Skip to content

Chương 12

GIÁO PHÁP

GIÁO PHÁP

NGƯỜI KỂ MỘT. “Giáo pháp” được “Bậc Y Vương Tối Thượng” “khéo léo tuyên thuyết” là gì? Đó có phải là một nỗ lực nhằm miêu tả trọn vẹn thế giới? Hay đó là một hệ thống siêu hình học?

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Có một thời Đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthī, trong rừng Kỳ-đà (Jeta). Một vị thiên tên là Rohitassa đến gặp Ngài vào lúc đêm khuya, đảnh lễ Ngài rồi hỏi: “Bạch Thế Tôn, nơi tận cùng của thế giới—nơi không sinh, không già, không chết, không biến dịch, không tái sinh—liệu có thể biết, thấy hay đi đến nơi đó bằng cách du hành không?”

“Này Hiền giả, Ta không nói rằng có một nơi tận cùng thế giới—nơi không sinh, không già, không chết, không biến dịch, không tái sinh—mà có thể biết, thấy hay đi đến bằng cách du hành. Tuy nhiên, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đi đến tận cùng thế giới. Thay vào đó, chính trong tấm thân dài một trượng này cùng với tri giác và tâm trí của nó, Ta chỉ ra thế giới, nguồn gốc của thế giới, sự chấm dứt của thế giới, và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới.

Chẳng thể nào bước tới
Tận cùng của thế gian
Nhưng chẳng thoát khổ nàn
Nếu chưa đến nơi đó

Bậc Hiền triết thấu đời
Đến tận cùng thế giới
Trọn vẹn sống phạm hạnh
Thấu đời tâm an tịnh
Không màng đời này sau

S. 2:26; A. 4:46

Có một thời Đức Thế Tôn ngụ tại Kosambī, trong một khu rừng cây siṃsapā. Ngài nhặt lấy vài chiếc lá trong tay rồi hỏi các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao, số lá ít ỏi Ta nắm trong tay này nhiều hơn, hay số lá trên cây trong rừng nhiều hơn?”

“Bạch Thế Tôn, số lá Thế Tôn nắm trong tay rất ít; số lá trên cây trong rừng nhiều hơn rất nhiều.”

“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những điều Ta biết bằng thắng trí thì vô cùng nhiều; những điều Ta đã nói với các ông chỉ là số ít. Vì sao Ta không nói những điều ấy? Vì chúng không đem lại lợi ích, không giúp tiến bộ trong đời sống phạm hạnh, và vì chúng không đưa đến ly tham, đoạn diệt, tịch tĩnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Đó là lý do Ta không nói ra. Và Ta đã nói với các ông những gì? ‘Đây là khổ; đây là nguồn gốc của khổ; đây là sự chấm dứt khổ; đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.’ Đó là những gì Ta đã nói. Vì sao Ta nói ra điều đó? Vì nó đem lại lợi ích và sự tiến bộ trong đời sống phạm hạnh, và vì nó đưa đến ly tham, đoạn diệt, tịch tĩnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do đó, này các tỳ-kheo, bổn phận của các ông là: Đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ, đây là sự chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.”

S. 56:31

NGƯỜI KỂ MỘT. Như vậy, giáo pháp không phải là một nỗ lực nhằm miêu tả toàn diện thế giới, dù là nội tâm hay ngoại cảnh. Vậy đó có phải là một hệ thống siêu hình học—một cấu trúc luận lý nhất quán—và nếu vậy, nó dựa trên tiền đề nào?

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Một lần nọ, khi Đức Thế Tôn vào thành Rājagaha để khất thực, tu sĩ lõa thể Kassapa đến gần Ngài, chào hỏi xong liền thưa: “Chúng tôi muốn thưa hỏi Tôn giả Gotama một điều, nếu Tôn giả Gotama hoan hỷ trả lời.”—“Kassapa, đây không phải là lúc thích hợp để hỏi; chúng ta đang đi giữa các khu nhà.” Ông ta hỏi lần thứ hai, rồi lần thứ ba và đều nhận được câu trả lời như vậy. Sau đó ông thưa: “Điều chúng tôi muốn hỏi không nhiều, thưa Tôn giả Gotama.”—“Vậy thì cứ hỏi đi, Kassapa, bất cứ điều gì ông muốn.”

“Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ là do tự mình gây ra?”—“Này Kassapa, đừng nói như vậy.”—“Vậy khổ có phải do người khác gây ra?”—“Này Kassapa, đừng nói như vậy.”—“Vậy khổ có phải do cả tự mình và người khác gây ra?”—“Này Kassapa, đừng nói như vậy.”—“Vậy khổ không phải do tự mình, cũng không do người khác, mà ngẫu nhiên sinh ra?”—“Này Kassapa, đừng nói như vậy.”—“Vậy không có đau khổ sao?”—“Không phải là không có đau khổ; có đau khổ, này Kassapa.”—“Vậy Tôn giả Gotama không biết và không thấy đau khổ sao?”—“Không phải Ta không biết và không thấy đau khổ; Ta vừa biết lại vừa thấy đau khổ, này Kassapa.”

S. 12:17

Lại có một lần, du sĩ Uttiya đến gặp Đức Thế Tôn, chào hỏi xong rồi ngồi xuống một bên. Sau đó ông hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, thế giới là thường còn: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Này Uttiya, Ta không trả lời điều đó.”—“Vậy thế giới không thường còn: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Thế giới là hữu hạn: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Vậy thế giới là vô hạn: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Linh hồn với thể xác là một: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Vậy linh hồn là một và thể xác là một khác: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Sau khi chết Như Lai vẫn tồn tại: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Vậy sau khi chết Như Lai không còn tồn tại: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Vậy sau khi chết Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”—“Vậy sau khi chết Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai?”—“Điều đó Ta cũng không trả lời, này Uttiya.”

“Nhưng vì sao Tôn giả Gotama lại từ chối trả lời khi tôi hỏi những câu này? Vậy thì Tôn giả Gotama trả lời điều gì?”

“Này Uttiya, Ta thuyết Pháp cho các đệ tử từ thắng trí thực chứng, để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu não và than khóc, chấm dứt đau đớn và ưu phiền, đạt được chánh đạo, và chứng ngộ Niết-bàn.”

“Thưa Tôn giả Gotama, Giáo pháp đó mở ra con đường thoát khổ cho toàn thể thế giới, hay cho một nửa, hay cho một phần ba?”

Khi nghe hỏi vậy, Đức Thế Tôn giữ im lặng.

Lúc ấy, tôn giả Ānanda nghĩ thầm: “Du sĩ Uttiya chớ nên khởi lên tà kiến nguy hại như: ‘Khi sa-môn Gotama được hỏi một câu hỏi riêng biệt của ta mà không ai khác hỏi, ngài lúng túng và không trả lời, phải chăng vì ngài không đủ khả năng?’ Ý nghĩ đó sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ lâu dài cho ông ta.” Vì vậy tôn giả nói với ông: “Này Hiền giả Uttiya, tôi sẽ cho ông một ví dụ; vì ở đời có những bậc trí hiểu được ý nghĩa lời nói nhờ vào ví dụ. Ví như một vị vua có một tòa thành với hào sâu kiên cố, lũy cao và pháo đài vững chắc, chỉ có một cửa thành duy nhất, và nhà vua cắt đặt một người gác cổng khôn ngoan, thông minh, mẫn tiệp, ngăn chặn những kẻ lạ mặt và chỉ cho những ai quen biết đi vào; người ấy tự mình đi quanh con đường vòng quanh thành, không thấy bất kỳ khe hở nào trên tường thành hay một cái lỗ nào vừa cho một con mèo chui qua, người ấy có thể kết luận rằng bất kỳ sinh vật nào có kích thước nhất định đều phải ra vào qua cánh cổng đó—cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, mối bận tâm của Như Lai không phải là ‘Toàn thể thế giới sẽ tìm thấy lối thoát nhờ điều này, hay một nửa, hay một phần ba,’ mà là ‘Bất cứ ai đã thoát, đang thoát hoặc sẽ thoát khỏi thế giới đau khổ, điều đó luôn luôn được thực hiện bằng cách từ bỏ năm triền cái (tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và hoài nghi)—những uế nhiễm làm suy yếu trí tuệ—và bằng cách tu tập bảy giác chi với tâm an trú vững chắc trên bốn nền tảng chánh niệm.’ Câu hỏi của ông đặt ra cho Đức Thế Tôn đã bị đặt sai cách; chính vì thế Đức Thế Tôn đã không trả lời.”

A. 10:95

Vào một dịp khác, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau đó ông hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, ngã có tồn tại không?” Khi nghe hỏi, Đức Thế Tôn im lặng. “Vậy thưa Tôn giả Gotama, ngã không tồn tại sao?” Và lần thứ hai Đức Thế Tôn vẫn im lặng. Du sĩ Vacchagotta liền đứng dậy rời đi. Không lâu sau khi ông đi, tôn giả Ānanda hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vì sao khi được hỏi, Thế Tôn lại không trả lời?”

“Này Ānanda, nếu khi được hỏi ‘Ngã có tồn tại không?’, Ta trả lời ‘Ngã tồn tại’, thì đó sẽ là sự đồng tình với những người theo thuyết thường kiến. Và nếu khi được hỏi ‘Ngã không tồn tại sao?’, Ta trả lời ‘Ngã không tồn tại’, thì đó sẽ là sự đồng tình với những người theo thuyết đoạn kiến. Hơn nữa, nếu khi được hỏi ‘Ngã có tồn tại không?’, Ta trả lời ‘Ngã tồn tại’, liệu điều đó có phù hợp với trí tuệ hiểu rõ rằng mọi pháp là vô ngã của Ta không? Và nếu khi được hỏi ‘Ngã không tồn tại sao?’, Ta trả lời ‘Ngã không tồn tại’, thì du sĩ Vacchagotta vốn đã bối rối, nay lại càng bối rối hơn, mà nghĩ rằng: ‘Chắc chắn trước đây ta có một bản ngã, còn bây giờ thì không có nữa.’”

S. 44:10

Một thời, Đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthī, và lúc bấy giờ có nhiều du sĩ và tu sĩ thuộc các giáo phái khác nhau cùng vào Sāvatthī để khất thực. Họ ôm giữ những quan điểm, ý kiến và ý niệm khác nhau, và nương tựa vào các quan điểm bất đồng đó. Có những tu sĩ và bà-la-môn quả quyết và tin rằng “Thế giới là thường còn: chỉ có điều này là đúng, mọi thứ khác đều sai,” và có những người quả quyết và tin vào chín quan điểm còn lại. Họ cãi cọ, ẩu đả, tranh chấp và làm tổn thương nhau bằng những mũi tên lời nói: “Giáo pháp là như thế này; Giáo pháp không phải như thế này! Giáo pháp không phải như thế này; Giáo pháp là như thế này!”

Sau đó, một số tỳ-kheo sau khi đi khất thực trở về đã đem chuyện kể lại cho Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy:

“Này các tỳ-kheo, thuở xưa có một vị vua ở Sāvatthī. Vua bảo một thuộc hạ: ‘Hãy đến đây, hãy tập hợp tất cả những người mù bẩm sinh ở Sāvatthī lại.’—‘Xin vâng lệnh đại vương,’ người ấy đáp. Khi đã tập hợp xong, người ấy tâu lên vua, vua bảo: ‘Hãy cho họ sờ một con voi.’ Người ấy làm theo, bảo rằng: ‘Này những người mù từ thuở lọt lòng, con voi là như thế này,’ rồi cho người này sờ đầu voi, người kia sờ tai, người khác sờ ngà, người khác sờ vòi, người khác sờ thân, người khác sờ chân, người khác sờ mông, người khác sờ đuôi, và người khác sờ chùm lông chót đuôi voi. Sau đó người ấy đến tâu lại với vua. Nhà vua bèn đến gặp những người mù bẩm sinh và hỏi: ‘Các ngươi đã được xem con voi chưa?’—‘Muôn tâu đại vương, rồi ạ.’—‘Vậy hãy tả xem con voi giống cái gì.’ Những ai sờ đầu thì nói ‘Muôn tâu đại vương, con voi giống cái chum,’ người sờ tai nói ‘Nó giống cái nia,’ người sờ ngà nói ‘Nó giống cái cọc,’ người sờ vòi nói ‘Nó giống cái đòn cày,’ người sờ thân nói ‘Nó giống cái kho lúa,’ người sờ chân nói ‘Nó giống cái chân cột,’ người sờ mông nói ‘Nó giống cái cối,’ người sờ đuôi nói ‘Nó giống cái chày,’ và người sờ chùm lông đuôi nói ‘Nó giống cái chổi.’ Rồi họ dùng nắm đấm lao vào đánh nhau túi bụi, gào thét: ‘Con voi là thế này; nó không phải thế kia! Con voi không phải thế kia; nó là thế này!’ Nhưng nhà vua thì lấy làm thích thú. Các du sĩ ngoại đạo cũng mù lòa và không có mắt như vậy. Đó là lý do vì sao họ cãi cọ, ẩu đả, tranh chấp và bắn vào nhau những mũi tên lời nói: ‘Giáo pháp là như thế này; Giáo pháp không phải như thế này! Giáo pháp không phải như thế này; Giáo pháp là như thế này!’”

Ud. 6:4

NGƯỜI KỂ MỘT. Như vậy, xem lời dạy của Đức Phật là một nỗ lực nhằm miêu tả toàn diện thế giới, hay là một hệ thống siêu hình học xây dựng bằng luận lý, dường như là một sai lầm. Vậy đó có phải là một điều răn đạo đức, một tôn giáo mặc khải của đức tin, hay đơn thuần là một bộ quy tắc ứng xử khắc kỷ? Trước khi cố gắng tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, cần phải có một cái nhìn tổng quan về các giáo lý đã được truyền dạy. Các tài liệu trong các bài kinh trên thực tế dường như mang bản chất của những vật liệu để lập bản đồ, để mỗi người tự vẽ bản đồ cho riêng mình, nhưng tất cả đều theo một hướng chung. Những miêu tả có định hướng này về các khía cạnh của trải nghiệm thực sự giúp con người đánh giá vị trí của mình và tự phán đoán xem mình nên làm gì thì tốt hơn. Các bài kinh không đưa ra một sự miêu tả cố định duy nhất, mà là một tập hợp các miêu tả đan xen gối đầu lên nhau. Việc quan sát kỹ lưỡng sự tồn tại luôn nhận thấy tính chất ảo ảnh và nghịch lý ẩn sau vẻ bề ngoài. Hai đầu mút không bao giờ có thể hoàn toàn gặp nhau. Vô số khía cạnh khác nhau được trình bày trong các bài kinh, với sự lặp đi lặp lại vô tận của một số khía cạnh trong các tổ hợp và ngữ cảnh khác nhau, gợi ta nhớ đến một bộ ảnh chụp từ trên không để dùng lập bản đồ. Mọi khía cạnh trong các bài kinh đều hướng về sự chấm dứt khổ đau, với bốn phương la bàn định hướng là Bốn Thánh Đế. Chúng ta hãy thử dựng một tấm bản đồ mẫu từ những vật liệu này. Trong trường hợp này, vì phải bắt đầu từ một nơi nào đó, ta có thể lấy sự sinh ra làm đường mốc ban đầu—sự sinh ra, cũng giống như cái chết, đối với người bình thường là một sự thật thường ngày, nhưng đồng thời cũng là một điều bí ẩn khôn cùng.

