Chương 11
CON NGƯỜI
NGƯỜI KỂ MỘT. Giờ đây, khi chuỗi sự kiện tạm thời không còn dấu vết để theo dõi, chúng ta có thể dừng lại ở đây để xem Kinh điển nói gì về những phẩm chất cá nhân của Đức Phật: để xem cả những gì Đức Phật nói về chính ngài, và những người cùng thời đã từng gặp ngài nói gì về ngài, qua những ghi chép cổ xưa nhất được lưu truyền lại cho chúng ta.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Rừng Jeta (Kỳ-đà), Vườn Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Ngài ngồi quán xét lại vô số những ác pháp, bất thiện pháp mà ngài đã đoạn tận, và vô số những thiện pháp mà ngài đã tu tập viên mãn. Hiểu rõ ý nghĩa điều này, ngài bèn thốt lên bài kệ cảm hứng sau:
Cái trước có, sau không
Cái trước không, sau có
Điều chưa từng tồn tại
Nay và sau cũng không 1
Lại một lần nữa, Thế Tôn ngồi quán xét lại sự đoạn tận các hý luận (sự đa dạng hóa) 2 trong chính mình. Hiểu rõ ý nghĩa điều này, ngài bèn thốt lên bài kệ cảm hứng sau:
Không cội rễ hý luận
Dẹp trói buộc chướng ngại
Sống hiền triết dứt ái
Đời, chư thiên không khinh
"Này các Tỳ-kheo, có Bốn Sự thật Cao quý (Tứ Diệu Đế) sau đây: sự thật cao quý về khổ, sự thật cao quý về nguyên nhân của khổ, sự thật cao quý về sự diệt khổ, và sự thật cao quý về con đường dẫn đến sự diệt khổ. Một bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác được gọi như vậy là nhờ vào việc ngài đã khám phá ra Bốn Sự thật Cao quý này đúng như thật.
NGƯỜI KỂ HAI. Đức Phật kể tên sáu vị Phật đã ra đời trước ngài.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Này các Tỳ-kheo, cách đây chín mươi mốt đại kiếp, Thế Tôn Vipassī (Tỳ-bà-thi), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Cách đây ba mươi mốt đại kiếp, Thế Tôn Sikhī (Thi-khí), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Cũng trong đại kiếp thứ ba mươi mốt ấy, Thế Tôn Vessabhū (Tỳ-xá-phù), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Trong hiền kiếp này, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lưu-tôn), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Cũng trong hiền kiếp này, Thế Tôn Koṇāgamana (Câu-na-hàm-mâu-ni), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Cũng trong hiền kiếp này, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian. Và nay, cũng trong hiền kiếp này, ta là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, đã xuất hiện trên thế gian.”
D. 14 (đã rút gọn)
NGƯỜI KỂ MỘT. Sau khi miêu tả các vị Phật khác, đây là những gì ngài nói về chính mình.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Ta xuất thân từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, thuộc tầng lớp chiến binh quý tộc. Ta sinh ra trong một gia đình Sát-đế-lỵ. Ta thuộc tộc Gotama (Cù-đàm). Tuổi thọ của ta rất ngắn, thật ngắn ngủi và sớm kết thúc; ngày nay ai sống lâu thì được một trăm năm hoặc hơn một chút. Ta giác ngộ dưới gốc cây bàng assattha (Bồ-đề), đó là Cây Giác ngộ của ta. Hai đệ tử tối thắng của ta là Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên). Ta đã tổ chức một đại hội gồm một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử, tất cả đều là bậc A-la-hán. Vị thị giả, thị giả chính của ta là Tỳ-kheo Ānanda (A-nan). Cha ta là Vua Suddhodana (Tịnh Phạn). Mẹ sinh ra ta là Hoàng hậu Māyā (Ma-da). Kinh đô là thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).”
D. 14 (đã rút gọn)
Điều này đã được Thế Tôn tuyên thuyết, được bậc Ứng cúng tuyên thuyết, tôi nghe như vầy:
“Này các Tỳ-kheo, thế gian đã được Như Lai khám phá: Như Lai đã hoàn toàn ly thoát khỏi thế gian. Nguồn gốc của thế gian đã được Như Lai khám phá: Như Lai đã đoạn tận nguồn gốc của thế gian. Sự đoạn diệt của thế gian đã được Như Lai khám phá: Như Lai đã chứng ngộ sự đoạn diệt của thế gian. Con đường dẫn đến sự đoạn diệt của thế gian đã được Như Lai khám phá: Như Lai đã tu tập viên mãn con đường dẫn đến sự đoạn diệt của thế gian.
“Trong thế giới với chư thiên... bất cứ điều gì có thể được nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận (qua mũi, lưỡi hoặc thân), và nhận thức, hoặc đạt tới, tìm kiếm và bao quát bởi tâm trí, đều đã được Như Lai khám phá: đó là lý do vì sao ngài được gọi là Như Lai (Tathāgata - Người đã đến như vậy). Tất cả những gì ngài nói, tất cả những gì ngài thốt ra, từ đêm ngài chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác cho đến đêm ngài nhập Vô dư y Niết-bàn, yếu tố Niết-bàn không còn tàn dư của chấp thủ, đều là chân thật (tatha), không hề khác biệt: đó là lý do vì sao ngài được gọi là Như Lai. Ngài nói thế nào (tathā), ngài làm thế ấy; ngài làm thế nào (tathā), ngài nói thế ấy: đó là lý do vì sao ngài được gọi là Như Lai. Trong thế giới với chư thiên... Như Lai là Bậc Siêu việt Không ai sánh bằng, Bậc Thấy tất cả và Bậc Nắm giữ Quyền năng: đó là lý do vì sao ngài được gọi là Như Lai.”
“Bất cứ điều gì trong thế giới này với chư thiên... có thể được nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận và nhận thức, hoặc đạt tới, tìm kiếm và bao quát bởi tâm trí, ta đều biết điều đó, ta đã trực tiếp thấu hiểu điều đó. Nay mặc dù Như Lai nhận biết điều đó, ngài vẫn không dùng nó làm cơ sở (để sinh tâm kiêu mạn). Nếu ta nói về tất cả những điều đó rằng ta không biết, thì đó là lời nói dối của ta; và nếu ta nói rằng ta vừa biết lại vừa không biết, thì cũng vậy; và nếu ta nói rằng ta không biết cũng không phải không biết, thì điều đó là không chính xác đối với ta. Vì vậy, sau khi thấy những gì có thể thấy, Như Lai không khởi sinh lòng kiêu mạn 3 về những gì được thấy, ngài không khởi sinh lòng kiêu mạn về những gì không được thấy, ngài không khởi sinh lòng kiêu mạn về những gì có thể được thấy, ngài không khởi sinh lòng kiêu mạn về bất kỳ người thấy nào. Sau khi nghe những gì có thể nghe... Sau khi cảm nhận những gì có thể cảm nhận... Sau khi nhận thức những gì có thể nhận thức... ngài không khởi sinh lòng kiêu mạn về bất kỳ người nhận thức nào. Một bậc Như Lai luôn giữ tâm bình lặng trước những gì được thấy, nghe, cảm nhận hoặc nhận thức, ngài vẫn luôn giữ sự bình lặng như vậy; và ta tuyên bố rằng, không có sự bình lặng nào khác vượt xa hay cao viễn hơn sự bình lặng ấy.”
Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) thưa hỏi Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Sa-môn Gotama nói rằng: "Không có sa-môn hay bà-la-môn nào có thể tự nhận mình có đầy đủ kiến thức và tầm nhìn của một bậc toàn tri và toàn kiến: điều đó là không thể."' Bạch Thế Tôn, những người nói điều đó, có phải họ đang lặp lại những gì Thế Tôn đã nói và không xuyên tạc Thế Tôn bằng những điều không đúng sự thật, và liệu họ có diễn đạt các quan điểm phù hợp với Giáo pháp mà không có bất kỳ hệ lụy hợp lý nào từ những khẳng định của họ tạo cớ cho người khác chỉ trích không?"
"Thưa đại vương, những người nói như vậy là đang nói những điều ta không hề nói và họ đang xuyên tạc ta."
"Vậy thì, bạch Thế Tôn, có thể nào Thế Tôn đã nói điều đó với một ẩn ý khác, và người ta đã hiểu sai đi không? Dù sao thì, bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhận biết lời tuyên bố đó đã được đưa ra theo cách nào?"
"Ta biết lời tuyên bố đó đã được đưa ra theo cách này, thưa đại vương: 'Không có sa-môn hay bà-la-môn nào có thể biết tất cả, thấy tất cả, chỉ trong một khoảnh khắc duy nhất.'"
"Những gì Thế Tôn nói quả thật hợp lý."
"Một vị Như Lai có mười sức mạnh của Như Lai, nhờ sở hữu những sức mạnh này mà ngài khẳng định vị trí dẫn đầu giữa hội chúng, cất tiếng rống của sư tử trong các pháp hội, và chuyển Bánh xe Phạm hạnh vô song. Mười sức mạnh đó là gì?"
"Một vị Như Lai thấu hiểu, đúng như sự thật, cái gì có thể xảy ra là có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra là không thể xảy ra.
"Ngài thấu hiểu, đúng như sự thật, với mọi khả năng và nguyên nhân, sự chín muồi của các hành động (nghiệp) đã được thực hiện trong quá khứ, tương lai và hiện tại.
"Ngài cũng thấu hiểu mọi con đường đều dẫn đến đâu.
"Ngài cũng thấu hiểu thế gian với nhiều yếu tố và các yếu tố đa dạng của nó.
"Ngài cũng thấu hiểu những xu hướng khác nhau của chúng sinh.
"Ngài cũng thấu hiểu khuynh hướng căn cơ tâm linh của những chúng sinh khác, những người khác.
"Ngài cũng thấu hiểu sự nhiễm ô, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi trong các bậc thiền, sự giải thoát, sự định tâm và các tầng thiền chứng.
“Ngài nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ của mình...
“Với thiên nhãn, thanh tịnh và siêu việt hơn người phàm, ngài thấy chúng sinh sinh ra và diệt đi... Ngài thấu hiểu cách chúng sinh luân hồi theo nghiệp lực của họ.
“Nhờ tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp, ngay trong hiện tại, ngài bước vào và an trú trong sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, hoàn toàn vô lậu vì đã đoạn tận các lậu hoặc.”
“Một vị Như Lai có bốn đức vô úy (sự can đảm) 4 này, nhờ sở hữu chúng mà ngài khẳng định vị trí dẫn đầu giữa hội chúng...:
“Ta không thấy có dấu hiệu nào cho thấy bất kỳ sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể cáo buộc ta một cách chính đáng rằng: ‘Ông tự xưng là bậc chánh đẳng chánh giác, nhưng những điều này ông vẫn chưa giác ngộ,’ hoặc rằng: ‘Ông tự xưng là người đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng những lậu hoặc này vẫn chưa được đoạn tận trong ông,’ hoặc rằng: ‘Những điều mà ông nói là chướng ngại thì thực ra không hề gây chướng ngại cho người thực hành chúng,’ hoặc rằng: ‘Khi Giáo pháp của ông được giảng dạy vì lợi ích của ai đó, nó không dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau cho người thực hành theo.’ Không thấy có dấu hiệu nào như vậy, ta sống an ổn, không lo âu và không sợ hãi.”
Điều này đã được Thế Tôn tuyên thuyết, được bậc Ứng cúng tuyên thuyết, tôi nghe như vầy:
“Có hai suy nghĩ thường xuất hiện trong một vị Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác: Ý nghĩ về sự vô hại và ý nghĩ về sự viễn ly. Một vị Như Lai tìm thấy niềm vui và sự hỷ lạc trong việc không làm tổn hại, và do đó ngài thường có suy nghĩ: ‘Bằng hành vi như vậy, ta không làm tổn hại một ai, dù là kẻ nhút nhát hay người bạo dạn.’ Một vị Như Lai tìm thấy niềm vui và sự hỷ lạc trong sự viễn ly, và do đó ngài thường có suy nghĩ: ‘Những gì bất thiện đều đã được đoạn tận.’”
“Này các Tỳ-kheo, đừng sợ phước báu. Phước báu là một từ chỉ sự an lạc, chỉ những gì được mong mỏi, được khát khao, sự dễ chịu và sự yêu thương. Ta đã có trải nghiệm trực tiếp trong một thời gian dài về những gì được mong mỏi, khát khao, dễ chịu và yêu thương, đó chính là sự chín muồi của phước báu được tích lũy trong một khoảng thời gian dài. Sau khi tu tập thiền tâm từ trong suốt bảy năm, ta đã không trở lại thế giới này trong suốt bảy đại kiếp vũ trụ co rút và giãn nở. Trong kỷ nguyên khi thế giới co rút lại, ta đã đi đến cõi Trời Phạm thiên Quang âm. Trong kỷ nguyên khi thế giới giãn nở ra, ta được tái sinh vào một lâu đài Phạm thiên trống rỗng. Ở đó, ta là một vị Phạm thiên, một vị Đại Phạm thiên, một Bậc Siêu việt Không ai sánh bằng, Bậc Thấy tất cả, Bậc Nắm giữ Quyền năng. Ta đã làm Đế Thích, Chúa tể của chư thiên ba mươi sáu lần. Ta đã làm vua hàng trăm lần với tư cách là một vị Chuyển luân Thánh vương cai trị bằng chánh pháp, chiến thắng ở cả bốn phương, vương quốc của ta luôn ổn định và sở hữu bảy báu vật. Huống hồ gì là làm những vị vua nhỏ ở địa phương? Ta đã nghĩ: ‘Đây là quả báo của hành động nào của ta, là sự chín muồi của nghiệp nào, mà nay ta lại hùng mạnh và có quyền năng đến thế?’ Rồi ta chợt nhận ra: ‘Đây là quả báo, là sự chín muồi từ ba loại hành động của ta mà nay ta lại hùng mạnh và có quyền năng đến thế, đó là: bố thí, tự chủ, và thu thúc.’”
