạt là con đường để tránh né; đối với kẻ đạo đức giả, sự không đạo đức giả là con đường để tránh né; đối với người cứng đầu, sự không cứng đầu là con đường để tránh né; đối với người vô cùng ngạo mạn, sự không vô cùng ngạo mạn là con đường để tránh né; đối với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo là con đường để tránh né; đối với người là bạn xấu, việc làm bạn tốt là con đường để tránh né; đối với người sao nhãng, sự không sao nhãng là con đường để tránh né; đối với người không có niềm tin, việc có niềm tin là con đường để tránh né; đối với người không biết xấu hổ, việc có lòng biết xấu hổ là con đường để tránh né; đối với người không biết sợ hãi [điều ác], việc biết sợ hãi [điều ác] là con đường để tránh né; đối với người nghe ít học ít, việc nghe nhiều học rộng là con đường để tránh né; đối với người lười biếng, việc nỗ lực tinh tấn là con đường để tránh né; đối với người mất sự chú tâm, việc thiết lập sự chú tâm là con đường để tránh né; đối với người thiếu trí tuệ, việc đầy đủ trí tuệ là con đường để tránh né; đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ là con đường để tránh né.
4. Phương pháp Hướng Thượng
(Uparibhāgapariyāya)
Này Cunda, giống như tất cả những điều không thiện đều dẫn đi xuống, và tất cả những điều thiện đều dẫn hướng đi lên (thượng phần / uparibhāgāya); cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại là con đường hướng đi lên; đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh là con đường hướng đi lên [...lặp lại...] đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ là con đường hướng đi lên.
5. Phương pháp Dập Tắt Hoàn Toàn
(Parinibbānapariyāya)
Này Cunda, một người tự mình bị chìm trong vũng lầy (palipapalipanno) mà có thể kéo một người khác bị chìm trong vũng lầy lên, điều đó không thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình không bị chìm trong vũng lầy mà có thể kéo một người khác bị chìm trong vũng lầy lên, điều đó có thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình chưa được huấn luyện, chưa được rèn giũa, chưa đạt được sự dập tắt hoàn toàn (viên tịch / parinibbuto) mà có thể huấn luyện, rèn giũa, và giúp người khác đạt được sự dập tắt hoàn toàn, điều đó không thể xảy ra. Này Cunda, một người tự mình đã được huấn luyện, đã được rèn giũa, đã đạt được sự dập tắt hoàn toàn mà có thể huấn luyện, rèn giũa, và giúp người khác đạt được sự dập tắt hoàn toàn, điều đó có thể xảy ra.
Cũng vậy, này Cunda, đối với người gây hại, sự không gây hại dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn (parinibbānāya); đối với người giết hại sinh mệnh, việc tránh xa giết hại sinh mệnh dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lấy của không cho, việc tránh xa lấy của không cho dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người sống không thánh thiện, việc sống thánh thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói dối, việc tránh xa nói dối dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời chia rẽ, việc tránh xa nói lời chia rẽ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời thô lỗ, việc tránh xa nói lời thô lỗ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nói lời nhảm nhí, việc tránh xa nói lời nhảm nhí dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có lòng tham, sự không có lòng tham dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có tâm ác ý hãm hại, sự không có tâm ác ý hãm hại dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.
Đối với người có quan điểm sai, việc Nhìn thấy Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có suy nghĩ sai, việc Suy nghĩ Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có lời nói sai, việc Lời nói Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có hành động sai, việc Hành động Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có đời sống sai, việc Đời sống Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có nỗ lực sai, việc Nỗ lực Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có trí nhớ không quên sai, việc Trí nhớ không quên Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có định sai, việc Định Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có hiểu biết sai, hiểu biết Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người có giải thoát sai, giải thoát Thiện dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.
Đối với người bị uể oải, buồn ngủ bao trùm, việc thoát khỏi uể oải, buồn ngủ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người bồn chồn, sự không bồn chồn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nghi ngờ, việc vượt qua nghi ngờ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người tức giận, sự không tức giận dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người thù dai, sự không thù dai dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người che giấu lỗi lầm, sự không che giấu lỗi lầm dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người cố chấp, sự không cố chấp dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người đố kỵ, sự không đố kỵ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người keo kiệt, sự không keo kiệt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lừa gạt, sự không lừa gạt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với kẻ đạo đức giả, sự không đạo đức giả dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người cứng đầu, sự không cứng đầu dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người vô cùng ngạo mạn, sự không vô cùng ngạo mạn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người là bạn xấu, việc làm bạn tốt dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người sao nhãng, sự không sao nhãng dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không có niềm tin, việc có niềm tin dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không biết xấu hổ, việc có lòng biết xấu hổ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người không biết sợ hãi [điều ác], việc biết sợ hãi [điều ác] dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người nghe ít học ít, việc nghe nhiều học rộng dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người lười biếng, việc nỗ lực tinh tấn dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người mất sự chú tâm, việc thiết lập sự chú tâm dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người thiếu trí tuệ, việc đầy đủ trí tuệ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn. Đối với người bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ chặt, khó buông bỏ, việc không bám víu vào quan điểm của mình, không cố chấp giữ chặt, dễ dàng buông bỏ dẫn đến sự dập tắt hoàn toàn.
Như vậy, này Cunda, phương pháp gột rửa đã được Ta giảng dạy, phương pháp khởi tâm đã được giảng dạy, phương pháp tránh né đã được giảng dạy, phương pháp hướng thượng đã được giảng dạy, phương pháp dập tắt hoàn toàn đã được giảng dạy. Này Cunda, những gì một vị Đạo sư cần làm cho các đệ tử vì lòng mong cầu lợi ích, vì lòng trắc ẩn, khởi lên từ lòng trắc ẩn, Ta đã làm điều đó cho các ông. Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Hãy thực hành Thiền-na, này Cunda, chớ có sao nhãng, chớ để về sau phải hối hận—đây là lời giáo huấn của Ta dành cho các ông."
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahācunda hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Bốn mươi bốn câu được tuyên thuyết,
Năm phần kết nối đã giảng bày;
Kinh này mang tên là Gột Rửa,
Thâm sâu tựa như chốn biển khơi.
Kinh Gột Rửa thứ tám kết thúc.