KHÔNG CÓ ĐIỂM KHỞI ĐẦU ĐẦU TIÊN

NGƯỜI KỂ HAI. Ý thức có thể được hình dung mà không có quá khứ không? Có thể nói nó có một điểm khởi đầu không?

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Này các tỳ-kheo, vòng luân hồi là vô thỉ. Với những chúng sinh trôi dạt và lặn ngụp trong vòng luân hồi này, bị vô minh che lấp và bị khát ái trói buộc, không thể tìm thấy một điểm khởi đầu đầu tiên nào.”

S. 15:1

“Này các tỳ-kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu triệt bốn chân lý mà cả Ta và các ông đã phải trôi dạt và lặn ngụp trong vòng luân hồi dài dằng dặc này. Bốn chân lý ấy là gì? Đó là: (I) thánh đế về khổ, (II) thánh đế về nguồn gốc của khổ, (III) thánh đế về sự chấm dứt khổ, và (IV) thánh đế về con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.”

D. 16

BỐN THÁNH ĐẾ

NGƯỜI KỂ HAI. Sau đây là lời miêu tả về Bốn Thánh Đế.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. I. “Thế nào là thánh đế về khổ? Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; sầu, bi, ưu, não là khổ; oán tắng hội là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu bất đắc là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.” 1

S. 56:11

II. “Thế nào là thánh đế về nguồn gốc của khổ? Đó chính là khát ái đưa đến sự tái sinh, đi cùng với sự hỷ lạc và tham đắm, tìm kiếm khoái lạc chỗ này chỗ kia: nói cách khác, đó là dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Nhưng khát ái này khởi sinh và bén rễ ở đâu? Bất cứ nơi nào có điều gì khả ái và dễ chịu, ở đó khát ái khởi sinh và bén rễ.”

D. 22

“Do vô minh làm duyên, hành khởi sinh; do hành làm duyên, thức khởi sinh; do thức làm duyên, danh-sắc khởi sinh; do danh-sắc làm duyên, lục nhập khởi sinh; do lục nhập làm duyên, xúc khởi sinh; do xúc làm duyên, thọ khởi sinh; do thọ làm duyên, ái khởi sinh; do ái làm duyên, thủ khởi sinh; do thủ làm duyên, hữu khởi sinh; do hữu làm duyên, sinh khởi sinh; do sinh làm duyên, già và chết cùng sầu, bi, ưu, não khởi sinh; như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khối khổ đau này. Đây gọi là thánh đế về nguồn gốc của khổ.”

A. 3:61

III. “Thế nào là thánh đế về sự chấm dứt khổ? Đó là sự ly tham và đoạn diệt không còn dư tàn của chính khát ái ấy, sự từ bỏ, xả ly, giải thoát và dứt bỏ nó. Nhưng khát ái này được từ bỏ và dập tắt ở đâu? Bất cứ nơi nào có điều gì khả ái và dễ chịu, ở đó nó được từ bỏ và dập tắt.”

D. 22

“Với sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn vô minh thì hành diệt; hành diệt thì thức diệt... sinh diệt thì già chết, sầu, bi, ưu, não diệt; như vậy là sự chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này. Đây gọi là thánh đế về sự chấm dứt khổ.”

A. 3:61

IV. “Thế nào là thánh đế về con đường đưa đến sự chấm dứt khổ? Đó chính là Bát Chánh Đạo, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.”

D. 22

“Trong Bốn Thánh Đế này, thánh đế về khổ phải được thấu triệt bằng cách hiểu trọn vẹn về khổ; thánh đế về nguồn gốc của khổ phải được thấu triệt bằng cách từ bỏ khát ái; thánh đế về sự chấm dứt khổ phải được thấu triệt bằng cách chứng ngộ sự chấm dứt khát ái; thánh đế về con đường đưa đến sự chấm dứt khổ phải được thấu triệt bằng cách tu tập Bát Chánh Đạo.”

S. 56:11 và 29 (phỏng theo)

“Bốn Thánh Đế (Thực Tại) này là có thật, không hư dối, không khác đi so với bản chất của chúng.”

S. 56:27

NGƯỜI KỂ MỘT. Mỗi một Thánh Đế trong Bốn Thánh Đế đều được phân tích và định nghĩa chi tiết.

I KHỔ ĐẾ

NGƯỜI KỂ HAI. Người ta nói rằng chân lý về khổ “tóm lại là năm uẩn bị chấp thủ (năm thủ uẩn).” Sau đây là định nghĩa về chúng.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là năm thủ uẩn? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn.”

D. 22

“Vì sao gọi là ‘sắc’? Nó bị biến hoại (ruppati), vì thế nó được gọi là ‘sắc’ (rūpa). Biến hoại bởi cái gì? Bởi lạnh, nóng, đói, khát, bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, ánh nắng và các loài bò sát.”

S. 22:79

“Thế nào là sắc? Bốn đại chủng và bất kỳ sắc nào do chấp thủ dựa trên bốn đại chủng ấy đều được gọi là sắc.”

S. 22:56

“Bất cứ thứ gì thuộc về nội thân, gắn liền với tự thân, mang tính chất cứng, rắn chắc và bị chấp thủ (thuộc cơ thể sống), như tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, hay bất cứ thứ gì khác trong nội thân, gắn liền với tự thân mang tính chất cứng, rắn chắc và bị chấp thủ: đó gọi là địa đại 2 trong nội thân. Địa đại trong nội thân và địa đại ngoài ngoại cảnh chỉ đơn thuần là địa đại.

“Bất cứ thứ gì thuộc về nội thân... mang tính chất lỏng, ướt và bị chấp thủ, như mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu, hay bất cứ thứ gì khác thuộc nội thân... mang tính lỏng, ướt và bị chấp thủ: đó gọi là thủy đại trong nội thân. Thủy đại trong nội thân và thủy đại ngoài ngoại cảnh chỉ đơn thuần là thủy đại.

“Bất cứ thứ gì thuộc về nội thân... mang tính chất nhiệt, lửa và bị chấp thủ, như cái làm ấm người, làm cho già cỗi, làm thiêu đốt, và cái làm cho thức ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm được tiêu hóa và hấp thụ, hay bất cứ thứ gì khác thuộc nội thân... mang tính nhiệt, lửa và bị chấp thủ: đó gọi là hỏa đại trong nội thân. Hỏa đại trong nội thân và hỏa đại ngoài ngoại cảnh chỉ đơn thuần là hỏa đại.

“Bất cứ thứ gì thuộc về nội thân... mang tính chất chuyển động, gió và bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, luồng gió luân chuyển khắp tay chân, hơi thở vào và hơi thở ra, hay bất cứ thứ gì khác thuộc nội thân... mang tính chuyển động, gió và bị chấp thủ: đó gọi là phong đại trong nội thân. Phong đại trong nội thân và phong đại ngoài ngoại cảnh chỉ đơn thuần là phong đại.

“Lại nữa, bất cứ thứ gì thuộc về nội thân... mang tính chất khoảng trống, không gian và bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, khoang miệng, cửa miệng, và chỗ mà qua đó đồ ăn, thức uống, đồ nhai, đồ nếm được nuốt vào, và nơi chứa đựng chúng, cùng chỗ mà qua đó chúng được bài tiết ra ngoài, hay bất cứ thứ gì khác thuộc nội thân... mang tính khoảng trống và bị chấp thủ: đó gọi là không đại. Không đại trong nội thân và không đại ngoài ngoại cảnh chỉ đơn thuần là không đại... Và không đại không có chỗ đứng độc lập ở bất kỳ đâu.”

MN-62

“Bất kỳ sắc nào, dù quá khứ, tương lai hay hiện tại, thuộc nội thân hay ngoại cảnh, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, mà có lậu hoặc và là đối tượng cho sự chấp thủ: đó gọi là sắc thủ uẩn.”

S. 22:48

“Vì sao gọi là ‘thọ’? Nó được cảm nhận, vì thế nó được gọi là thọ. Cảm nhận như thế nào? Cảm nhận là lạc, là khổ, hoặc là không khổ không lạc.”

S. 22:79; đối chiếu MN-43

“Bất cứ điều gì được cảm nhận qua thân hay tâm là dễ chịu, khoái lạc thì đó là thọ lạc. Bất cứ điều gì được cảm nhận qua thân hay tâm là đau đớn, tổn thương thì đó là thọ khổ. Bất cứ điều gì được cảm nhận qua thân hay tâm là không dễ chịu cũng không tổn thương thì đó là thọ không khổ không lạc... Thọ lạc thì dễ chịu khi nó tồn tại và gây khổ khi nó biến đổi. Thọ khổ thì gây đau khổ khi nó tồn tại và dễ chịu khi nó biến đổi. Thọ không khổ không lạc thì dễ chịu khi có hiểu biết và gây khổ khi thiếu vắng hiểu biết.”

MN-44

“Có sáu loại cảm thọ: thọ sinh do nhãn xúc, do nhĩ xúc, do tỷ xúc, do thiệt xúc, do thân xúc, và do ý xúc.”

S. 22:56

“Bất kỳ cảm thọ nào... có lậu hoặc và là đối tượng cho sự chấp thủ: đó gọi là thọ thủ uẩn.”

S. 22:48

“Vì sao gọi là ‘tưởng’? Nó nhận biết dấu hiệu, vì thế nó được gọi là tưởng. Nhận biết cái gì? Chẳng hạn, nó nhận biết màu xanh, màu vàng, màu đỏ, và màu trắng.”

S. 22:79

“Có sáu loại tưởng: tưởng đối với sắc (hình ảnh thấy được), thanh, hương, vị, xúc, và pháp.”

S. 22:56

“Bất kỳ tri giác nào... có lậu hoặc và là đối tượng cho sự chấp thủ: đó gọi là tưởng thủ uẩn.”

S. 22:48

“Vì sao gọi là ‘các hành’? Chúng tạo tác nên cái được tạo tác, vì thế chúng được gọi là hành. Cái được tạo tác mà chúng tạo nên là gì? Sắc pháp với tư cách là trạng thái của sắc là cái được tạo tác mà chúng tạo thành; thọ với tư cách là trạng thái của thọ là cái được tạo tác mà chúng tạo thành; tưởng với tư cách là trạng thái của tưởng là cái được tạo tác mà chúng tạo thành; hành với tư cách là trạng thái của hành là cái được tạo tác mà chúng tạo thành; thức với tư cách là trạng thái của thức là cái được tạo tác mà chúng tạo thành.” 3

S. 22:79

“Có ba loại hành: phúc hành (hành vi tạo quả an lạc), phi phúc hành (hành vi tạo quả khổ đau), và bất động hành (hành vi là sự thiền định tạo quả trong các cõi vô sắc, nơi mà chừng nào còn duy trì thì không bị dao động bởi tri giác về hình sắc, sự đối kháng hay sự dị biệt).”

D. 33

“Ba loại hành: thở vào và thở ra thuộc về thân, đây là những hiện tượng gắn liền với thân, vì thế chúng là thân hành. Trước tiên phải có suy nghĩ và suy tầm rồi mới phát ra lời nói, vì thế tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về thức, đây là những hiện tượng gắn liền với thức, vì thế chúng là ý hành.”

MN-44; đối chiếu MN-9

“Hành là gì? Có sáu loại ý chí (tư): 4 ý chí đối với các sắc thấy được, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, và các đối tượng tâm ý.”

S. 22:56

“Ta gọi ý chí (tác ý) là nghiệp.”

A. 6:63

“Bất kỳ hành nào... có lậu hoặc và là đối tượng cho sự chấp thủ: đó gọi là hành thủ uẩn.”

S. 22:48

“Vì sao gọi là ‘thức’? Nó nhận biết đối tượng, vì thế nó được gọi là thức. Nhận biết cái gì? Chẳng hạn, nó nhận biết chua, đắng, cay, ngọt, kiềm, không kiềm, mặn, và nhạt.”

S. 22:79

“Thức ấy nhận biết điều gì? Chẳng hạn, nó nhận biết rằng có lạc, có khổ, có không khổ không lạc.”

MN-43, 140

“Có sáu loại thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức.”

S. 22:56

“Thức được gọi tên tùy theo điều kiện mà nhờ đó nó khởi sinh. Khi thức khởi sinh nhờ mắt và hình sắc, nó được gọi là nhãn thức; nhờ tai và âm thanh, gọi là nhĩ thức;... nhờ ý và pháp, gọi là ý thức.”

MN-38

“Thọ, tưởng và thức hòa quyện với nhau, không tách rời nhau, và không thể tách riêng từng cái ra để miêu tả các công năng khác nhau của chúng; bởi vì cái gì người ta cảm thọ thì người ta nhận biết, và cái gì người ta nhận biết thì người ta thức tri. Bằng ý thức thuần túy tách rời khỏi năm giác quan, xứ vô biên không xứ (bên ngoài) có thể được nhận biết là ‘hư không vô biên’; xứ thức vô biên xứ có thể được nhận biết là ‘thức vô biên’; và xứ vô sở hữu xứ có thể được nhận biết là ‘không có gì cả’. Một ý niệm có thể nhận biết được thì được hiểu bởi con mắt trí tuệ.”

MN-43

“Sự hiện hữu của thức dựa trên một tính nhị nguyên (tính nhị nguyên của các nội xứ và ngoại xứ của xúc).”

S. 35:93

“Bất kỳ thức nào, dù quá khứ, tương lai hay hiện tại, thuộc nội thân hay ngoại cảnh, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc và là đối tượng cho sự chấp thủ: đó gọi là thức thủ uẩn.”

S. 22:48

“Năm thủ uẩn này lấy dục làm gốc rễ... Bốn đại chủng (địa, thủy, hỏa, phong) là nhân và duyên để miêu tả sắc uẩn. Xúc là nhân và duyên để miêu tả các uẩn thọ, tưởng và hành. Danh-sắc là nhân và duyên để miêu tả thức uẩn.”

MN-109

“Bất kỳ vị tu sĩ hay bà-la-môn nào nhớ lại các đời sống quá khứ dưới nhiều hình thái khác nhau, tất cả họ đều chỉ nhớ lại năm thủ uẩn hoặc một trong số các uẩn ấy.”

S. 22:79

II TẬP ĐẾ

NGƯỜI KỂ HAI. Sau đây là các định nghĩa chi tiết về Thánh đế thứ hai.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Năm thủ uẩn này lấy dục làm gốc rễ... Sự chấp thủ không đồng nhất với năm thủ uẩn, nhưng nó cũng không phải là cái gì tách biệt khỏi chúng. Chính lòng ham muốn và tham ái ẩn chứa trong các uẩn ấy là sự chấp thủ ở đó.”