Một thời Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ukkaṭṭhā và Setavyā; và bà-la-môn Doṇa cũng đang đi trên con đường đó. Ông ta nhìn thấy trong dấu chân của Thế Tôn có hình bánh xe với ngàn căm, có đủ vành và trục. Rồi ông nghĩ: “Thật kỳ diệu, thật phi thường! Chắc chắn đây không thể là dấu chân của một con người.”
Sau đó, Thế Tôn rời khỏi con đường và ngồi xuống dưới gốc cây, vắt chéo chân, giữ thân thẳng đứng và an trú chánh niệm trước mặt. Khi bà-la-môn Doṇa lần theo những dấu chân, ông nhìn thấy ngài đang ngồi dưới gốc cây. Thế Tôn toát lên vẻ đáng tin cậy và sự tĩnh tại, các giác quan của ngài hoàn toàn tĩnh lặng, tâm ngài bình an và đạt đến sự tự chủ cùng sự thanh tịnh tối cao: như một con voi chúa biết tự kiềm chế và được bảo vệ bởi sự thu thúc các căn. Vị bà-la-môn đi đến gần ngài và hỏi: “Thưa ngài, ngài sẽ là một vị thần chăng?”
“Không, thưa bà-la-môn.”
“Thưa ngài, ngài sẽ là một thiên thần chăng?”
“Không, thưa bà-la-môn.”
“Thưa ngài, ngài sẽ là một dạ-xoa chăng?”
“Không, thưa bà-la-môn.”
“Thưa ngài, ngài sẽ là một con người chăng?”
“Không, thưa bà-la-môn.”
“Vậy thưa ngài, ngài thực sự sẽ là gì?”
“Này bà-la-môn, những lậu hoặc mà nếu chưa đoạn tận, ta có thể trở thành một vị thần, một thiên thần, một dạ-xoa hay một con người, thì nay ta đã đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như gốc cây cọ, bị tiêu diệt và không bao giờ khởi sinh trong tương lai nữa. Giống như một bông sen xanh, đỏ hoặc trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước và vươn lên khỏi mặt nước mà không bị nước làm ướt, cũng vậy, ta sinh ra trong thế gian, lớn lên trong thế gian nhưng đã vượt lên trên thế gian, và ta sống mà không bị thế gian vấy bẩn. Hãy nhớ về ta như một bậc đã giác ngộ.”
Lại một lần khác, Thế Tôn đang du hành trong vùng đất của người Videha cùng với một đại chúng tỳ-kheo, gồm năm trăm vị. Lúc bấy giờ, vị bà-la-môn Brahmāyu đang sống tại Mithilā. Ông đã già, tuổi cao, gánh nặng năm tháng, đã đi đến chặng đường cuối của cuộc đời; ông đang ở tuổi một trăm hai mươi. Ông là một chuyên gia về ba bộ kinh Vệ-đà, ông nắm rõ văn bản và ngữ cảnh của các kinh Itihāsa, tài liệu thẩm quyền thứ năm của giới bà-la-môn, cùng với các bài cầu nguyện, nghi thức và phân tích từ vựng, ông cũng tinh thông khoa học tự nhiên và khoa học về các tướng tốt của một Bậc Đại Nhân.
Ông đã nghe danh về những phẩm hạnh của Thế Tôn và biết ngài đang du hành trong vùng đất Videha. Ông có một người học trò, một thanh niên bà-la-môn tên là Uttara, người cũng tài giỏi như thầy mình và tinh thông khoa học về các tướng tốt của Bậc Đại Nhân. Vị bà-la-môn nói với học trò: “Lại đây, Uttara quý mến của ta; con hãy đi đến chỗ sa-môn Gotama và tìm hiểu xem những lời đồn đại vang xa về ngài là đúng hay sai, và xem ngài có thực sự là một người như vậy hay không. Chúng ta sẽ nhìn nhận sa-môn Gotama thông qua con.”
“Nhưng làm sao con có thể biết được, thưa thầy?”
“Này Uttara quý mến, ba mươi hai tướng tốt của một Bậc Đại Nhân đã được truyền lại trong kinh điển của chúng ta, và Bậc Đại Nhân nào sở hữu những tướng tốt ấy chỉ có hai định mệnh khả dĩ và không có con đường nào khác. Nếu ngài sống cuộc đời thế tục, ngài sẽ trở thành một Chuyển luân Thánh vương cai trị bằng chánh pháp, người chinh phục cả bốn phương, chiến thắng tất cả, mang lại sự ổn định cho đất nước và sở hữu bảy báu vật: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và quan tướng báu là thứ bảy; những đứa con của ngài, nhiều hơn một ngàn người, đều dũng cảm, anh hùng và đập tan quân thù; trên mặt đất được đại dương bao bọc này, ngài cai trị mà không cần dùng đến gươm đao, vũ khí mà chỉ bằng chánh pháp. Nhưng nếu ngài từ bỏ cuộc sống gia đình để xuất gia không nhà, ngài sẽ trở thành một Bậc Ứng cúng, một Bậc Chánh đẳng Chánh giác, người sẽ vén lên bức màn vô minh cho thế gian. Nhưng ta, Uttara quý mến, là người truyền dạy kinh điển; còn con là người tiếp thu chúng.”
“Vâng, thưa thầy,” chàng đáp.
Chàng đứng dậy, sau khi đảnh lễ vị bà-la-môn để tôn kính, chàng khởi hành đến nơi Thế Tôn đang du hành trong vùng đất Videha. Đi theo từng chặng, chàng đã đến được nơi Thế Tôn ở. Chàng chào hỏi ngài, và khi những lời hàn huyên xã giao kết thúc, chàng ngồi xuống một bên. Sau khi an tọa, chàng bắt đầu tìm kiếm ba mươi hai tướng tốt của Bậc Đại Nhân trên thân thể Thế Tôn. Chàng nhìn thấy, hầu như đầy đủ, ba mươi hai tướng tốt đó ngoại trừ hai tướng; chàng phân vân và không chắc chắn về hai tướng này, và không thể đưa ra quyết định hay kết luận về chúng—đó là bộ phận kín được ẩn giấu trong màng bọc, và sự rộng lớn của chiếc lưỡi.
Bấy giờ Thế Tôn biết rằng chàng thanh niên đang phân vân về hai tướng này. Ngài bèn dùng thần thông khiến cho chàng thanh niên Uttara nhìn thấy bộ phận kín của Thế Tôn được ẩn giấu trong một màng bọc. Sau đó, Thế Tôn thè lưỡi ra, ngài liên tục chạm vào cả hai lỗ tai, liên tục chạm vào hai lỗ mũi, và ngài dùng lưỡi che kín toàn bộ trán của mình. Lúc đó, chàng thanh niên bà-la-môn nghĩ: “Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của một Bậc Đại Nhân. Hay là ta hãy đi theo ngài để quan sát hành vi của ngài?”