MN-109

“Cái này có thì cái kia có; cái này sinh thì cái kia sinh.” 5

MN-38

“(Trong lời thuyết về duyên khởi:) 6 Già là gì? Trong các loài chúng sinh khác nhau, đó là sự già cỗi, tuổi già, răng rụng, tóc bạc, da nhăn nheo, sự suy giảm của tuổi thọ và sự suy yếu của các giác quan của bất kỳ chúng sinh nào. Chết là gì? Trong các loài chúng sinh khác nhau, đó là sự tạ thế, qua đời, tan rã, biến mất, mạng chung, hết thọ mạng, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thi thể. Sinh là gì? Trong các loài chúng sinh khác nhau, đó là sự chào đời, sự giáng sinh, sự thụ thai trong bụng mẹ, sự phát sinh, sự biểu hiện của các uẩn, sự thủ đắc các xứ. Hữu là gì? Có ba loại hữu: dục hữu, sắc hữu, và vô sắc hữu. Thủ là gì? Có bốn loại chấp thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, 7 và ngã luận thủ. Ái là gì? Có sáu loại khát ái: ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Thọ là gì? Có sáu loại (thuộc ba dạng) cảm thọ: thọ sinh do nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. Xúc là gì? 8 Có sáu loại xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. Lục nhập là gì? Đó là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, và ý xứ. Danh-sắc là gì? 9 Cái gọi là danh bao gồm thọ, tưởng, tư (ý chí), 10 xúc, và tác ý; cái gọi là sắc bao gồm bốn đại chủng và bất kỳ sắc nào do chấp thủ dựa trên bốn đại chủng ấy; do đó danh này và sắc này là cái được gọi là danh-sắc. Thức là gì? Có sáu loại thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức. Các hành là gì? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Vô minh là gì? Đó là sự không hiểu biết về khổ, về nguồn gốc của khổ, về sự chấm dứt khổ, và về con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.”

S. 12:2

“Duyên mắt và các hình sắc, nhãn thức khởi sinh; sự gặp gỡ của cả ba là xúc; do xúc làm duyên, thọ khởi sinh; do thọ làm duyên, ái khởi sinh; như vậy là nguồn gốc của khổ đau (và tương tự với tai... ý).”

S. 12:43

“Bị thiêu đốt bởi tham, phẫn nộ bởi sân, mờ mịt bởi si, bị chúng lấn át và tâm trí bị ám ảnh, một người sẽ có những quyết định gây khổ hại cho chính mình, gây khổ hại cho người khác, và gây khổ hại cho cả hai, rồi nếm trải đau khổ và buồn phiền.”

A. 3:55

“Chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là nơi sinh ra, nghiệp là quyến thuộc (và trách nhiệm), nghiệp là điểm nương tựa; chính nghiệp phân chia chúng sinh thành kẻ thấp kém và người cao quý.”

MN-135

“Nghiệp cũ là gì? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là nghiệp cũ đã được định đoạt và lựa chọn từ trước, cần phải trải nghiệm mới thấy được. Nghiệp mới là gì? Đó là bất kỳ hành động nào mà người ta tạo tác bây giờ, bằng thân, khẩu hoặc ý.”

S. 35:145

“Thân xác này không phải của các ông cũng không phải của người khác, mà là nghiệp quá khứ đã được định đoạt và lựa chọn từ trước, cần phải trải nghiệm mới thấy được.”

S. 12:37

“Chính ý chí (tác ý) là điều Ta gọi là nghiệp; chính nhờ có ý chí mà con người hành động qua thân, khẩu và ý. Có những nghiệp mà quả chín của nó sẽ được nếm trải ở địa ngục, trong bụng súc sinh, trong cảnh giới ngạ quỷ, giữa loài người, và trong các cõi trời. Nghiệp trổ quả theo ba cách: có thể trổ ngay trong hiện tại, khi tái sinh, hoặc trong một tiến trình sống xa hơn sau đó.”

A. 6:63

“Các nghiệp được tạo tác từ tham, sân hay si sẽ trổ quả bất cứ nơi nào một bản ngã cá nhân được tạo thành; và bất cứ nơi nào các nghiệp ấy trổ quả, ở đó quả chín của chúng sẽ được nếm trải, dù là ngay trong đời này, ở lần tái sinh kế tiếp, hay trong một tiến trình sống xa hơn sau đó.”

A. 3:33

“Có bốn điều bất khả tư nghì, không thể suy lường được, cố suy lường sẽ dẫn đến bế tắc và điên loạn. Bốn điều ấy là gì? Đó là cảnh giới của chư Phật, cảnh giới của người đắc thiền định, quả báo của nghiệp, và sự suy lường về thế giới.”

A. 4:77

“Thế giới được dẫn dắt bởi tâm.”

S. 1:72

III DIỆT ĐẾ

NGƯỜI KỂ HAI. Sau đây là các định nghĩa chi tiết về Thánh đế thứ ba.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Cái này không có thì cái kia không có; cái này diệt thì cái kia diệt.”

MN-38

“Duyên mắt và các hình sắc, nhãn thức khởi sinh; sự gặp gỡ của cả ba là xúc; do xúc làm duyên, khởi sinh cảm giác dễ chịu, đau khổ, hoặc không khổ không lạc. Nếu khi trải nghiệm xúc của thọ lạc, người ấy không say đắm, không hoan nghênh, không đón nhận nó, và nếu khuynh hướng ngầm (tùy miên) tham ái đối với nó không còn ngấm ngầm chi phối—nếu khi trải nghiệm xúc của thọ khổ, người ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực, khóc lóc và trở nên hoảng loạn, và nếu tùy miên sân hận đối với nó không còn ngấm ngầm chi phối—nếu khi trải nghiệm xúc của thọ không khổ không lạc, người ấy hiểu đúng như thật về sự khởi sinh, biến mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của cảm thọ đó, và nếu tùy miên vô minh đối với nó không còn ngấm ngầm chi phối—thì quả thật, người ấy sẽ chấm dứt được khổ đau bằng cách từ bỏ tùy miên tham đối với thọ lạc, tiêu trừ tùy miên sân đối với thọ khổ, và dẹp bỏ tùy miên vô minh đối với thọ không khổ không lạc: điều đó là có thể.”

MN-148

“Khi tham, sân và si được đoạn trừ, một người sẽ không lựa chọn những điều gây khổ hại cho mình, gây khổ hại cho người khác, hay gây khổ hại cho cả hai. Bằng cách ấy, sự tịch diệt xuất hiện ngay trong hiện tại, không chậm trễ, mời gọi đến để thấy, hướng thượng, và có thể được chứng nghiệm bởi các bậc trí.”

A. 3:55

“Những hành động được thực hiện mà không có tham, sân, si, được làm khi tham, sân, si đã biến mất, thì được từ bỏ, bị chặt đứt tận gốc rễ, như thân cây cọ bị đốn ngã, bị dẹp bỏ hoàn toàn và không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.”

A. 3:33

“Các trạng thái vô sắc tịch tịnh hơn các trạng thái hữu sắc; sự tịch diệt lại tịch tịnh hơn các trạng thái vô sắc.” 11

Iti. 73

“Có một cảnh giới (ngoại xứ) mà ở đó không có đất, nước, lửa hay gió; không có không vô biên xứ, không có thức vô biên xứ, không có vô sở hữu xứ, không có phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có thế giới này hay thế giới khác, không có mặt trăng hay mặt trời; và đó là điều Ta gọi là không đến, không đi, không đứng, không chết, không tái sinh; nó không có nền tảng, không có sự biến dịch, không có điểm nương tựa; đó là sự tận cùng của khổ đau.

“Vô vi thật khó thấy; Chân lý chẳng dễ nhìn. Hiểu là bạt khát ái; Thấy là dứt chấp ngã.

“Có một cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị kết hợp. Nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị kết hợp ấy, thì ở đây sẽ không có lối thoát nào được chỉ ra cho cái bị sinh, bị hiện hữu, bị tạo tác, bị kết hợp. Nhưng vì có cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị kết hợp, nên một lối thoát mới được miêu tả cho cái bị sinh, bị hiện hữu, bị tạo tác, bị kết hợp.”

Ud. 8:1-3

“Có hai cõi Niết-bàn. Hai cõi ấy là gì? Đó là cõi Niết-bàn còn dư tàn của sự chấp thủ trong quá khứ (Hữu dư y Niết-bàn), và cõi Niết-bàn không còn dư tàn của sự chấp thủ trong quá khứ (Vô dư y Niết-bàn). Thế nào là cõi Niết-bàn còn dư tàn chấp thủ? Ở đây, một tỳ-kheo là bậc A-la-hán đã tận trừ các lậu hoặc, đã sống trọn vẹn đời phạm hạnh, đã làm xong những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối thượng, đã bẻ gãy các kiết sử của hữu, và được giải thoát hoàn toàn nhờ thắng trí. Năm giác quan của vị ấy vẫn còn, và do sự hiện diện của chúng, vị ấy vẫn tiếp xúc với điều vừa ý và không vừa ý, vẫn trải nghiệm cảm giác dễ chịu và đau đớn. Chính sự tận diệt tham, sân, si nơi vị ấy được gọi là cõi Niết-bàn còn dư tàn chấp thủ. Và thế nào là cõi Niết-bàn không còn dư tàn chấp thủ? Ở đây, một tỳ-kheo là bậc A-la-hán đã sống trọn vẹn đời phạm hạnh... và được giải thoát hoàn toàn nhờ thắng trí. Mọi cảm thọ nơi vị ấy, vì không còn được vị ấy say đắm, sẽ trở nên thanh lương mát mẻ ngay trong chính đời này: đây gọi là cõi Niết-bàn không còn dư tàn chấp thủ.”

Iti. 44

“Sự tận trừ tham, sân và si được gọi là Niết-bàn.”

S. 38:1

“Này Upasīva,” Đức Thế Tôn dạy, “Như ngọn lửa bị sức gió thổi tắt, Sẽ lụi tàn và không còn khái niệm nào gán cho nó được nữa, Cũng vậy, bậc Mặc Tịch Hiền Triết, khi được giải thoát khỏi danh thân, Sẽ tịch diệt, và không còn khái niệm nào gán cho ngài được nữa.”

“Bạch Thế Tôn, khi ngài tịch diệt như vậy, ngài không còn tồn tại nữa sao? Hay ngài trở nên bất tử đến muôn đời? Kính xin bậc Hiền Triết giảng giải rõ điều này cho con, Bởi vì đó là trạng thái mà Ngài đã thấu triệt.”

“Này Upasīva,” Đức Thế Tôn dạy, “Không có thước đo nào cho một người đã tịch diệt, Không có điều gì nơi ngài để người ta có thể dựa vào đó mà nói về ngài; Bởi vì khi mọi ý niệm đều đã bị xóa sạch, Thì mọi cách diễn đạt bằng ngôn từ cũng bị xóa sạch theo.”

Sn. 5:7

IV ĐẠO ĐẾ

NGƯỜI KỂ HAI. Thánh đế thứ tư là Bát Chánh Đạo. Mỗi thành phần trong tám chi phần đều cần một định nghĩa riêng biệt.

(1) CHÁNH KIẾN

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Như rạng đông báo trước và báo hiệu mặt trời mọc, chánh kiến cũng báo trước và báo hiệu việc thấu triệt Bốn Thánh Đế đúng như thật.”

S. 56:37

NGƯỜI KỂ HAI. Chánh kiến có nhiều khía cạnh. Chúng ta hãy xem xét từng khía cạnh một, bắt đầu bằng “sự trổ quả của nghiệp”—điều mà dưới một số hình thức và mức độ dè dặt nhất định, cũng được chia sẻ bởi các hệ thống giáo lý khác.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Chánh kiến đi hàng đầu.” 12 Như thế nào? Người ta hiểu tà kiến là tà kiến, và hiểu chánh kiến là chánh kiến. Tà kiến là gì? Quan điểm cho rằng không có sự bố thí, cúng dường hay tế lễ, 13 không có quả báo hay sự trổ quả của nghiệp thiện và nghiệp ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các chúng sinh hóa sinh, không có các vị tu sĩ và bà-la-môn chân chính, đạo hạnh, những người tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau: đây là tà kiến.

“Thế nào là chánh kiến? Có hai loại chánh kiến: có loại chánh kiến còn lậu hoặc, tạo ra phước đức và trổ quả trong các yếu tố sinh tồn; và có loại chánh kiến của bậc thánh không còn lậu hoặc, thuộc về siêu thế và là một chi phần của đạo lộ. Thế nào là chánh kiến còn lậu hoặc? Quan điểm cho rằng có sự bố thí, cúng dường và tế lễ, có quả báo và sự trổ quả của nghiệp thiện và nghiệp ác, có đời này và đời sau, có mẹ, có cha, có các chúng sinh hóa sinh, có các vị tu sĩ và bà-la-môn chân chính, đạo hạnh, những người tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau: đây là chánh kiến còn lậu hoặc, đem lại phước đức và trổ quả trong các yếu tố sinh tồn. Và thế nào là chánh kiến của bậc thánh? Bất kỳ sự hiểu biết, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến với tư cách là một chi phần của đạo lộ nơi một người có tâm thanh cao và không còn lậu hoặc, người nắm giữ đạo lộ và tu tập đạo lộ: đây là chánh kiến vô lậu của bậc thánh, thuộc siêu thế và là một chi phần của đạo lộ.”

MN-117

NGƯỜI KỂ HAI. Lại nữa, đó là chánh kiến về lý duyên khởi—cấu trúc nền tảng của “giáo lý đặc thù của chư Phật” và là khám phá mới mẻ đầu tiên của Đức Phật. Không có gì có thể tự mình khởi sinh mà không cần sự nâng đỡ của những thứ khác vốn là điều kiện cho sự tồn tại của nó.

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI.

Đấng Như Lai đã dạy nguyên nhân Của các pháp do duyên mà sinh; Và cả cách chấm dứt chúng nữa: Đó là giáo pháp của Đại Sa-môn.

“Pháp nhãn thanh tịnh, không tỳ vết đã khởi sinh nơi ngài: Bất cứ thứ gì phải chịu sự sinh khởi đều phải chịu sự hoại diệt.”

Vin. Mv. 1:23

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Cái này có thì cái kia có; cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này không có thì cái kia không có; cái này diệt thì cái kia diệt.”

MN-38

“Ai thấy duyên khởi là thấy Pháp; ai thấy Pháp là thấy duyên khởi.”

MN-28

“Dù chư Như Lai có xuất hiện hay không, pháp giới này vẫn tồn tại, trật tự này của các pháp (hiện tượng) vẫn tồn tại, tính quyết định này trong các pháp vẫn tồn tại, đó là: tính y duyên tương thuộc. Bậc Như Lai đã khám phá ra điều đó.”

S. 12:20

“Nếu hoàn toàn không có sự sinh ra dưới bất kỳ hình thức nào, của bất cứ thứ gì, ở bất cứ nơi đâu... không có sinh, với sự chấm dứt của sinh, liệu già và chết có thể được miêu tả không?”—“Bạch Thế Tôn, không thể.”—“Do đó, đây là một lý do, một nguồn gốc, một nguyên nhân, một điều kiện cho già và chết.” (Và tương tự với các cặp khác trong công thức duyên khởi.)