Rồi chàng đi theo ngài suốt bảy tháng như hình với bóng, không lúc nào rời xa. Cuối tháng thứ bảy ở vùng đất Videha, chàng lên đường trở về Mithilā.
Chàng đến gặp bà-la-môn Brahmāyu, đảnh lễ ông và ngồi xuống một bên. Vị bà-la-môn hỏi chàng: “Thế nào, Uttara quý mến, những lời đồn đại về sa-môn Gotama vang xa khắp nơi là đúng hay không đúng? Và Tôn giả Gotama có phải là người giống như lời đồn không?”
“Lời đồn là đúng sự thật, thưa thầy, không hề sai lầm; Tôn giả Gotama đúng là một người như vậy và không khác biệt. Này, Tôn giả Gotama đặt bàn chân xuống rất vững chãi—đây là một tướng tốt của Bậc Đại Nhân ở ngài. Dưới lòng bàn chân ngài có hình bánh xe với ngàn căm, cùng vành và trục hoàn chỉnh... Ngài có gót chân thon dài... Ngài có những ngón tay và ngón chân dài... Bàn tay và bàn chân ngài mềm mại và mượt mà... Ngài có màng lưới giữa các ngón tay... Bàn chân ngài cong cao... Bắp chân ngài như bắp chân con linh dương... Khi đứng thẳng không khom người, lòng bàn tay ngài có thể chạm và chà xát vào đầu gối... Bộ phận kín của ngài được ẩn giấu trong màng bọc... Ngài có nước da màu vàng kim... Da ngài tỏa ánh sáng vàng, và rất mịn màng; nhờ làn da mịn màng, bụi bẩn không thể bám vào thân ngài... Lông trên thân ngài mọc từng sợi một, mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông... Đầu các sợi lông trên thân ngài mọc ngược lên trên; các sợi lông mọc ngược có màu xanh đen như màu đá quặng, xoắn lại và cuộn về bên phải... Ngài có các chi thẳng tắp như của Phạm thiên... Ngài có bảy chỗ lồi đặn... Ngài có nửa thân trên như của sư tử... Rãnh giữa hai vai ngài đầy đặn... Ngài có vóc dáng cân đối như cây bàng; chiều dài sải tay bằng chiều cao cơ thể, và chiều cao cơ thể bằng chiều dài sải tay... Cổ và vai ngài cân đối... Vị giác của ngài cực kỳ tinh tế... Ngài có quai hàm của sư tử... Ngài có bốn mươi chiếc răng... Răng ngài đều đặn... Răng ngài không có kẽ hở... Răng ngài trắng muốt... Ngài có chiếc lưỡi lớn... Ngài có giọng nói của chư thiên, như tiếng chim Karavika... Đôi mắt ngài rất đen... Ngài có lông mi như lông mi con bò... Ở giữa hai lông mày ngài có một túm lông trắng như bông mềm tỏa sáng... Đầu ngài có hình dáng như đang đội khăn xếp—đây cũng là một tướng tốt của Bậc Đại Nhân ở ngài. Vì vậy, Tôn giả Gotama sở hữu đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của Bậc Đại Nhân.
"Khi đi, ngài luôn bước chân phải ra trước. Ngài không duỗi chân quá xa hay đặt chân quá gần. Ngài bước đi không quá nhanh cũng không quá chậm. Ngài bước đi mà hai đầu gối không chạm vào nhau. Ngài bước đi mà hai mắt cá chân không chạm vào nhau. Ngài bước đi mà không nâng hay hạ đùi xuống, không khép đùi vào hay dạng đùi ra. Khi ngài đi, chỉ có phần dưới cơ thể di chuyển, và ngài đi mà không tốn chút sức lực nào của cơ thể. Khi ngài quay lại nhìn, ngài quay cả toàn thân. Ngài không nhìn thẳng xuống dưới. Ngài không nhìn thẳng lên trên. Ngài không đi mà ngó nghiêng xung quanh. Ngài chỉ nhìn xa cỡ chiều dài một ách cày; vượt ra ngoài khoảng đó, ngài có được tầm nhìn của trí tuệ không bị ngăn ngại.
"Khi vào nhà, ngài không nhô người lên hay cúi người xuống, không uốn éo người tới trước hay ra sau. Ngài xoay người không quá xa chỗ ngồi cũng không quá gần. Ngài không dùng tay tì lên chỗ ngồi. Ngài không gieo phịch người xuống chỗ ngồi.
“Khi ngồi trong nhà, ngài không táy máy đôi tay. Ngài không rung rinh đôi chân. Ngài không ngồi vắt chéo đầu gối. Ngài không ngồi vắt chéo mắt cá chân. Ngài không ngồi lấy tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, ngài không e sợ; ngài không run rẩy hay rùng mình, ngài không hề bồn chồn; tóc ngài không vì thế mà dựng đứng, và ngài luôn chú tâm vào sự tĩnh lặng (viễn ly).
“Khi nhận nước rửa bát, ngài không nâng bát lên hay hạ bát xuống, không nghiêng bát tới trước hay ra sau. Ngài nhận nước rửa bát không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài rửa bát mà không làm văng nước. Ngài rửa bát mà không xoay vần bát quá mức. Ngài không đặt bát xuống sàn để rửa tay; khi tay ngài được rửa, bát cũng được rửa; và khi bát được rửa, tay ngài cũng được rửa. Ngài đổ nước rửa bát đi không quá xa cũng không quá gần, và ngài không hắt nước tung tóe.
“Khi nhận cơm, ngài không nâng bát lên hay hạ bát xuống, không nghiêng bát tới trước hay ra sau. Ngài nhận cơm không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài thêm nước xốt với tỷ lệ vừa phải; ngài không lấy lượng nước xốt vượt mức vừa phải cho mỗi miếng ăn. Ngài đảo miếng thức ăn ba hoặc bốn lần trong miệng rồi mới nuốt; và không có một hạt cơm nào chưa được nhai kỹ trôi vào bụng ngài, cũng không còn hạt nào sót lại trong miệng; sau đó ngài mới ăn miếng tiếp theo. Ngài ăn thức ăn, cảm nhận hương vị nhưng không khởi tâm tham đắm hương vị đó. Thức ăn ngài dùng mang năm ý nghĩa: không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để làm đẹp, không phải để trang điểm mà chỉ để duy trì và nuôi dưỡng thân này, để chấm dứt cảm giác khó chịu và để trợ duyên cho phạm hạnh: ‘Như vậy ta sẽ dứt trừ cảm thọ cũ mà không làm sinh khởi cảm thọ mới, và ta sẽ sống an vui, khỏe mạnh và không bị chê trách.’
“Sau khi ăn xong và nhận nước rửa bát, ngài không nâng bát lên hay hạ bát xuống, không nghiêng bát tới trước hay ra sau. Ngài nhận nước rửa bát không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài rửa bát mà không tạo ra tiếng văng nước ồn ào. Ngài rửa bát mà không xoay vần bát quá mức. Ngài không đặt bát xuống sàn để rửa tay; khi tay ngài được rửa, bát cũng được rửa; khi bát được rửa, tay ngài cũng được rửa. Ngài đổ nước rửa bát đi không quá xa cũng không quá gần, và ngài không hắt nước tung tóe.