D. 15

“Bạch Thế Tôn, người ta hay nói ‘chánh kiến, chánh kiến’. ‘Chánh kiến’ đề cập đến điều gì?”—“Này Kaccāyana, thế gian này thường nương vào tính nhị nguyên của tồn tại và không tồn tại. Nhưng khi một người nhìn thấy nguồn gốc của thế giới đúng như thật bằng chánh trí tuệ, thì đối với vị ấy không có cái gọi là ‘không tồn tại’ trong thế giới; và khi vị ấy nhìn thấy sự diệt tận của thế giới đúng như thật bằng chánh trí tuệ, thì đối với vị ấy không có cái gọi là ‘tồn tại’ trong thế giới.

“Thế gian thường bị trói buộc bởi định kiến, chấp thủ và sự cố chấp; nhưng một người như thế này (người có chánh kiến), thay vì để cho định kiến, thay vì chấp thủ, và thay vì quyết đoán về ‘ngã của tôi’ bằng định kiến ấy, sự chấp thủ ấy, và quyết đoán tâm ý ấy dưới vỏ bọc của khuynh hướng ngầm cố chấp, vị ấy không hề nghi ngờ hay do dự rằng cái gì sinh khởi chỉ là sự sinh khởi của khổ, và cái gì chấm dứt chỉ là sự chấm dứt của khổ, và trong điều này, hiểu biết của vị ấy là độc lập, không dựa dẫm vào người khác. Đó là điều mà ‘chánh kiến’ đề cập tới. ‘Tất cả đều tồn tại’ là một cực đoan; ‘tất cả đều không tồn tại’ là một cực đoan khác. Thay vì nghiêng về một trong hai cực đoan đó, Như Lai thuyết giảng Giáo pháp theo con đường trung đạo: ‘Do vô minh làm duyên, hành sinh khởi; do hành làm duyên, thức sinh khởi; do thức...’ (Và cứ thế đối với cả chiều sinh lẫn chiều diệt.)”

S. 12:15

“Nếu một người khẳng định: ‘Kẻ tạo tác (khổ đau) cũng chính là người cảm thọ (khổ đau): là một thực thể tồn tại từ ban đầu, đau khổ của người ấy là do tự mình gây ra,’ thì người ấy rơi vào thường kiến. Nhưng nếu người ấy khẳng định: ‘Một người tạo tác (khổ đau), một người khác lại cảm thọ (khổ đau): là một thực thể bị nghiền nát bởi cảm thọ, đau khổ của người ấy là do kẻ khác gây ra,’ thì người ấy rơi vào đoạn kiến. Thay vì nghiêng về một trong hai cực đoan này, Như Lai thuyết giảng Giáo pháp theo con đường trung đạo:... (tức là theo chiều duyên khởi và duyên diệt).”

S. 12:17

“Tất cả chúng sinh đều tồn tại nhờ thức ăn (đoàn thực).”

D. 33; A. 10:27, 28; Khp. 2

“Thức ăn là gì? Có bốn loại thức ăn để duy trì các chúng sinh đã sinh ra và nâng đỡ những chúng sinh đang tìm kiếm sự tái sinh: đó là đoàn thực (thức ăn vật chất), thô hay tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực (ý chí); và thứ tư là thức thực.”

S. 12:63; MN-38

NGƯỜI KỂ HAI. Tuy nhiên, cốt tủy của chánh kiến chính là sự thấu suốt Bốn Thánh Đế—những chân lý bao hàm lý duyên khởi và tạo thành “giáo lý đặc thù của chư Phật”. Chúng đã làm nên chủ đề cho bài Pháp đầu tiên (Kinh Chuyển Pháp Luân).

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh kiến? Đó là hiểu biết về khổ, về nguồn gốc của khổ, về sự chấm dứt khổ, và về con đường đưa đến sự chấm dứt khổ: đây gọi là chánh kiến.”

S. 45:8; D. 22

(I) “‘Bốn con rắn độc’ là tên gọi của bốn đại chủng (địa, thủy, hỏa, phong).”

S. 35:197

Sắc tựa một cụm bọt
Thọ như bóng nước trôi
Tưởng như làn ảo ảnh
Hành tựa thân chuối mềm 14
Thức như trò ảo thuật
Đấng Nhật Tộc chỉ ra

S. 22:95

“Sáu nội xứ có thể được gọi là một ngôi làng trống không; vì cho dù một người trí quán sát chúng qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay ý, chúng đều hiện ra rỗng tuếch, trống rỗng và hư vô như nhau. Sáu ngoại xứ có thể được gọi là những tên cướp cướp phá làng mạc; vì mắt bị quấy nhiễu giữa những hình sắc ưa nhìn và khó chịu, tai giữa những âm thanh ấy, mũi giữa những mùi hương ấy, lưỡi giữa những vị ấy, thân giữa những xúc chạm ấy, và ý giữa những pháp ấy.”

S. 35:197

(II) Ta nhìn thấy cõi đời
Đắm chìm trong khát ái
Đối mặt với Thần Chết
Vẫn run rẩy van lơn
Mong cầu được tồn tại
Kìa xem chúng run sợ
Vì những thứ “của mình”
Tựa loài cá quẫy đuôi
Trong vũng lầy cạn nước

Sn. 4:2

(III) “Đây là điều tịch tịnh (nhất), đây là (mục tiêu) siêu việt (hơn tất cả), tức là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi yếu tố sinh tồn, sự tận diệt khát ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.”

A. 10:60

(IV) Không bệnh: phúc tối thượng
Niết-bàn: lạc tối cao
Tám nhánh: đường tuyệt hảo
Dẫn an toàn Bất tử

MN-75

NGƯỜI KỂ HAI. Lại nữa, đó là chánh kiến về ba đặc tính chung: vô thường, khổ (bất an), và vô ngã—những đặc tính thể hiện một cách toàn diện những gì mà lý duyên khởi thể hiện về mặt cấu trúc. Chúng là chủ đề của bài Pháp thứ hai (Kinh Vô Ngã Tướng).

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Có ba tướng hữu vi của những gì thuộc về hữu vi: 15 sự sinh khởi được nhận rõ, sự diệt vong được nhận rõ, và sự biến đổi khi đang tồn tại được nhận rõ. Có ba tướng vô vi của cái vô vi: không có sự sinh khởi nào được nhận rõ, không có sự diệt vong nào được nhận rõ, và không có sự biến đổi nào khi đang tồn tại được nhận rõ.”

A. 3:47

“Khi một người hiểu được sắc, thọ, tưởng, hành và thức (và mắt, v.v.) là vô thường như thế nào, người ấy có được chánh kiến ở điểm đó.”

S. 22:51; 35:155

“Tất cả là vô thường. Và cái ‘tất cả’ vô thường đó là gì? Mắt là vô thường, các sắc là vô thường, nhãn thức... nhãn xúc, bất cứ cảm thọ nào là lạc, khổ hay không khổ không lạc do nhãn xúc sinh ra đều là vô thường. Tai, v.v... Mũi, v.v... Lưỡi, v.v... Thân, v.v... Ý là vô thường, các pháp... ý thức... ý xúc... bất cứ cảm thọ nào... do ý xúc sinh ra đều là vô thường.”

S. 35:43

“Cái gì vô thường là khổ, cái gì khổ là vô ngã.”

S. 35:1; 22:46

“Dù chư Như Lai có xuất hiện hay không, pháp giới này vẫn tồn tại, trật tự này của các pháp vẫn tồn tại, tính quyết định này trong các pháp vẫn tồn tại: Tất cả các hành là vô thường; tất cả các hành là khổ; tất cả các pháp là vô ngã.”

A. 3:134

“Này các tỳ-kheo, Ta không tranh chấp với đời: chính đời tranh chấp với Ta. Người tuyên thuyết Giáo pháp không tranh chấp với bất kỳ ai trên cõi đời này. Những gì các bậc trí trên đời nói là không có, Ta cũng nói là không có; và những gì các bậc trí trên đời nói là có, Ta cũng nói là có. Các bậc trí trên đời nói rằng không có sắc pháp nào trường tồn, vĩnh cửu, thường hằng và không chịu sự biến đổi, thì Ta cũng nói rằng không có sắc pháp như vậy. (Và tương tự với bốn uẩn còn lại.) Các bậc trí trên đời nói rằng có sắc pháp vô thường, đau khổ và chịu sự biến đổi, thì Ta cũng nói là có sắc pháp như vậy. (Và tương tự với bốn uẩn còn lại.)”

S. 22:94

“Thân này là vô thường, là hữu vi và do duyên mà khởi sinh.”

S. 36:7

“Một phàm phu không được nghe chánh pháp thà coi thân xác cấu thành từ bốn đại này là tự ngã còn hơn là tâm trí. 16 Vì sao? Vì thân này có thể kéo dài một năm, hai năm... một trăm năm; nhưng cái được gọi là ‘tâm’, là ‘ý’, là ‘thức’ thì ngày đêm không ngừng sinh diệt khác nhau, hệt như một con khỉ chuyền cành trong rừng, vừa buông cành này ra đã vội chộp lấy cành khác.”

S. 12:61

“Hành động bố thí tuy mang lại nhiều quả báu... nhưng việc với tâm tịnh tín quy y Phật, Pháp, Tăng và thọ trì năm giới đạo đức còn mang lại nhiều quả báu hơn... Việc đó tuy mang lại nhiều quả báu... nhưng việc tu tập tâm từ dù chỉ trong khoảng thời gian một lần vắt sữa bò còn mang lại nhiều quả báu hơn... việc đó tuy mang lại nhiều quả báu... nhưng việc duy trì tri giác về vô thường dù chỉ trong một cái búng ngón tay còn mang lại nhiều quả báu hơn nữa.”

A. 9:20 (tóm lược)

“Bất cứ ai say đắm mắt, v.v., tức là say đắm khổ đau, và Ta nói rằng người ấy sẽ không thoát khỏi khổ đau.”

S. 35:19

“Thế nào là sự trổ quả của khổ đau? Khi ai đó bị áp đảo và tâm trí bị đau khổ ám ảnh, hoặc là người ấy sầu não, than vãn, đấm ngực khóc than và trở nên điên loạn, hoặc là người ấy bắt đầu tìm kiếm bên ngoài: ‘Ai là người biết một lời, hai lời để chấm dứt đau khổ?’ Ta nói rằng đau khổ hoặc trổ quả thành sự bối rối, hoặc trổ quả thành sự tìm kiếm.”

A. 6:63

“Bất kỳ ai thấy các hành là lạc... hoặc thấy Niết-bàn là khổ, mà lại có được sự ưa thích phù hợp (với chân lý) là điều không thể có. (Nhưng điều ngược lại) thì có thể.”

A. 6:99

“Tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, thuộc bất kỳ loại nào, dù quá khứ, tương lai hay hiện tại, thuộc nội thân hay ngoại cảnh, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đều phải được quán sát đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’”

S. 22:59

“Cái gì trong thế gian mà nhờ đó người ta nhận biết thế gian và khởi lên những quan niệm kiêu mạn về thế gian, thì cái đó được gọi là ‘thế gian’ trong Giới luật của Bậc Thánh. Và cái gì trong thế gian giúp người ta làm được điều đó? Đó chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.”

S. 35:116

“Nó đang bị hoại diệt (lujjati), vì thế nó được gọi là ‘thế gian’ (loka).”

S. 35:82

“Bạch Thế Tôn, người ta hay nói ‘thế gian rỗng không, thế gian rỗng không’; theo nghĩa nào thì gọi là ‘thế gian rỗng không’?”—“Này Ānanda, chính vì rỗng không đối với tự ngã và những gì thuộc về tự ngã mà gọi là ‘thế gian rỗng không’. Và cái gì là rỗng không đối với tự ngã và những gì thuộc về tự ngã? Mắt... các sắc... nhãn thức... nhãn xúc... bất kỳ cảm thọ nào... do nhãn xúc sinh ra... Tai, v.v...

“Mũi, v.v... Lưỡi, v.v... Thân, v.v... Ý, v.v... bất kỳ cảm thọ nào dù lạc, khổ hay không khổ không lạc do ý xúc sinh ra đều rỗng không đối với tự ngã và những gì thuộc về tự ngã.”

S. 35:85

“Khi một tỳ-kheo thường an trú với tâm được củng cố bởi tri giác về vô thường, tâm vị ấy sẽ thoái lui, co rút lại và quay lưng trước danh lợi, sự cung kính và tiếng tăm thay vì hướng tới chúng, hệt như một chiếc lông gà hay một sợi gân ném vào lửa sẽ thoái lui, co rút lại và quay lưng khỏi ngọn lửa thay vì hướng vào nó... Khi vị ấy thường an trú với tâm được củng cố bởi tri giác về khổ trong vô thường, trong vị ấy sẽ thiết lập tri giác sống động về sự kinh sợ đối với sự lười biếng, trễ nải, buông lung, bất cẩn và sự thiếu sót trong việc tu tập và quán chiếu, giống như đối với một kẻ sát nhân đang lăm lăm vũ khí... Khi vị ấy thường an trú với tâm được củng cố bởi tri giác về vô ngã trong đau khổ, tâm vị ấy sẽ thoát khỏi những quan niệm chấp ngã coi thân xác này cùng với ý thức và mọi dấu hiệu bên ngoài theo các khái niệm ‘tôi’ và ‘của tôi’.”

A. 7:46

NGƯỜI KỂ HAI. “Thuyết ngã” được hợp lý hóa bằng lý trí, dù xuất hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng được gọi là “vừa là một tri kiến vừa là một kiết sử”, nó dựa trên một sự bóp méo tinh vi mang tính cốt lõi trong hành vi nhận thức, đó là “ngã mạn ‘tôi là’”—vốn là “một kiết sử, nhưng không phải là một tri kiến”. Giờ đây, các thuyết về ngã có thể được diễn đạt thành lời hoặc không; nhưng nếu được diễn đạt, chúng không thể được miêu tả cụ thể mà không quy chiếu về năm uẩn. Vì lý do đó, khi được miêu tả, tất cả chúng đều có thể được quy về một trong các dạng của cái gọi là “thân kiến”, 17 vốn được trình bày một cách có hệ thống. Tất cả những dạng này đều được bậc Dự lưu từ bỏ, mặc dù ngã mạn “tôi là” thì chưa.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thân kiến khởi sinh như thế nào?”—“Ở đây, một kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp, không kính trọng các bậc thánh và không thông hiểu Giáo pháp và Giới luật của các ngài... coi sắc là ngã, hoặc ngã sở hữu sắc, hoặc sắc ở trong ngã, hoặc ngã ở trong sắc. (Và tương tự với từng uẩn trong bốn uẩn còn lại: thọ, tưởng, hành và thức.) Một bậc thánh đệ tử nghe nhiều hiểu rộng thì không làm như vậy.”

MN-44; M.109

“Kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp, không kính trọng các bậc thánh... khởi lên sự chú ý không đúng đắn (phi lý tác ý) theo cách này: ‘Ta có tồn tại trong quá khứ không? Ta có không tồn tại trong quá khứ không? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Từng là gì rồi ta trở thành gì trong quá khứ? Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Từng là gì rồi ta sẽ trở thành gì trong tương lai?’ Hoặc là người ấy tự hỏi về mình trong thời hiện tại như thế này: ‘Ta có đang tồn tại không? Ta không tồn tại sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Rồi nó sẽ đi về đâu?’