“Sau khi ăn xong, ngài đặt bát xuống sàn không quá xa cũng không quá gần; và ngài không hề hờ hững với chiếc bát, cũng không quá nâng niu nó.
“Sau khi ăn xong, ngài ngồi im lặng một lát, nhưng ngài không bỏ lỡ thời gian để tụng lời chúc phước. Khi ngài nói lời chúc phước sau bữa ăn, ngài không làm vậy với thái độ chê bai bữa ăn hay mong chờ một bữa ăn khác; ngài chỉ dạy, khuyên bảo, khuyến khích và làm hoan hỷ hội chúng bằng bài pháp thuần túy về Đạo pháp. Khi đã nói xong, ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.
“Ngài bước đi không quá nhanh cũng không quá chậm, và ngài không đi theo kiểu của một người đang muốn chuồn đi cho nhanh.
“Y phục của ngài mặc trên người không quá cao cũng không quá thấp, không dính sát vào thân cũng không quá lỏng lẻo, và gió cũng không thể thổi tung y phục của ngài. Bụi bẩn không bám vào cơ thể ngài.
“Khi đi vào rừng, ngài ngồi xuống một chỗ đã được chuẩn bị sẵn. Ngồi xuống xong, ngài rửa chân. Ngài không bận tâm đến việc chăm sóc chân. Sau khi rửa chân, ngài ngồi vắt chéo chân, giữ thân thẳng đứng và an trú chánh niệm trước mặt. Ngài không để tâm trí bận bịu vào việc làm khổ mình, làm khổ người hay làm khổ cả hai; ngài ngồi với tâm hướng đến lợi ích của chính mình, lợi ích của người khác và lợi ích của cả hai; thực ra là hướng đến lợi ích của toàn thể thế gian.
“Khi đến tự viện, ngài thuyết pháp cho đại chúng. Ngài không xu nịnh cũng không quở trách hội chúng; ngài chỉ dạy, khuyên bảo, khuyến khích và làm hoan hỷ hội chúng bằng bài pháp thuần túy về Đạo pháp. Lời nói phát ra từ miệng ngài có tám phẩm chất: rõ ràng, dễ hiểu, êm ái, dễ nghe, ngân vang, khúc chiết, thâm sâu và vang vọng; nhưng trong khi giọng nói của ngài nghe rõ ràng trong phạm vi hội chúng, nó không vượt ra ngoài hội chúng ấy. Khi thính giả đã được ngài chỉ dạy, khuyên bảo, khuyến khích và làm hoan hỷ, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi, mắt chỉ hướng về ngài và không bận tâm đến điều gì khác.
“Thưa thầy, chúng con đã thấy Tôn giả Gotama lúc bước đi, chúng con đã thấy ngài lúc đứng, chúng con đã thấy ngài lúc ngồi im lặng trong nhà, chúng con đã thấy ngài lúc thọ thực trong nhà, chúng con đã thấy ngài lúc ngồi im lặng trong nhà sau bữa ăn, chúng con đã thấy ngài lúc nói lời chúc phước sau bữa ăn, chúng con đã thấy ngài lúc đi đến tự viện, chúng con đã thấy ngài lúc ngồi im lặng trong tự viện, chúng con đã thấy ngài ở tự viện lúc giảng pháp cho đại chúng. Tôn giả Gotama là người như vậy. Ngài là người như vậy và thậm chí còn vĩ đại hơn thế.”
Khi nghe điều này, bà-la-môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, quấn áo choàng thượng lên một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn đang ngự, và thốt lên lời cảm hứng này ba lần: “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ứng cúng, bậc Chánh đẳng Chánh giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ứng cúng, bậc Chánh đẳng Chánh giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ứng cúng, bậc Chánh đẳng Chánh giác! Biết đâu một lúc nào đó chúng ta sẽ được diện kiến Tôn giả Gotama. Biết đâu chúng ta sẽ có dịp trò chuyện cùng ngài.”
Một thời Thế Tôn đang trú tại Campā bên bờ Hồ Gaggarā. Bấy giờ, vào một buổi trưa, gia chủ Vajjiyamāhita rời Campā để đi yết kiến Thế Tôn. Nhưng trên đường đi, ông nghĩ: “Bây giờ chưa phải lúc yết kiến Thế Tôn; ngài đang tịnh cư. Và cũng chưa phải lúc đến gặp các vị tỳ-kheo đang thiền định; họ đang tịnh cư. Hay là ta ghé qua khu vườn của các du sĩ ngoại đạo?”
Ông liền đi đến đó. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang tụ tập lại, họ ngồi bàn tán đủ thứ chuyện phiếm thấp hèn, la hét om sòm ầm ĩ. Nhìn thấy gia chủ Vajjiyamāhita từ xa đi tới, họ bảo nhau im lặng và nói: “Này các tôn giả, đừng ồn ào. Không được làm ồn. Gia chủ Vajjiyamāhita đang đến, ông ta là một đệ tử của sa-môn Gotama. Nếu có những nam cư sĩ mặc áo trắng sống tại Campā là đệ tử của sa-môn Gotama, thì ông ta là một trong số đó. Những vị đáng kính đó thích sự yên tĩnh và được rèn luyện để giữ yên tĩnh, họ luôn khuyên người khác giữ yên tĩnh. Có lẽ, nếu ông ta thấy hội chúng của chúng ta ít ồn ào, ông ta sẽ nghĩ rằng thật đáng bõ công tiến lại gần.”
Rồi các du sĩ đều im lặng. Gia chủ Vajjiyamāhita tiến đến gần họ và chào hỏi. Sau đó ông ngồi xuống một bên. Họ hỏi ông: “Này gia chủ, có đúng như người ta nói, rằng sa-môn Gotama chê bai sự khổ hạnh, lên án và chỉ trích một cách tuyệt đối bất cứ ai sống đời khổ hạnh ép xác không?”
“Không phải vậy, thưa các ngài. Thế Tôn chê bai những gì đáng bị chê bai và tán thán những gì đáng được tán thán. Nhưng khi làm như vậy, ngài là một người nói năng có sự phân biệt rạch ròi, ngài không phải là người đưa ra những phát ngôn phiến diện.”
Lúc đó, một du sĩ nói với ông: “Chờ đã, này gia chủ, sa-môn Gotama này mà ông ca ngợi là một kẻ theo chủ nghĩa hư vô (người dẫn người khác đi vào chỗ diệt tận): ông ta không mô tả bất cứ điều gì, theo như những gì ông nói về ông ta.”
“Ngược lại, thưa các ngài, tôi nói với các vị tôn giả một cách có căn cứ rằng Thế Tôn đã mô tả những pháp nào là thiện và những pháp nào là bất thiện. Vì vậy, bởi vì ngài mô tả điều đó, ngài là người có mô tả một điều gì đó, chứ không phải là người không mô tả điều gì.”
Khi nghe nói vậy, các du sĩ đều im lặng.
NGƯỜI KỂ HAI. Saccaka, con trai của phái Nigaṇṭha, đã đến tranh luận với Đức Phật tại Vesālī. Đức Phật đã miêu tả lại quá trình phấn đấu của ngài trước khi Giác ngộ đã dẫn ngài đến việc khám phá ra rằng sự ép xác khổ hạnh không dẫn đến đâu cả. Ngài nói:
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Ta đã có kinh nghiệm thuyết pháp cho một pháp hội gồm hàng trăm người. Có lẽ ai đó đã tưởng tượng rằng: ‘Sa-môn Gotama đang thuyết pháp dành riêng cho cá nhân mình.’ Nhưng không nên nghĩ như vậy. Một vị Như Lai thuyết pháp cho người khác là để trao cho họ sự hiểu biết. Khi buổi pháp thoại kết thúc, thì ta lại giữ tâm mình tĩnh tại, làm cho tâm an tịnh, đưa tâm về thế nhất tâm và tập trung vào chính đề mục ý thức mà ta đã tập trung từ trước.”
“Điều đó là tất nhiên vì Tôn giả Gotama là bậc ứng cúng và chánh đẳng chánh giác. Nhưng có bao giờ Tôn giả Gotama ngủ vào ban ngày không?”
“Trong tháng cuối cùng của mùa nóng, sau khi khất thực trở về và độ cơm xong, ta có thói quen trải áo y vải vá gấp làm bốn và nằm nghiêng bên phải, đi vào giấc ngủ với sự chánh niệm và tỉnh giác.”
“Một số sa-môn và bà-la-môn gọi đó là cách sống của kẻ mê lầm.”
“Đó không phải là cách để xác định một người là mê lầm hay không mê lầm. Người mà ta gọi là mê lầm là người mà các lậu hoặc gây ô nhiễm, dẫn đến sự tái sinh, sẽ chín muồi trong khổ đau ở tương lai và dẫn đến sinh, già và chết, vẫn chưa được đoạn tận; bởi vì chính việc không đoạn tận các lậu hoặc mới làm cho một người trở nên mê lầm. Người mà ta gọi là không mê lầm là người mà các lậu hoặc này đã được đoạn tận; bởi vì chính việc đoạn tận các lậu hoặc mới làm cho một người không còn mê lầm. Giống như một cây cọ bị chặt đứt ngọn thì không còn khả năng phát triển, cũng vậy, trong một vị Như Lai, các lậu hoặc này đã được đoạn tận, bị cắt đứt, chặt đứt tận gốc rễ, làm cho như gốc cây cọ, bị tiêu diệt và không bao giờ khởi sinh trong tương lai nữa.”
Nghe vậy, Saccaka thốt lên: “Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật phi thường làm sao, khi Tôn giả Gotama liên tục bị tấn công bằng những lời chỉ trích cá nhân, sắc da ngài vẫn sáng bừng lên, nét mặt ngài vẫn trong trẻo, đúng như những gì diễn ra ở một vị ứng cúng và chánh đẳng chánh giác! Tôi đã từng có kinh nghiệm tranh luận với Pūraṇa Kassapa, và ông ta đã nói lảng, đánh trống lảng và thậm chí còn tỏ ra tức giận, hằn học và càu nhàu. Và cả Makkhali Gosāla cùng những người khác cũng vậy. Còn bây giờ, thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi xin phép rời đi; chúng tôi đang bận và có nhiều việc phải làm.”
NGƯỜI KỂ HAI. Tuy nhiên, Saccaka vẫn không bị thuyết phục và vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
NGƯỜI KỂ MỘT. Có một sự kiện cho thấy Đức Phật cũng không tránh khỏi bệnh tật.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Một thời Thế Tôn đang trú tại Khu vườn Nigrodha ở Kapilavatthu thuộc đất Thích-ca. Ngài vừa mới khỏi bệnh. Bấy giờ, Mahānāma dòng Thích-ca đi đến chỗ ngài và thưa: “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã biết Giáo pháp được Thế Tôn giảng dạy như vầy: ‘Trí tuệ có được là nhờ người đó có định, không phải cho người không có định.’ Vậy bạch Thế Tôn, định có trước rồi trí tuệ có sau, hay trí tuệ có trước rồi định có sau?”
Tôn giả Ānanda nghĩ thầm: “Thế Tôn vừa mới khỏi bệnh, và người dòng Thích-ca Mahānāma này lại hỏi ngài một câu hỏi rất thâm sâu. Hay là ta kéo Mahānāma ra một góc và giảng pháp cho ông ấy?”
Tôn giả làm theo ý định đó, và nói: “Thế Tôn đã tuyên thuyết về giới, định và tuệ của vị hữu học, và ngài cũng đã tuyên thuyết về giới, định và tuệ của bậc vô học. Giới của vị hữu học là một vị tỳ-kheo giữ giới, thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, hoàn hảo trong oai nghi và hạnh kiểm, và luôn thấy sợ hãi trước những lỗi lầm nhỏ nhất, tu tập bằng cách thực hành các giới luật. Định của vị ấy là một vị tỳ-kheo bước vào và an trú trong một trong bốn tầng thiền. Tuệ của vị ấy là một vị tỳ-kheo hiểu rõ đúng như thật: ‘Đây là Khổ, đây là Nguyên nhân của Khổ, đây là Sự Diệt Khổ, đây là Con đường dẫn đến Sự Diệt Khổ.’ Còn trong trường hợp của bậc vô học, vị thánh đệ tử vốn đã có giới, định và tuệ như vậy, bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp ngay trong hiện tại, bước vào và an trú trong sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ 5, hoàn toàn vô lậu vì đã đoạn tận các lậu hoặc.”
NGƯỜI KỂ MỘT. Đức Phật có chiều cao bình thường. Điều này có thể được suy ra từ câu chuyện ngài trao đổi y phục với Trưởng lão Mahā-Kassapa, sẽ được kể lại sau, và từ sự kiện sau đây.
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sự việc diễn ra như sau. Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī trong Rừng Jeta, Vườn Anāthapiṇḍika, và lúc đó Tôn giả Nanda, con trai của dì Thế Tôn, cũng đang ở đó. Vị ấy rất đẹp trai, gợi lên lòng tin và sự kính trọng; và vị ấy chỉ thấp hơn Thế Tôn đúng bốn bề rộng ngón tay. Vị ấy thường mặc một chiếc y có cùng kích thước với y của Đấng Thiện Thệ, và khi các vị tỳ-kheo trưởng lão thấy Tôn giả Nanda từ xa đi tới, họ đã nhầm vị ấy với Thế Tôn, nên họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Nhưng khi vị ấy đến gần, họ mới nhận ra mình đã nhầm. Họ không hài lòng, lầm bầm và phản đối: “Làm sao Tôn giả Nanda lại có thể mặc một chiếc y có cùng kích thước với y của Đấng Thiện Thệ chứ?”