“Khi người ấy chú ý không đúng đắn theo cách đó, một trong sáu loại tà kiến sau đây sẽ khởi sinh nơi người ấy như một chân lý vững chắc: ‘Ngã của ta tồn tại’ hoặc ‘Ngã của ta không tồn tại’ hoặc ‘Ta nhận biết ngã nhờ ngã’ hoặc ‘Ta nhận biết phi ngã nhờ ngã’ hoặc ‘Ta nhận biết ngã nhờ phi ngã’ hoặc một quan điểm như ‘Chính cái ngã này của ta là cái biết nói, biết cảm nhận, và nếm trải quả báo của các hành vi thiện ác chỗ này chỗ kia; nhưng cái ngã này của ta là thường hằng, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi và sẽ trường tồn đến muôn đời.’ Mảnh đất của những tri kiến này được gọi là rừng rậm tri kiến, sa mạc tri kiến, sự vặn vẹo tri kiến, sự dao động tri kiến, kiết sử tri kiến. Kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp bị trói buộc bởi kiết sử tri kiến sẽ không thoát khỏi sinh, già, chết, sầu, bi, ưu, não: Ta nói rằng người ấy không thoát khỏi đau khổ.”

MN-2

“Này các tỳ-kheo, có hai loại tà kiến, và khi chư thiên cùng loài người bị chúng kìm kẹp, một số sẽ chùn bước và một số sẽ đi quá trớn; chỉ những ai có mắt sáng mới thấy được. Thế nào là chùn bước? Chư thiên và loài người ham thích sự hiện hữu, vui sướng với sự hiện hữu, thích thú sự hiện hữu; khi Giáo pháp được giảng giải cho họ nhằm chấm dứt sự hiện hữu, tâm họ không hướng tới, không phát khởi niềm tin, sự kiên định và quả quyết. Như vậy là một số người chùn bước. Và thế nào là đi quá trớn? Một số người cảm thấy xấu hổ, nhục nhã và ghê tởm chính sự hiện hữu đó, và họ mong chờ sự phi hữu (không tồn tại) theo cách này: ‘Này chư vị, khi thân xác này tan rã, bản ngã này bị cắt đứt, bị tiêu diệt và sau khi chết không còn tồn tại nữa, đó là sự tịch tịnh nhất, đó là mục tiêu tối thượng hơn cả, đó là thực tại.’ Như vậy là một số người đi quá trớn. Và những người có mắt sáng thấy như thế nào? Ở đây, một tỳ-kheo nhìn thấy những gì đã sinh khởi đúng như bản chất đã sinh khởi của nó. Nhờ thấy như vậy, vị ấy bước vào con đường đưa đến ly tham đối với nó, làm phai nhạt và dập tắt sự say đắm đối với nó. Đó là cách mà một người có mắt sáng nhìn thấy.”

Iti. 49

“Này các tỳ-kheo, những tài sản mà các ông có thể sở hữu mà lại thường hằng, vĩnh cửu... các ông có thấy bất kỳ tài sản nào như vậy không?”—“Bạch Thế Tôn, không ạ.”—“... Sự chấp thủ thuyết ngã mà nhờ đó người ta chấp thủ mà không bao giờ làm dấy lên sầu muộn và... tuyệt vọng nơi kẻ chấp thủ; các ông có thấy bất kỳ sự chấp thủ thuyết ngã nào như vậy không?”—“Bạch Thế Tôn, không ạ.”—“... Quan điểm làm chỗ nương tựa mà người ta có thể nương tựa vào đó mà không bao giờ làm dấy lên sầu muộn và... tuyệt vọng nơi kẻ nương tựa; các ông có thấy bất kỳ quan điểm nào như vậy không?”—“Bạch Thế Tôn, không ạ.”—“... Này các tỳ-kheo, nếu có tự ngã, liệu có cái thuộc về tự ngã không?”—“Bạch Thế Tôn, có ạ.”—“Và nếu có cái thuộc về tự ngã, liệu có tự ngã không?”—“Bạch Thế Tôn, có ạ.”—“Này các tỳ-kheo, khi tự ngã và cái thuộc về tự ngã không thể nắm bắt được như một chân lý xác thực và vững chắc, thì chẳng phải quan điểm này—‘Đây là thế giới, đây là tự ngã; sau khi chết ta sẽ trường tồn, vĩnh cửu, bất biến, không chịu sự đổi dời, ta sẽ tồn tại đến muôn đời’—chẳng phải là sự điên rồ trọn vẹn của một kẻ ngu muội hay sao?”—“Bạch Thế Tôn, làm sao mà không phải được? Đó chắc chắn là sự điên rồ trọn vẹn của một kẻ ngu muội.”

MN-22

“Bất cứ khi nào có những vị tu sĩ hay bà-la-môn nhìn thấy tự ngã dưới các hình thức khác nhau, tất cả họ đều chỉ nhìn thấy năm thủ uẩn, hoặc một trong số các uẩn ấy. Ở đây, một kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp, không kính trọng các bậc thánh... coi sắc là ngã, hoặc ngã sở hữu sắc, hoặc sắc ở trong ngã, hoặc ngã ở trong sắc (hoặc làm tương tự với bốn uẩn còn lại). Như vậy người ấy có cái nhìn (được lý trí hóa) này, và người ấy cũng có thái độ (căn bản) ‘tôi là’ này; nhưng chừng nào còn có thái độ ‘tôi là’, thì chừng đó còn có sự phối hợp của năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Rồi có ý, có các pháp, và có yếu tố vô minh. Khi một kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp bị xúc chạm bởi cảm giác sinh ra từ xúc của vô minh, người ấy sẽ khởi lên ý nghĩ: ‘Tôi là’, và ‘Tôi là thế này’, và ‘Tôi sẽ tồn tại’, và ‘Tôi sẽ không tồn tại’, và ‘Tôi sẽ có hình sắc’, và ‘Tôi sẽ không có hình sắc’, và ‘Tôi sẽ có tri giác’, và ‘Tôi sẽ không có tri giác’, và ‘Tôi sẽ không có tri giác cũng không phải không có tri giác’. Nhưng đối với bậc thánh đệ tử nghe nhiều hiểu rộng, trong khi năm giác quan vẫn giữ nguyên như cũ, thì vô minh của vị ấy về chúng đã được đoạn trừ và minh trí đã khởi sinh. Nhờ đó, vị ấy không còn khởi lên ý nghĩ ‘Tôi là’ hay... ‘Tôi sẽ không có tri giác cũng không phải không có tri giác’ nữa.”

S. 22:47

NGƯỜI KỂ HAI. Người bình thường không nhận biết được thái độ nền tảng tinh vi này, tức là khuynh hướng ngầm hay sự ngạo mạn “tôi là”. Nó khiến người ấy, khi tri giác một đối tượng, sẽ tự động và đồng thời khởi niệm theo các khái niệm về “tôi”, giả định một mối quan hệ có bản ngã đối với đối tượng đó, hoặc coi mình đồng nhất với nó, hoặc coi mình chứa đựng bên trong nó, hoặc coi mình tách biệt khỏi nó, hoặc coi mình là kẻ sở hữu nó. Thái độ này, sự khởi niệm này, chỉ được từ bỏ khi chứng đắc quả vị A-la-hán, chứ không thể trước đó. (Xem chẳng hạn MN-1MN-49.)

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “‘Tôi là’ là một khái niệm phái sinh, không phải cái độc lập. Phái sinh dựa trên cái gì? Phái sinh dựa trên sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.”

S. 22:83

“Khi bất kỳ vị tu sĩ hay bà-la-môn nào, lấy sắc (và các uẩn còn lại) làm phương tiện—vốn là vô thường, khổ và chịu sự biến đổi—mà lại thấy rằng ‘Tôi hơn người’, hoặc ‘Tôi bằng người’, hoặc ‘Tôi kém người’, thì đó là gì nếu không phải là sự mù quáng trước thực tại?”

S. 22:49

(Khi được các Trưởng lão gặng hỏi, Trưởng lão Khemaka đáp:) “Tôi không thấy trong năm thủ uẩn này có bất kỳ tự ngã nào hay cái gì thuộc về tự ngã... tuy nhiên tôi chưa phải là bậc A-la-hán đã tận trừ các lậu hoặc. Trái lại, tôi vẫn còn thái độ ‘tôi là’ đối với năm thủ uẩn này, mặc dù tôi không thấy ‘tôi là cái này’ đối với chúng... Tôi không nói ‘Tôi là sắc’ hay ‘Tôi là thọ’ hay ‘Tôi là tưởng’ hay ‘Tôi là hành’ hay ‘Tôi là thức’, tôi cũng không nói ‘Tôi tách biệt khỏi sắc... tách biệt khỏi thức’; nhưng tôi vẫn còn thái độ ‘tôi là’ đối với năm thủ uẩn mặc dù tôi không thấy ‘tôi là cái này’ đối với chúng. Mặc dù một bậc thánh đệ tử có thể đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (xem bên dưới), nhưng ngã mạn ‘tôi là’, dục ái ‘tôi là’, tùy miên ‘tôi là’ đối với năm thủ uẩn nơi vị ấy vẫn chưa hoàn toàn bị dập tắt. Về sau, vị ấy an trú quán chiếu sự sinh diệt như sau: ‘Đây là sắc, đây là nguồn gốc của nó, đây là sự biến mất của nó’ (và tương tự với bốn uẩn còn lại), cho đến khi làm như vậy, ngã mạn ‘tôi là’ nơi vị ấy cuối cùng cũng bị dập tắt hoàn toàn.”

S. 22:89

NGƯỜI KỂ HAI. Cuối cùng, chúng ta đến với mười kiết sử, vốn được bẻ gãy dần dần qua bốn giai đoạn chứng ngộ.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Một kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp, không kính trọng các bậc thánh... sống với tâm trí bị xâm chiếm và nô dịch bởi thân kiến, bởi hoài nghi, bởi giới cấm thủ, 18 bởi tham dục, và bởi sân hận, và người ấy không biết cách thoát khỏi chúng khi chúng khởi sinh; những thứ này, khi đã trở thành thói quen và chưa được nhổ tận gốc nơi người ấy, được gọi là các hạ phần kiết sử.”

MN-64

“Năm thượng phần kiết sử là: sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn (ngã mạn ‘tôi là’), trạo cử, và vô minh.”

D. 33

“Có những tỳ-kheo, nhờ đoạn trừ (ba) kiết sử đầu tiên, đã bước vào dòng (Dự lưu), không còn bị đọa vào ác đạo, chắc chắn hướng về chánh giác, và nhất định sẽ giác ngộ. Có những tỳ-kheo, nhờ đoạn trừ ba kiết sử và làm suy yếu tham, sân, si, là bậc Nhất lai: chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Có những tỳ-kheo, nhờ diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sinh tự nhiên ở cõi khác và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không bao giờ còn trở lại thế giới này nữa. Có những tỳ-kheo là bậc A-la-hán đã tận trừ các lậu hoặc, đã sống trọn vẹn đời phạm hạnh, đã làm xong những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối thượng, đã bẻ gãy các kiết sử của hữu, và được giải thoát hoàn toàn nhờ thắng trí.”

MN-118

“Sự tận trừ tham, sân và si được gọi là quả vị A-la-hán.”

S. 38:2

“Khi một tỳ-kheo du hành qua nhiều xứ sở, những người có học thuộc mọi tầng lớp sẽ đặt câu hỏi cho vị ấy. Những người có học và hay tìm hiểu sẽ hỏi: ‘Tôn sư của tôn giả dạy điều gì, thuyết giảng điều gì?’ Để trả lời đúng đắn, các ông có thể nói: ‘Tôn sư của chúng tôi thuyết giảng về sự đoạn trừ tham dục.’ Và nếu sau đó các ông được hỏi: ‘Đoạn trừ tham dục đối với cái gì?’, các ông có thể trả lời: ‘Đoạn trừ tham dục đối với sắc (và các uẩn còn lại).’ Và nếu sau đó các ông được hỏi: ‘Nhưng các vị thấy mối nguy hại (sự bất toàn) nào trong những thứ đó?’, các ông có thể trả lời:

‘Khi một người chưa thoát khỏi tham ái, khát khao, luyến ái, sự thèm khát, sốt sắng và thèm muốn đối với những thứ này, thì khi chúng biến đổi và đổi dời, sầu, bi, ưu, não sẽ khởi sinh nơi người ấy.’ Và nếu sau đó các ông được hỏi: ‘Vậy các vị thấy lợi ích gì khi làm như thế?’, các ông có thể trả lời: ‘Khi một người thoát khỏi tham ái, khát khao, luyến ái, sự thèm khát, sốt sắng và thèm muốn đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức, thì khi chúng biến đổi và đổi dời, sẽ không có sầu, bi, ưu, não nào khởi sinh nơi người ấy cả.’”

S. 22:2

(2) CHÁNH TƯ DUY

NGƯỜI KỂ HAI. Phần khảo sát về chánh kiến đến đây là kết thúc. Chi phần tiếp theo của Bát Chánh Đạo là chánh tư duy.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh tư duy? Đó là suy nghĩ về sự xuất ly (từ bỏ), suy nghĩ về không sân hận, suy nghĩ về không hại (bất bạo động): đây gọi là chánh tư duy.”

S. 45:8; D. 22

“Khi một bậc thánh đệ tử đã thấy rõ ràng bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng các dục đem lại ít vị ngọt nhưng lại kéo theo nhiều đau đớn và tuyệt vọng, và mối nguy hại của chúng lớn biết dường nào, rồi vị ấy đạt được niềm hạnh phúc và an lạc tách biệt khỏi các dục và các trạng thái bất thiện, hoặc đạt được điều gì đó cao hơn thế, thì vị ấy không còn tha thiết gì với các dục nữa.”

MN-14

“Ngay cả khi những kẻ cướp tàn bạo cưa xẻ từng phần thân thể người ấy bằng chiếc cưa hai tay cầm, nếu ai khởi tâm oán hận trong lòng vì điều đó thì người ấy không phải là người thực hành theo giáo pháp của Ta.”

MN-21

“Vị ấy không lựa chọn những điều gây đau khổ cho mình, gây đau khổ cho người khác, hay gây đau khổ cho cả hai.”

MN-13

(3) CHÁNH NGỮ

NGƯỜI KỂ HAI. Hai chi phần chánh kiến và chánh tư duy cùng nhau tạo thành nhóm (chi phần đạo lộ) “Tuệ” (paññā). Bây giờ là chi phần thứ ba, chánh ngữ.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh ngữ? Tránh xa nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, và nói lời phù phiếm; đây gọi là chánh ngữ.”