Họ đem chuyện này trình lên Thế Tôn. Ngài đã quở trách Tôn giả Nanda, và ban hành giới luật này: “Bất kỳ tỳ-kheo nào mặc y có kích thước bằng với y của Đấng Thiện Thệ thì phạm tội ưng đối trị. Kích thước y của Đấng Thiện Thệ là: dài chín gang tay và rộng sáu gang tay, tính theo gang tay của Đấng Thiện Thệ.”
Vin. Sv. Pāc. 92
NGƯỜI KỂ MỘT. Câu chuyện về Trưởng lão Vakkali rất phù hợp để nhắc đến ở đây vì nó minh họa quan điểm của Đức Phật về sự hiện hữu của thân xác.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn đang trú tại Rājagaha trong Trúc Lâm, Khu bảo tồn Sóc, Tôn giả Vakkali đang sống trong một ngôi nhà của thợ gốm. Vị ấy đang lâm trọng bệnh, đau đớn và ốm thập tử nhất sinh. Vị ấy bảo các thị giả của mình: “Này các hiền giả, hãy đến chỗ Thế Tôn, thay mặt tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài, và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Vakkali đang lâm trọng bệnh, đau đớn và ốm thập tử nhất sinh; vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Và thưa thêm thế này: ‘Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt lành nếu Thế Tôn vì lòng từ bi mà đến thăm tỳ-kheo Vakkali.’”
“Vâng, thưa hiền giả,” các tỳ-kheo đáp lời. Họ đi đến chỗ Thế Tôn, và truyền đạt lại thông điệp cũng như lời thỉnh cầu. Thế Tôn im lặng nhận lời. Sau đó ngài đắp y, mang theo y bát, đi đến chỗ Tôn giả Vakkali. Tôn giả Vakkali thấy ngài đi tới liền cố gượng dậy khỏi giường. Thế Tôn nói: “Thôi đủ rồi, Vakkali. Đừng cố ngồi dậy. Đã có sẵn chỗ ngồi; ta sẽ ngồi ở đó.” Ngài ngồi xuống một chiếc ghế đã được dọn sẵn. Rồi ngài hỏi: “Ta mong mọi chuyện vẫn ổn với ông, Vakkali; ta mong ông thấy thoải mái, những cơn đau đang giảm bớt chứ không tăng lên, và chúng có vẻ đang nhẹ đi chứ không nặng thêm.”
“Bạch Thế Tôn, con không được khỏe. Con không thấy thoải mái chút nào. Những cơn đau của con đang tăng lên chứ không thuyên giảm; chúng có vẻ ngày càng nặng thêm, chứ không nhẹ đi.”
“Ta mong ông không có điều gì lo âu hay hối hận, Vakkali?”
“Quả thật, bạch Thế Tôn, con có không ít những lo âu và hối hận.”
“Vậy thì, ta mong ông không có điều gì phải tự trách mình về mặt giới luật chứ?”
“Bạch Thế Tôn, con không có gì phải tự trách mình về mặt giới luật.”
“Nếu không phải vậy, Vakkali, thế thì ông lo âu và hối hận về điều gì?”
“Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã muốn đến để chiêm bái Thế Tôn, nhưng cơ thể con không bao giờ có đủ sức lực để làm việc đó.”
“Thôi đủ rồi, Vakkali; ông muốn nhìn cái thân xác hôi hám này để làm gì? Ai thấy Pháp là thấy ta; ai thấy ta là thấy Pháp. Bởi vì khi thấy Pháp thì người đó thấy ta; và khi thấy ta thì người đó thấy Pháp. Này Vakkali, ông nghĩ thế nào, sắc (vật chất) là thường hay vô thường?”
NGƯỜI KỂ HAI. Đức Phật tiếp tục lặp lại bài thuyết pháp giống như ngài đã giảng cho nhóm năm vị tỳ-kheo sau khi Giác ngộ.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Sau khi Thế Tôn ban cho Tôn giả Vakkali lời giáo huấn này, ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi về phía Đỉnh núi Linh Thứu.
Ngay sau khi ngài rời đi, Tôn giả Vakkali bảo các thị giả: “Lại đây, các hiền giả, hãy đặt tôi lên một chiếc cáng và khiêng tôi đến Hắc Nham trên sườn núi Isigili. Làm sao một người như tôi lại có thể nghĩ đến việc chết trong nhà cơ chứ?”
“Vâng, thưa hiền giả,” họ đáp, và làm theo lời dặn.
Thế Tôn trải qua phần còn lại của ngày và đêm đó trên Đỉnh núi Linh Thứu. Khi đêm đã qua, ngài gọi các tỳ-kheo: “Lại đây, các tỳ-kheo, hãy đi đến chỗ tỳ-kheo Vakkali và bảo ông ấy thế này: ‘Này hiền giả Vakkali, hãy nghe những gì chư thiên đã thưa với Thế Tôn. Đêm qua, có hai vị chư thiên với dung mạo rạng rỡ tuyệt trần, chiếu sáng toàn bộ Đỉnh núi Linh Thứu, đã đến gặp Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ ngài, một vị chư thiên nói: “Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Vakkali đã quyết tâm hướng tới giải thoát.” Và vị chư thiên kia nói: “Bạch Thế Tôn, vị ấy chắc chắn sẽ được giải thoát hoàn toàn.” Và Thế Tôn nhắn nhủ ông điều này, này hiền giả, “Đừng sợ hãi, Vakkali, đừng sợ hãi. Sự ra đi của ông sẽ không vướng bận chút tội lỗi nào; thời khắc viên tịch của ông sẽ hoàn toàn trong sạch.”’”
“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Sau đó họ đi đến chỗ Tôn giả Vakkali và nói: “Này hiền giả, hãy nghe một thông điệp từ Thế Tôn và từ hai vị chư thiên.”
Tôn giả Vakkali bảo các thị giả: “Lại đây, các hiền giả, hãy đỡ tôi xuống khỏi giường; bởi vì làm sao một người như tôi lại có thể nghĩ đến việc nghe thông điệp của Thế Tôn khi đang ngồi trên một chỗ ngồi cao chứ?”
“Vâng, thưa hiền giả,” họ đáp, và làm theo lời yêu cầu. Sau đó thông điệp được truyền đạt cho vị ấy.
Vị ấy nói: “Bây giờ, hỡi các hiền giả, xin hãy thay mặt tôi đảnh lễ Thế Tôn, cúi đầu dưới chân ngài, và nói: ‘Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Vakkali đang lâm trọng bệnh, đau đớn và ốm thập tử nhất sinh; vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và nói thế này: “Bạch Thế Tôn, con không hề nghi ngờ gì về việc sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường. Con không có chút hồ nghi nào rằng những gì vô thường đều là khổ. Con không có ham muốn, tham ái hay luyến ái nào đối với những gì vô thường, đau khổ và chịu sự đổi thay; về điều đó con cũng không có chút hồ nghi nào.”’”
“Vâng, thưa hiền giả,” họ đáp. Rồi họ rời đi. Ngay sau khi họ đi khỏi, Tôn giả Vakkali đã tự kết liễu đời mình.