S. 45:8; D. 22

“Ở đây, một người từ bỏ nói dối: khi được triệu ra tòa, đến một cuộc họp, đến trước mặt người thân, trước phường hội hay trước mặt hoàng gia và được thẩm vấn với tư cách là nhân chứng rằng ‘Này người kia, hãy nói những gì ông biết’, thì nếu không biết, người ấy nói ‘Tôi không biết’, nếu biết, người ấy nói ‘Tôi biết’, nếu không thấy, người ấy nói ‘Tôi không thấy’, nếu thấy, người ấy nói ‘Tôi thấy’; người ấy không cố tình nói lời dối trá vì lợi ích của mình, vì lợi ích của người khác hay vì một chút lợi lộc tầm thường nào ở đời. Người ấy từ bỏ lời đâm thọc: không nghe chỗ này rồi đem kể chỗ kia để gây chia rẽ với những người này, cũng không nghe chỗ kia rồi đem kể chỗ này để gây chia rẽ với những người kia; người ấy là người hàn gắn những kẻ chia rẽ, khuyến khích tình bằng hữu, vui thích sự hòa hợp, hoan hỷ sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp. Người ấy từ bỏ lời thô ác: vị ấy nói những lời vô hại, êm tai và đáng yêu, đi vào lòng người, lịch thiệp, được nhiều người ưa chuộng và mến mộ. Người ấy từ bỏ lời phù phiếm: là người nói đúng thời, đúng sự thật, nói điều hữu ích, nói về Pháp và Luật, người ấy nói đúng lúc những lời đáng ghi nhớ, có lý lẽ, rõ ràng và gắn liền với điều thiện.”

MN-41

(4) CHÁNH NGHIỆP

NGƯỜI KỂ HAI. Và chi phần thứ tư, chánh nghiệp.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh nghiệp? Tránh xa sát sinh, trộm cắp, và tà dâm: đây gọi là chánh nghiệp.”

S. 45:8; D. 22

“Khi một người cư sĩ thành tựu năm điều, người ấy sống với sự tự tin trong ngôi nhà của mình, và chắc chắn sẽ được sinh lên cõi trời như thể được người ta bế đặt vào đó. Năm điều ấy là gì? Người ấy kiêng giết hại chúng sinh, kiêng lấy của không cho, kiêng tà hạnh trong các dục, kiêng nói dối, và kiêng đắm chìm trong rượu, men và các chất say.”

A. 5:172-73

(5) CHÁNH MẠNG

NGƯỜI KỂ HAI. Và chi phần thứ năm, chánh mạng.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh mạng? Ở đây, một thánh đệ tử từ bỏ tà mạng và nuôi sống bản thân bằng chánh mạng.”

S. 45:8; D. 22

“Mưu mô (lừa gạt), nịnh hót, gợi ý, gièm pha, và dùng mối lợi này để theo đuổi mối lợi khác; đây gọi là tà mạng (đối với các tỳ-kheo).”

MN-117

“Có năm nghề buôn bán mà một người cư sĩ không nên làm. Năm nghề ấy là gì? Đó là: buôn bán vũ khí, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán chất say, và buôn bán chất độc.”

A. 5:177

(6) CHÁNH TINH TẤN

NGƯỜI KỂ HAI. Ba chi phần vừa qua—chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng—cùng nhau tạo thành nhóm “Giới” (sīla). Chúng được biết đến như là giai đoạn sơ khởi của đạo lộ. Bây giờ đến chi phần thứ sáu, chánh tinh tấn.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, một tỳ-kheo khởi lên ý muốn ngăn ngừa các trạng thái ác, bất thiện chưa sinh không cho khởi sinh; vị ấy nỗ lực, phát khởi dũng khí, dốc lòng và cố gắng. Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn trừ các trạng thái ác, bất thiện đã sinh; vị ấy nỗ lực... Vị ấy khởi lên ý muốn làm cho các trạng thái thiện chưa sinh được khởi sinh; vị ấy nỗ lực... Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì, không làm suy giảm, tăng trưởng, tu tập và làm viên mãn các trạng thái thiện đã sinh; vị ấy nỗ lực, phát khởi dũng khí, dốc lòng và cố gắng: đây gọi là chánh tinh tấn.”

S. 45:8; D. 22

(7) CHÁNH NIỆM

NGƯỜI KỂ HAI. Bây giờ đến chi phần thứ bảy, chánh niệm.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh niệm? Ở đây, một tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ái và ưu phiền ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm... Vị ấy sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm... Vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ái và ưu phiền ở đời. Đây gọi là chánh niệm.”

S. 45:8; D. 22

“Một tỳ-kheo sống quán thân trên thân như thế nào? Ở đây, một tỳ-kheo đi đến khu rừng, hay đến gốc cây, hay đến một căn phòng trống, ngồi xuống; sau khi ngồi kiết già, giữ thân thẳng thắn, và an trú chánh niệm trước mặt, vị ấy chỉ chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra. 19 Như một người thợ tiện lành nghề hay người học việc của anh ta, khi tiện một vòng dài thì biết ‘Tôi tiện một vòng dài’, hay khi tiện một vòng ngắn thì biết ‘Tôi tiện một vòng ngắn’; cũng vậy, thở vào một hơi dài, vị tỳ-kheo biết ‘Tôi thở vào một hơi dài’, hay thở ra một hơi dài, vị ấy biết ‘Tôi thở ra một hơi dài’; thở vào một hơi ngắn, vị ấy biết ‘Tôi thở vào một hơi ngắn’, hay thở ra một hơi ngắn, vị ấy biết ‘Tôi thở ra một hơi ngắn’. Vị ấy tập như sau: ‘Tôi sẽ thở vào và cảm nhận toàn thân (toàn bộ hơi thở)’; vị ấy tập như sau: ‘Tôi sẽ thở ra và cảm nhận toàn thân (toàn bộ hơi thở)’. Vị ấy tập như sau: ‘Tôi sẽ thở vào làm lắng dịu thân hành (chức năng của thân)’; vị ấy tập như sau: ‘Tôi sẽ thở ra làm lắng dịu thân hành (chức năng của thân)’. 20

“Vị ấy sống quán thân trên thân theo cách như vậy, hoặc nơi nội thân, hoặc nơi ngoại thân, hoặc cả nơi nội thân lẫn ngoại thân. 21

“Hoặc vị ấy quán sát các yếu tố sinh khởi nơi thân, hoặc các yếu tố hoại diệt nơi thân, hoặc cả các yếu tố sinh khởi lẫn hoại diệt nơi thân.

“Hoặc chánh niệm rằng ‘Có một thân thể’ được thiết lập nơi vị ấy đến mức độ chỉ vừa đủ cho sự hiểu biết và hồi niệm thuần túy, trong khi vị ấy sống độc lập, không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, khi đi, vị tỳ-kheo biết ‘Tôi đang đi’; hay khi đứng, vị ấy biết ‘Tôi đang đứng’; hay khi ngồi, vị ấy biết ‘Tôi đang ngồi’; hay khi nằm, vị ấy biết ‘Tôi đang nằm’. Thân thể ở tư thế nào, vị ấy biết rõ thân đang ở tư thế ấy.

“Vị ấy sống quán thân trên thân... nơi ngoại thân.

“Hoặc vị ấy quán sát... các yếu tố sinh khởi và hoại diệt.

“Hoặc chánh niệm... không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, vị tỳ-kheo luôn tỉnh giác khi tới lui, khi nhìn thẳng nhìn quanh, khi co tay duỗi chân, khi mang y thượng, y bát và các y khác, khi ăn, uống, nhai, nếm, khi đại tiện, tiểu tiện; và vị ấy tỉnh giác, chánh niệm khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói năng và im lặng.

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, ví như có một chiếc bao hai đầu đựng đầy các loại ngũ cốc, như lúa núi, gạo đỏ, đậu xanh, đậu hà lan, mè, và gạo trắng, và một người có mắt sáng mở bao ra và quan sát: ‘Đây là lúa núi, đây là gạo đỏ, đây là đậu xanh, đây là đậu hà lan, đây là mè, đây là gạo trắng’; cũng vậy, một tỳ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, chứa đầy những thứ bất tịnh: ‘Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi; ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, nước khớp xương, và nước tiểu.’

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, ví như một người đồ tể lành nghề hay người học việc mổ một con bò rồi ngồi ở ngã tư đường sau khi xẻ thịt nó thành từng mảnh; cũng vậy, dù thân này ở bất kỳ tư thế nào, vị tỳ-kheo quán sát nó dựa theo các đại: ‘Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, vị tỳ-kheo quán xét chính thân này như thể nhìn thấy một tử thi bị vứt nơi tha ma, chết được một ngày, hai ngày, ba ngày, phình trĩu lên, xanh xao và rỉ nước thối rữa: ‘Thân này của ta cũng có bản chất như vậy, sẽ trở nên như vậy, không thể thoát khỏi số phận đó.’

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Lại nữa, vị tỳ-kheo quán xét chính thân này như thể nhìn thấy một tử thi bị vứt nơi tha ma, bị quạ, diều hâu, kền kền, chó, chó rừng, và muôn vàn loài dòi bọ rỉa rói:... như thể nhìn thấy một tử thi bị vứt nơi tha ma, chỉ còn là một bộ xương dính chút thịt và máu, nối với nhau bằng các sợi gân:... một bộ xương không còn thịt nhưng còn vấy máu, nối với nhau bằng các sợi gân:... một bộ xương không còn thịt và máu, nối với nhau bằng các sợi gân:... các khúc xương không còn gân cốt, rải rác khắp nơi, chỗ này một mảnh xương tay, chỗ kia một mảnh xương chân, chỗ kia xương ống chân, chỗ kia xương đùi, chỗ kia xương hông, chỗ kia xương sống, chỗ kia đầu lâu:... xương trắng bệch màu vỏ ốc:... xương chất thành đống lâu hơn một năm:... xương mục nát và mủn ra thành bụi: ‘Thân này của ta cũng có bản chất như vậy, sẽ trở nên như vậy, không thể thoát khỏi số phận đó.’

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó cũng là cách một tỳ-kheo sống quán thân trên thân.

“Và một tỳ-kheo sống quán thọ trên các thọ như thế nào?

“Ở đây, khi cảm nhận một cảm thọ dễ chịu, vị tỳ-kheo biết ‘Tôi đang cảm nhận một cảm thọ dễ chịu’; khi cảm nhận một cảm thọ đau khổ, vị ấy biết ‘Tôi đang cảm nhận một cảm thọ đau khổ’; khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không lạc, vị ấy biết ‘Tôi đang cảm nhận một cảm thọ không khổ không lạc’. Khi cảm nhận một cảm thọ dễ chịu thuộc vật chất (thế tục), 22 vị ấy biết ‘Tôi đang cảm nhận một cảm thọ dễ chịu thuộc vật chất’;... (và tương tự với hai cảm thọ kia). Khi cảm nhận một cảm thọ dễ chịu không thuộc vật chất (xuất thế gian), vị ấy biết ‘Tôi đang cảm nhận một cảm thọ dễ chịu không thuộc vật chất’;... (và tương tự với hai cảm thọ kia).

“Vị ấy sống quán thọ trên các thọ theo cách như vậy, hoặc nơi nội thân, hoặc nơi ngoại thân, hoặc cả nơi nội thân lẫn ngoại thân.

“Hoặc vị ấy quán sát các yếu tố sinh khởi nơi các thọ, hoặc các yếu tố hoại diệt nơi các thọ, hoặc cả các yếu tố sinh khởi lẫn hoại diệt nơi các thọ.

“Hoặc chánh niệm rằng ‘Có các cảm thọ’ được thiết lập nơi vị ấy đến mức độ chỉ vừa đủ cho sự hiểu biết và hồi niệm thuần túy, trong khi vị ấy sống độc lập, không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán thọ trên các thọ.

“Và một tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm như thế nào?

“Ở đây, vị tỳ-kheo biết rõ tâm có tham ái là tâm có tham ái, và tâm không tham ái là tâm không tham ái. Vị ấy biết rõ tâm có sân hận là tâm có sân hận, và tâm không sân hận là tâm không sân hận. Vị ấy biết rõ tâm có si mê là tâm có si mê, và tâm không si mê là tâm không si mê. Vị ấy biết rõ tâm thu nhiếp là tâm thu nhiếp, và tâm tán loạn là tâm tán loạn. Vị ấy biết rõ tâm quảng đại là tâm quảng đại, và tâm không quảng đại là tâm không quảng đại. Vị ấy biết rõ tâm hữu hạn là tâm hữu hạn, và tâm vô thượng là tâm vô thượng. 23 Vị ấy biết rõ tâm có định là tâm có định, và tâm không định là tâm không định. Vị ấy biết rõ tâm giải thoát là tâm giải thoát, và tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát.

“Vị ấy sống quán tâm trên tâm theo cách như vậy, hoặc nơi nội thân, hoặc nơi ngoại thân, hoặc cả nơi nội thân lẫn ngoại thân.

“Hoặc vị ấy quán sát các yếu tố sinh khởi nơi tâm, hoặc các yếu tố hoại diệt nơi tâm, hoặc cả các yếu tố sinh khởi lẫn hoại diệt nơi tâm.

“Hoặc chánh niệm rằng ‘Có tâm thức’ được thiết lập nơi vị ấy đến mức độ chỉ vừa đủ cho sự hiểu biết và hồi niệm thuần túy, trong khi vị ấy sống độc lập, không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm.

“Và một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp như thế nào?

“Ở đây, một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua năm triền cái. 24 Điều đó được thực hiện như thế nào? Ở đây, khi có dục tham trong mình, vị ấy biết ‘Có dục tham trong tôi’; hoặc khi không có dục tham trong mình, vị ấy biết ‘Không có dục tham trong tôi’; và vị ấy cũng biết rõ dục tham chưa sinh khởi sinh như thế nào, dục tham đã sinh được đoạn trừ như thế nào, và dục tham đã đoạn trừ sẽ không còn sinh khởi trong tương lai như thế nào. Khi có sân hận trong mình... Khi có hôn trầm thụy miên trong mình... Khi có trạo cử hối quá trong mình... Khi có hoài nghi trong mình... vị ấy biết rõ hoài nghi đã đoạn trừ sẽ không còn sinh khởi trong tương lai như thế nào.

“Vị ấy sống quán pháp trên các pháp nơi nội thân, hoặc nơi ngoại thân, hoặc cả nơi nội thân lẫn ngoại thân.

“Hoặc vị ấy quán sát các yếu tố sinh khởi nơi các pháp, hoặc các yếu tố hoại diệt nơi các pháp, hoặc cả các yếu tố sinh khởi lẫn hoại diệt nơi các pháp.

“Hoặc chánh niệm rằng ‘Có các pháp’ được thiết lập nơi vị ấy đến mức độ chỉ vừa đủ cho sự hiểu biết và hồi niệm thuần túy, trong khi vị ấy sống độc lập, không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua năm triền cái.

“Lại nữa, một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua năm thủ uẩn. Điều đó được thực hiện như thế nào? Ở đây, một tỳ-kheo biết rõ: ‘Đây là sắc, đây là nguồn gốc của sắc, đây là sự biến mất của sắc; đây là thọ, đây là nguồn gốc của thọ, đây là sự biến mất của thọ; đây là tưởng, đây là nguồn gốc của tưởng, đây là sự biến mất của tưởng; đây là các hành, đây là nguồn gốc của các hành, đây là sự biến mất của các hành; đây là thức, đây là nguồn gốc của thức, đây là sự biến mất của thức.’

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua năm thủ uẩn.

“Lại nữa, một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua sáu nội xứ và ngoại xứ. Điều đó được thực hiện như thế nào? Ở đây, một tỳ-kheo biết rõ mắt và các sắc, cùng kiết sử khởi sinh do duyên cả hai; vị ấy biết rõ kiết sử chưa sinh khởi sinh như thế nào, kiết sử đã sinh được đoạn trừ như thế nào, và kiết sử đã đoạn trừ sẽ không còn sinh khởi trong tương lai như thế nào. Vị ấy biết rõ tai và các âm thanh... mũi và các mùi hương... lưỡi và các vị... thân và các xúc chạm... ý và các pháp cùng kiết sử khởi sinh do duyên cả hai;... và vị ấy biết rõ kiết sử đã đoạn trừ sẽ không còn sinh khởi trong tương lai như thế nào.

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua sáu nội xứ và ngoại xứ.

“Lại nữa, một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua bảy giác chi. Điều đó được thực hiện như thế nào? Ở đây, khi có niệm giác chi trong mình, vị tỳ-kheo biết ‘Có niệm giác chi trong tôi’; khi không có niệm giác chi trong mình, vị ấy biết ‘Không có niệm giác chi trong tôi’; và vị ấy biết rõ niệm giác chi chưa sinh khởi sinh như thế nào, và niệm giác chi đã sinh được phát triển và viên mãn như thế nào. Khi có trạch pháp giác chi trong mình... tinh tấn giác chi... hỷ giác chi... khinh an giác chi... định giác chi... xả giác chi trong mình... và vị ấy biết rõ xả giác chi chưa sinh khởi sinh như thế nào, và xả giác chi đã sinh được phát triển và viên mãn như thế nào.

“Vị ấy sống quán sát...

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua bảy giác chi.

“Lại nữa, một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua Bốn Thánh Đế. Điều đó được thực hiện như thế nào? Ở đây, một tỳ-kheo hiểu biết đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ’, ‘Đây là nguồn gốc của khổ’, ‘Đây là sự chấm dứt khổ’, và ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ’.

“Vị ấy sống quán pháp trên các pháp nơi nội thân, hoặc nơi ngoại thân, hoặc cả nơi nội thân lẫn ngoại thân.

“Hoặc vị ấy quán sát các yếu tố sinh khởi nơi các pháp, hoặc các yếu tố hoại diệt nơi các pháp, hoặc cả các yếu tố sinh khởi lẫn hoại diệt nơi các pháp.

“Hoặc chánh niệm rằng ‘Có các pháp’ được thiết lập nơi vị ấy đến mức độ chỉ vừa đủ cho sự hiểu biết và hồi niệm thuần túy, trong khi vị ấy sống độc lập, không chấp trước vào bất cứ điều gì trên đời.

“Đó là cách một tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp thông qua Bốn Thánh Đế.

“Này các tỳ-kheo, nếu có ai tu tập bốn nền tảng chánh niệm này trong bảy năm... chứ đừng nói đến bảy năm... chỉ trong bảy ngày, thì người ấy có thể trông đợi một trong hai kết quả: hoặc là chứng đắc thắng trí ngay trong hiện tại, hoặc là chứng quả Bất lai.”

D. 22; MN-10

“Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về sự sinh khởi và hoại diệt của bốn nền tảng chánh niệm: thân lấy thức ăn làm nguồn gốc, và nó hoại diệt khi thức ăn chấm dứt; các thọ lấy xúc làm nguồn gốc, và chúng hoại diệt khi xúc chấm dứt; thức lấy danh-sắc làm nguồn gốc, và nó hoại diệt khi danh-sắc chấm dứt; các pháp lấy tác ý làm nguồn gốc, và chúng hoại diệt khi tác ý chấm dứt.”

S. 47:42

“Mọi pháp đều lấy dục làm gốc rễ, lấy tác ý làm khởi điểm, lấy xúc làm nguồn gốc, lấy thọ làm nơi quy tụ, lấy định làm nơi đối diện, lấy niệm làm sự hộ trì, tuệ là pháp tối thượng trong số đó, và giải thoát là cốt tủy của chúng.”

A. 8:83

“Ai muốn bảo vệ chính mình thì nên tu tập bốn niệm xứ; ai muốn bảo vệ người khác thì nên tu tập bốn niệm xứ. Người bảo vệ chính mình là bảo vệ người khác; người bảo vệ người khác là bảo vệ chính mình.”

S. 47:19

(8) CHÁNH ĐỊNH

NGƯỜI KỂ HAI. Bây giờ chúng ta đến với chi phần thứ tám và cũng là chi phần cuối cùng: chánh định.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Thế nào là chánh định?

“Ở đây, hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, một tỳ-kheo chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, cùng với hỷ và lạc do ly dục sinh.”

D. 2; D. 22; MN-39; S. 45:8

“Ví như một người làm dịch vụ tắm rửa lành nghề hay người học việc đổ bột tắm vào một chiếc chậu kim loại, rồi rưới nước từng chút một, nhào trộn cho đến khi nước thấm đều khắp vắt bột tắm, làm ướt đẫm và lan tỏa khắp trong ngoài nhưng vắt bột không bị chảy nhão ra; cũng vậy, vị tỳ-kheo làm cho hỷ và lạc do ly dục sinh thấm nhuần, tràn trề, tràn đầy và lan tỏa khắp thân thể này, sao cho không có phần nào trên toàn thân mà không được thấm nhuần.”

D. 2; MN-39

“Làm lắng dịu tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái có sự tự tin nội tâm và nhất tâm, không còn tầm tứ, cùng với hỷ và lạc do định sinh.”

D. 2; D. 22; MN-39; S. 45:8

“Ví như có một hồ nước sâu với dòng nước mát ngầm phun lên từ bên dưới, không có nguồn nước chảy vào từ hướng đông, tây, bắc hay nam, cũng không có mưa rào từ trời tưới xuống theo mùa, thì dòng nước mát từ đáy hồ phun lên sẽ làm cho làn nước mát mẻ ấy thấm nhuần, tràn trề, tràn đầy và lan tỏa khắp hồ nước, không có chỗ nào trong toàn bộ hồ nước mà làn nước mát không lan tới; cũng vậy, vị tỳ-kheo làm cho hỷ và lạc do định sinh thấm nhuần, tràn trề, tràn đầy và lan tỏa khắp thân thể này, sao cho không có phần nào trên toàn thân mà chúng không lan tới.”

D. 2; MN-39

“Ly hỷ, vị ấy an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, và cảm nhận lạc thọ nơi thân, chứng và trú thiền thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh ngợi khen: ‘Người an trú trong xả và chánh niệm thì sống trong an lạc.’”

D. 2; D. 22; MN-39; S. 45:8

“Ví như trong một đầm sen xanh, sen trắng hay sen đỏ, có những đóa sen sinh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, nở rộ ngập trong làn nước, và nước thấm đẫm, tràn trề, tràn đầy và lan tỏa khắp các bông sen từ ngọn cho đến tận gốc rễ, không có phần nào của các bông sen đó mà nước không thấm tới; cũng vậy, vị tỳ-kheo làm cho cảm giác lạc thọ đã vắng bóng hỷ thấm nhuần, tràn trề, tràn đầy và lan tỏa khắp thân thể này, sao cho không có phần nào trên toàn thân mà nó không lan tới.”

D. 2; MN-39

“Đoạn trừ lạc và khổ, cùng với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với sự thanh tịnh của chánh niệm nhờ xả.”

D. 2; D.22; MN-39; S. 45:8

“Ví như có một người ngồi quấn tấm vải trắng trùm kín từ đầu đến chân, không có phần nào trên toàn bộ cơ thể anh ta mà tấm vải trắng không che phủ; cũng vậy, vị tỳ-kheo ngồi với tâm thuần tịnh, sáng chói bao trùm khắp thân thể, không có phần nào trên toàn thân mà nó không lan tỏa tới.”

D. 2; MN-39

“Thế nào là chánh định của các bậc thánh cùng với các nguyên nhân và trang bị của nó? Đó là bất kỳ sự nhất tâm nào được trang bị đầy đủ với bảy chi phần kia của đạo lộ. Chánh kiến đi hàng đầu: người ta hiểu tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp và tà mạng là sai; hiểu chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng là đúng, mỗi thứ đều có hai loại: hoặc liên hệ với lậu hoặc và trổ quả trong các yếu tố sinh tồn, hoặc siêu thế và là một chi phần của đạo lộ. Người ta nỗ lực từ bỏ tà kiến cùng bốn điều sai trái kia, và tiếp nhận chánh kiến cùng bốn điều đúng đắn kia: đây là chánh tinh tấn của một người. Với chánh niệm, người ta từ bỏ điều sai và bước vào con đường của điều đúng: đây là chánh niệm của một người.”

MN-117 (tóm lược)

NGƯỜI KỂ HAI. Ba chi phần sau cùng này—chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định—cùng nhau tạo thành nhóm “Định”. Tám chi phần, cùng với chánh trí và chánh giải thoát, được gọi là “mười chánh”, tạo nên “sự kiên định về tính chân chánh” đạt được qua đạo lộ Dự lưu. Tuy nhiên, trước khi rời chủ đề về định, còn có bốn tầng bậc khác có thể đạt tới được gọi là bốn “trạng thái vô sắc”. Chúng nằm ngoài phạm vi cốt lõi của “chánh định”, chỉ đơn thuần là những sự vi tế hóa của tầng thiền thứ tư.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, với sự biến mất của các đối ngại tưởng, không tác ý đến các dị biệt tưởng, (nhận biết rằng) ‘không gian là vô biên’, một tỳ-kheo chứng và trú không vô biên xứ.

“Lại nữa, vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, (nhận biết rằng) ‘thức là vô biên’, vị ấy chứng và trú thức vô biên xứ.

“Lại nữa, vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, (nhận biết rằng) ‘không có gì cả’, vị ấy chứng và trú vô sở hữu xứ.

“Lại nữa, vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, vị ấy chứng và trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.

“Bốn tầng thiền sắc giới không được gọi là sự trừ diệt trong Giới luật của Bậc Thánh; chúng được gọi trong Giới luật của Bậc Thánh là sự an trú lạc thọ ngay trong hiện tại. Bốn trạng thái vô sắc không được gọi là sự trừ diệt trong Giới luật của Bậc Thánh; chúng được gọi trong Giới luật của Bậc Thánh là những sự an trú tĩnh lặng.”

MN-8

“Vị tỳ-kheo này (người thực hành tám chứng đạt này) được cho là đã bịt mắt Ma vương, đã (tạm thời) tước đi đối tượng thị giác của Ma vương và trở nên vô hình trước Kẻ Ác.”

MN-25

NGƯỜI KỂ HAI. Không có chứng đạt nào trong tám chứng đạt này (cũng như bốn cõi phạm trú—xem trang 177) được tuyên bố là điều đặc thù duy nhất của giáo pháp chư Phật. Việc thực hành chúng mà không có chánh kiến chỉ dẫn đến các cõi trời, chứ không dẫn tới Niết-bàn. Giáo lý đặc thù của chư Phật chính là Bốn Thánh Đế. Chứng đạt thứ chín, “Diệt thọ tưởng định”, được miêu tả là chỉ có thể đạt được ở hai tầng bậc chứng ngộ cao nhất, và do đó chỉ có riêng ở chư Phật và các đệ tử của các Ngài.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, một tỳ-kheo chứng và trú diệt thọ tưởng định, và các lậu hoặc của vị ấy được tận trừ nhờ thấy biết bằng trí tuệ. Khi ấy, vị tỳ-kheo được gọi là đã bịt mắt Ma vương, đã tước đi đối tượng thị giác của Ma vương và trở nên vô hình trước Kẻ Ác, và hơn thế nữa, đã vượt qua mọi sự dính mắc vào thế gian.”

MN-25

Người trí trú giới đức
Tu dưỡng tâm và tuệ
Vị tỳ-kheo nhiệt tâm
Lại thông minh sáng suốt
Sẽ gỡ mớ bòng bong

S. 1:23

“Này các tỳ-kheo, nếu một người trôi lăn và lặn ngụp qua một đại kiếp, thì đống xương, gò xương, núi xương của người ấy sẽ cao bằng ngọn đồi Vepulla này, nếu chúng được thu gom lại và không bị tiêu hủy.”

Iti. 24

“Ví như có người ném một chiếc ách có một lỗ thủng xuống đại dương, rồi ngọn gió đông thổi nó sang tây, gió tây thổi nó sang đông, gió bắc thổi nó sang nam, và gió nam thổi nó sang bắc; và giả sử có một con rùa mù cứ mỗi trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần. Các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao, liệu con rùa mù đó có thể chui đầu qua chiếc ách có một lỗ ấy không?”

“Bạch Thế Tôn, họa chăng sau một thời gian rất dài mới có thể.”

“Này các tỳ-kheo, con rùa mù đó chui đầu vào chiếc ách chỉ có một lỗ ấy còn nhanh hơn một kẻ ngu, một khi đã rơi vào đọa xứ, có thể tìm đường trở lại làm người.”

MN-129

“Này các tỳ-kheo, Giáo pháp được Ta khéo léo tuyên thuyết như vậy là thẳng thắn, cởi mở, hiển lộ và không có sự thêm thắt dư thừa. Trong Giáo pháp được Ta khéo léo tuyên thuyết như vậy, bất kỳ ai có lòng tin nơi Ta, có lòng kính mộ Ta, đều chắc chắn sẽ được sinh lên cõi trời.”

MN-22

“Những gì một người thầy từ bi tìm kiếm sự an lạc cho đệ tử nên làm vì lòng thương xót, Ta đã làm cho các ông. Kìa là những gốc cây, kìa là những căn phòng trống: hãy thiền định, này các tỳ-kheo, chớ có chần chừ kẻo sau này phải hối tiếc. Đây là lời giáo huấn của Ta cho các ông.”

MN-8; MN-152

NGƯỜI KỂ HAI. Điều đó khép lại phần khảo sát tổng quan. Nhưng Con Đường ấy được thực hành như thế nào trong thực tế?

BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG THỰC HÀNH

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Một buổi sáng nọ, tôn giả Ānanda đắp y, cầm bình bát và thượng y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Tôn giả nhìn thấy bà-la-môn Jānussoṇi đang lái xe ra khỏi Sāvatthī trên một cỗ xe do bốn con ngựa cái kéo, tất cả đều mang màu trắng: ngựa trắng, yên cương trắng, xe trắng, nệm xe trắng, dép trắng; và ông ta thậm chí còn được quạt bằng một chiếc quạt màu trắng. Khi mọi người nhìn thấy cảnh đó, họ trầm trồ: “Thật là một cỗ xe thần thánh! Cỗ xe kia đúng là cỗ xe của chư thiên!”

Khi trở về, tôn giả Ānanda đem chuyện kể lại cho Đức Thế Tôn và hỏi: “Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một cỗ xe thần thánh trong Pháp và Luật này không?”

“Có thể, này Ānanda,” Đức Thế Tôn dạy. “‘Cỗ xe thần thánh’ là tên gọi của Bát Chánh Đạo; và ‘cỗ xe của Pháp’ cũng vậy, ‘chiến thắng vô song trong trận chiến’ cũng vậy, bởi vì mọi chi phần của Bát Chánh Đạo đều đạt đến đỉnh cao là sự trục xuất tham, sân và si.”

S. 45:4

“(Một khi đứa trẻ được thụ thai, sinh ra và lớn lên theo tuổi trẻ), các giác quan của nó trưởng thành, thì nó được trang bị và đắm chìm trong năm sợi dây dục lạc và thụ hưởng chúng: những hình sắc do mắt nhận biết khả ái, khả hỷ, vừa lòng, gợi cảm, gắn liền với dục vọng và khơi dậy tham ái; tương tự là âm thanh do tai nhận biết, mùi hương do mũi nhận biết, vị do lưỡi nhận biết, và xúc chạm do thân nhận biết.

“Khi mắt thấy một sắc pháp, tai nghe một âm thanh, mũi ngửi một mùi hương, lưỡi nếm một vị, thân chạm một xúc, ý nhận biết một pháp, nó say đắm đối tượng đó nếu thấy thích thú, hoặc khởi lòng sân hận đối với nó nếu thấy khó chịu. Nó sống mà không an trú chánh niệm nơi thân, với tâm trí bị giới hạn, và không hiểu biết đúng như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát—nơi mà các trạng thái ác, bất thiện ấy chấm dứt không còn dư tàn. Vì vướng bận vào sự thuận tình và chống đối, nên khi cảm nhận bất kỳ cảm thọ nào, dù lạc, khổ hay không khổ không lạc, nó đều say đắm cảm thọ đó, khẳng định và đón nhận nó. Sự say đắm khởi sinh nơi nó khi nó làm như vậy. Bất kỳ sự say đắm nào đối với các cảm thọ ấy đều là chấp thủ. Do chấp thủ làm duyên, hữu sinh; do hữu làm duyên, sinh khởi; do sinh làm duyên, già và chết khởi sinh, cùng với sầu, bi, ưu, não. Đó là cách mà toàn bộ khối khổ đau này bắt đầu.

“Ở đây, một bậc Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài tuyên thuyết thế giới này cùng chư thiên, các Ma vương và các Phạm thiên, thế hệ này cùng các vị sa-môn, bà-la-môn, các vương tử và người phàm, những điều mà chính Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí. Ngài thuyết giảng Giáo pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa và toàn hảo ở đoạn cuối, đầy đủ về ý nghĩa và văn tự, và Ngài tuyên thuyết một đời sống phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh tịnh.

“Một người gia chủ, hay con trai của người gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia tộc nào đó nghe được Giáo pháp ấy. Khi nghe xong, người ấy phát khởi niềm tin nơi đấng Như Lai. Với niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình tù túng và đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thênh thang phóng khoáng. Thật không dễ dàng cho một người sống đời gia đình có thể sống một đời sống phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh tịnh như một vỏ ốc được lau bóng. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’

“Vào một dịp khác, từ bỏ sản nghiệp dù ít hay nhiều, từ bỏ thân quyến dù ít hay nhiều, người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“Khi đã xuất gia và thọ trì các điều học cùng nếp sống của một tỳ-kheo, vị ấy từ bỏ sát sinh, kiêng tránh sát sinh, đặt gậy gộc và gươm đao xuống; hiền lành và nhân từ, vị ấy sống với lòng thương xót đối với mọi chúng sinh. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, kiêng tránh lấy của không cho bằng cách chỉ nhận những gì được trao; chỉ mong đợi những gì được cho, vị ấy giữ lòng mình thanh tịnh nhờ không trộm cắp. Vị ấy từ bỏ đời sống bất tịnh; vị ấy sống đời sống phạm hạnh độc cư, tránh xa thói dâm dục tầm thường. Vị ấy từ bỏ nói dối, kiêng tránh nói dối bằng cách nói sự thật; gắn bó với sự thật khi nói năng, vị ấy là người đáng tin cậy, chắc chắn và không lừa dối người đời. Vị ấy từ bỏ nói lời đâm thọc... Vị ấy từ bỏ nói lời thô ác... Vị ấy từ bỏ nói lời phù phiếm... vị ấy nói đúng thời những lời đáng ghi nhớ, có lý lẽ, rõ ràng và gắn liền với điều thiện. 25

“Vị ấy tránh làm tổn hại các loại hạt giống và cây cỏ. Vị ấy chỉ ăn một bữa mỗi ngày, kiêng ăn ban đêm và kiêng ăn phi thời. Vị ấy tránh xa ca hát, nhảy múa, âm nhạc và các trò diễn kịch; tránh mang vòng hoa, trang điểm bằng hương liệu và thoa các loại dầu thơm; tránh nằm giường cao và nệm lớn; tránh nhận vàng bạc, ngũ cốc, thịt sống, phụ nữ và thiếu nữ, tớ gái và tớ trai, cừu và dê, gia cầm và lợn, voi, bò, ngựa đực và ngựa cái, ruộng đồng và đất đai; tránh làm người đưa tin; tránh mua bán; tránh dùng cân giả, kim loại giả và thước đo giả; tránh gian lận, lừa gạt, xảo quyệt và tráo trở; tránh chặt chém, hành hình, cầm tù, trộm cướp, cướp bóc và bạo lực.

“Vị ấy biết đủ với những tấm y để che thân, với thức ăn khất thực để nuôi bụng, sao cho đi đến bất cứ đâu vị ấy cũng mang theo tất cả những thứ của mình, giống như một cánh chim bay đi đâu cũng chỉ bay với đôi cánh của chính nó. Thành tựu kho tàng giới đức của bậc thánh này, vị ấy tự mình cảm nhận một niềm an lạc không tỳ vết.

“Vị ấy trở thành người mà khi mắt thấy hình sắc, không nắm giữ tướng chung và các nét chi tiết—những thứ mà nếu để cho căn mắt không được phòng hộ, thì các trạng thái ác, bất thiện của tham ái và ưu phiền có thể xâm chiếm vị ấy; vị ấy thực hành sự chế ngự, canh giữ căn mắt, thực hiện sự phòng hộ đối với căn mắt. (Tương tự, khi tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, và ý nhận biết một pháp.) Thành tựu sự phòng hộ các căn của bậc thánh này, vị ấy tự mình cảm nhận một niềm an lạc thuần khiết.

“Vị ấy luôn tỉnh giác khi đi tới đi lui... và giữ im lặng. 26

“Thành tựu kho tàng giới đức của bậc thánh này, cùng sự phòng hộ các căn của bậc thánh, cùng chánh niệm và tỉnh giác của bậc thánh này, vị ấy tìm đến một trú xứ thanh vắng—khu rừng, gốc cây, mỏm đá, khe núi, hang động trên núi, bãi tha ma, bụi rậm trong rừng, khoảng đất trống, đống rơm. Sau khi đi khất thực trở về và dùng xong bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp chân kiết già, giữ thân thẳng thắn, và an trú chánh niệm trước mặt.

“Từ bỏ tham ái đối với thế gian, vị ấy an trú với tâm không còn tham ái; vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận và thù hằn, vị ấy an trú với tâm không còn ý nghĩ sân hận, thương xót cho sự an lạc của mọi chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi sân hận và thù hằn. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy an trú với tâm không còn hôn trầm và thụy miên, hướng về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác; vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy an trú không xao động với tâm tịch tĩnh nội tại; vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy an trú với tâm đã vượt qua hoài nghi, không còn thắc mắc về các thiện pháp và bất thiện pháp; vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi hoài nghi.”

MN-38

“Ví như có một người vay một khoản nợ để làm ăn và công việc thành công, khiến anh ta trả hết được nợ cũ mà vẫn còn dư dả cho vợ con; khi nghĩ đến điều đó, anh ta vui mừng và hoan hỷ; hay ví như một người bị bệnh tật, đau đớn và ốm nặng, ăn không tiêu và cơ thể không còn chút sức lực, nhưng sau đó anh ta bình phục bệnh tật và cơ thể lấy lại sức mạnh; hay ví như một người bị giam trong ngục tối, nhưng sau đó được trả tự do bình an vô sự và không bị mất mát tài sản; hay ví như một người nô lệ, không tự chủ được mà phải phụ thuộc vào người khác, không thể đi đâu theo ý muốn, nhưng sau đó được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, trở thành người tự chủ, độc lập với người khác, là một người tự do có thể đi bất cứ nơi đâu mình muốn; hay ví như một người mang nhiều tài sản và hàng hóa đi qua một con đường băng qua sa mạc, rồi sau đó anh ta vượt qua sa mạc an toàn mà không bị tổn thất tài sản; khi nghĩ đến điều đó, người ấy vui mừng và hoan hỷ; cũng vậy, khi năm triền cái này chưa được đoạn trừ nơi tự thân, vị tỳ-kheo nhìn thấy chúng lần lượt như một món nợ, một căn bệnh, một ngục tù, một kiếp nô lệ, và một con đường băng qua sa mạc; và khi chúng đã được đoạn trừ nơi tự thân, vị ấy nhìn thấy điều đó như sự thoát nợ, sự lành bệnh, sự ra tù, sự tự do khỏi kiếp nô lệ, và một vùng đất an toàn.”

MN-39

“Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái—những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ—rồi hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, vị ấy chứng và trú thiền thứ nhất... thiền thứ hai... thiền thứ ba... thiền thứ tư.

“Khi mắt thấy hình sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ý nhận biết pháp, vị ấy không say đắm nếu nó là điều ưa thích; và vị ấy không khởi lòng sân hận đối với nó nếu nó là điều khó chịu. Vị ấy sống với chánh niệm nơi thân được thiết lập và với một trạng thái tâm vô lượng, trong khi hiểu biết đúng như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát—nơi mà các trạng thái ác, bất thiện ấy chấm dứt không còn dư tàn. Khi đã từ bỏ sự thuận tình và chống đối như vậy, khi cảm nhận bất kỳ cảm thọ nào, dù lạc, khổ hay không khổ không lạc, vị ấy không say đắm cảm thọ đó, không khẳng định hay đón nhận nó. Khi vị ấy không làm như vậy, sự say đắm của vị ấy đối với các cảm thọ đó chấm dứt. Với sự chấm dứt của sự say đắm, chấp thủ chấm dứt; với sự chấm dứt của chấp thủ, hữu chấm dứt; với sự chấm dứt của hữu, sinh chấm dứt; với sự chấm dứt của sinh, già và chết chấm dứt, cùng với sầu, bi, ưu, não; như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.”

MN-38

PHƯƠNG TIỆN

“Ví như có một người đi tìm rắn và thấy một con rắn lớn, khi anh ta nắm sai cách vào các khúc cuộn hoặc đuôi của nó, nó quay lại cắn vào tay anh ta, và vì thế anh ta phải chết hoặc chịu đau đớn gần chết—vì sao? Vì anh ta đã bắt rắn sai cách—; cũng vậy, có một số kẻ lầm lạc học hỏi Giáo pháp mà không chịu dùng trí tuệ để suy xét ý nghĩa của những lời dạy, nên họ không tìm thấy sự thích thú trong việc tư duy về chúng. Thay vào đó, họ học hỏi chỉ nhằm mục đích bắt bẻ và tranh cãi trước những lời chỉ trích, họ không nhận ra mục đích thật sự của việc học Pháp, và họ thấy rằng những lời dạy bị họ nắm bắt sai cách ấy sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ. Nhưng ví như một người đi tìm rắn thấy một con rắn lớn, và khi anh ta dùng một chiếc gậy có chạc chặn nó lại rồi nắm chắc lấy cổ nó, thì cho dù nó có quấn các khúc cuộn quanh bàn tay, cánh tay hay các chi của anh ta, anh ta cũng không vì thế mà phải chết hay chịu đau đớn gần chết; cũng vậy, có một số thiện nam tử học hỏi Giáo pháp và dùng trí tuệ để suy xét ý nghĩa của những lời dạy, nhờ đó họ tìm thấy sự thích thú trong việc tư duy về chúng. Không học hỏi nhằm mục đích bắt bẻ và tranh cãi trước những lời chỉ trích, họ nhận ra mục đích thật sự của việc học Pháp, và họ thấy rằng những lời dạy được nắm bắt đúng cách ấy sẽ mang lại an lạc và hạnh phúc lâu dài cho họ.

“Này các tỳ-kheo, ví như có một người lữ hành nhìn thấy một vùng nước mênh mông, mà bờ bên này thì đầy nguy hiểm và đáng sợ, còn bờ bên kia thì an toàn và không có gì sợ hãi, nhưng lại không có thuyền hay cầu để qua sông. Sau khi cân nhắc điều này, người ấy bèn gom góp cỏ cây, cành lá rồi kết lại thành một chiếc bè, và nhờ nương tựa vào chiếc bè đó, dùng tay chân chèo chống nỗ lực, anh ta đã sang bờ bên kia an toàn. Sau khi đã sang bờ bên kia, anh ta nghĩ: ‘Chiếc bè này đã giúp ích cho ta rất nhiều, vì nhờ nó mà ta đã sang bờ an toàn; hay là ta hãy đội nó lên đầu hoặc vác nó lên vai rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn?’ Này các tỳ-kheo, làm như vậy anh ta có làm đúng việc cần làm đối với chiếc bè không?”

“Bạch Thế Tôn, không ạ.”—“Vậy người ấy nên làm gì với nó? Nếu sau khi sang bờ bên kia, anh ta nghĩ: ‘Chiếc bè này đã giúp ích cho ta rất nhiều, vì nhờ nó mà ta đã sang bờ an toàn; hay là ta hãy kéo nó lên bờ đất khô hoặc để nó trôi theo dòng nước rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn?’, thì như vậy anh ta mới đang làm đúng việc cần làm đối với chiếc bè. Như vậy, Ta đã chỉ cho các ông thấy Giáo pháp giống như một chiếc bè là để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ. Này các tỳ-kheo, khi các ông đã hiểu Ví Dụ Về Chiếc Bè, thì ngay cả các thiện pháp các ông cũng phải từ bỏ, huống hồ là các bất thiện pháp.”

MN-22 (tóm lược)

CỨU CÁNH

“Sự chấm dứt tham, sân và si chính là Vô Vi (Không Bị Tạo Tác), Tận Cùng, Không Tỳ Vết, Chân Lý, Bờ Bên Kia, Vi Tế, Thật Khó Thấy, Không Suy Tàn, Vĩnh Cửu, Không Tan Rã, Vô Hình, Bất Dị, Tịch Tịnh, Bất Tử, Mục Tiêu Siêu Việt, Tối Thắng, An Toàn, Tận Diệt Khát Ái, Kỳ Diệu, Phi Thường, Không Phiền Não, Tự Nhiên Không Bị Phiền Não, Niết-bàn, Không Oán Thù, Ly Tham, Thanh Tịnh, Tự Do, Không Nương Tựa, Hòn Đảo, Chỗ Trú Ẩn, Bến Cảng, Nơi Quy Y, và Bờ Bên Kia Tuyệt Đối.”

S. 43:1-44