Khi các tỳ-kheo đến gặp Thế Tôn và thuật lại những lời của Tôn giả Vakkali, ngài nói: “Chúng ta hãy đến Hắc Nham trên sườn núi Isigili, này các tỳ-kheo, nơi thiện nam tử Vakkali đã tự kết liễu đời mình.”
“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Rồi Thế Tôn cùng một số tỳ-kheo đi đến Hắc Nham trên sườn núi Isigili. Từ đằng xa, ngài nhìn thấy thi thể vô tri của Tôn giả Vakkali đang nằm trên giường. Nhưng cùng lúc đó, một đám mây khói, một bóng đen u ám, đang di chuyển về phía đông, phía tây, phía bắc, phía nam và mọi hướng trung gian. Khi đó Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, các ông có thấy đám mây khói, cái bóng đen u ám đó không?”
“Dạ có, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ-kheo, đó chính là Ác ma. Hắn đang tìm kiếm tâm thức của thiện nam tử Vakkali: ‘Tâm thức của thiện nam tử Vakkali đã an trú ở đâu?’ Nhưng này các tỳ-kheo, thiện nam tử Vakkali đã nhập Vô dư y Niết-bàn mà không để tâm thức mình an trú ở bất cứ đâu.”
NGƯỜI KỂ MỘT. Trong Kinh tạng có kể lại một vài trường hợp các tỳ-kheo tự kết liễu đời mình. Điều này được Đức Phật tuyên bố là không có lỗi chỉ với một điều kiện duy nhất: đó là tỳ-kheo ấy đã là một vị A-la-hán, hoàn toàn vắng bóng tham, sân, si, hoặc chắc chắn sẽ trở thành một vị A-la-hán trước khi chết, và việc tự kết liễu đời mình trong điều kiện đó chỉ đơn thuần là sự chấm dứt một căn bệnh nan y. Nếu không, việc tước đoạt mạng sống con người, hay việc xúi giục tìm đến cái chết, sẽ cấu thành một trong bốn tội Ba-la-di, tức là những tội cực trọng dẫn đến việc bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn (ba tội còn lại là trộm cắp, tà dâm và cố ý nói dối về việc đạt được các quả vị tâm linh), mặc dù hành vi cố ý tự tử bất thành thì được coi là một tội nhỏ.
NGƯỜI KỂ HAI. Trước đó đã có nhắc đến việc Đức Phật kể tên sáu vị Phật đã ra đời trước ngài. Ngài cũng gọi tên vị Phật tiếp theo sẽ kế nhiệm ngài trong tương lai, người sẽ xuất hiện sau khi giáo pháp của ngài và mọi ký ức về ngài đã hoàn toàn tan biến khỏi thế gian.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Khi tuổi thọ của con người tăng lên đến tám mươi ngàn năm, Thế Tôn Metteyya (Di-lặc), bậc Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác, sẽ xuất hiện trên thế gian, ngài là bậc Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn, giống y như ta hiện nay. Bằng trí tuệ trực tiếp, ngài sẽ tự mình chứng ngộ và giảng giải về thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương và chư Phạm thiên, về thế hệ này cùng với các sa-môn và bà-la-môn, với các bậc vương tôn và loài người, giống y như ta đã làm hiện nay. Ngài sẽ thuyết giảng Giáo pháp toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa và toàn thiện ở đoạn cuối, hoàn hảo cả về ý nghĩa và văn tự, và sẽ xiển dương phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh và vô nhiễm, giống y như ta đã làm hiện nay.”
Điều này đã được Thế Tôn tuyên thuyết, được bậc Ứng cúng tuyên thuyết, tôi nghe như vầy: “Này các Tỳ-kheo, ta là một bà-la-môn, quen với sự rộng lượng và hào phóng; ta đang mang thân xác cuối cùng; ta là vị ngự y vô thượng. Các ông là những đứa con do ta nuôi dưỡng, sinh ra từ miệng ta, sinh ra từ Đạo pháp, là những người thừa tự Đạo pháp, không phải thừa tự của cải vật chất. Có hai loại bố thí: bố thí của cải vật chất và bố thí Đạo pháp. Sự bố thí vĩ đại hơn chính là bố thí Đạo pháp.”
“Này các Tỳ-kheo, nếu có ai đó hỏi một tỳ-kheo: ‘Đâu là những bằng chứng và sự xác tín khiến tôn giả nói rằng: “Thế Tôn là bậc chánh đẳng chánh giác, Giáo pháp được khéo léo tuyên thuyết, Tăng đoàn đã đi vào con đường chân chính”?’ thì để trả lời cho đúng, các ông nên trả lời thế này: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã đến yết kiến Thế Tôn để được nghe pháp. Vị đạo sư đã chỉ cho tôi Đạo pháp qua từng giai đoạn từ thấp lên cao, ở mỗi cấp độ cao hơn, với cả phần sáng và phần tối đối chiếu. Thuận theo sự dẫn dắt đó, bằng cách đạt được trí tuệ trực tiếp ngay tại đây về một giáo lý nhất định (cụ thể là một trong bốn giai đoạn trên con đường giác ngộ) trong số các giáo lý được giảng dạy trong Đạo pháp, tôi đã đạt được mục tiêu của mình: khi đó tôi đã khởi sinh niềm tin vào vị đạo sư như thế này: “Thế Tôn là bậc chánh đẳng chánh giác, Giáo pháp được khéo léo tuyên thuyết, Tăng đoàn đã đi vào con đường chân chính.”’ Khi niềm tin của bất kỳ ai vào Như Lai được gieo trồng, bám rễ và củng cố bằng những bằng chứng này, những cụm từ này và những câu chữ này, thì niềm tin của người đó được gọi là niềm tin có căn cứ, cắm rễ sâu vào kiến thị, vững chắc và không thể bị lung lay bởi bất kỳ sa-môn, bà-la-môn, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trên thế gian.”
“Khi các đệ tử của Tôn giả Gotama được ngài khuyên bảo và chỉ dạy, liệu tất cả họ đều đạt được mục tiêu tối thượng là Niết-bàn, hay có những người không đạt được?”
“Có người đạt được, thưa bà-la-môn, và có người không.”
“Tại sao lại như vậy, thưa Tôn giả Gotama, vì đã có Niết-bàn, có con đường dẫn đến Niết-bàn, và có Tôn giả Gotama làm người dẫn đường?”
“Về điều đó, thưa bà-la-môn, ta sẽ hỏi ngược lại ông một câu. Ông hãy trả lời tùy ý. Ông nghĩ thế nào: ông có thông thạo con đường dẫn đến Rājagaha không?”
“Thưa có, Tôn giả Gotama, tôi rất thông thạo.”
“Ông nghĩ thế nào: giả sử có một người muốn đến Rājagaha, anh ta đến gặp ông và nói, ‘Thưa ngài, xin chỉ cho tôi con đường đến Rājagaha,’ rồi ông bảo anh ta: ‘Này anh bạn, con đường này đi đến Rājagaha. Hãy đi theo nó một lúc, anh sẽ thấy một ngôi làng, sau đó là một thị trấn, rồi sẽ thấy Rājagaha với những khu vườn, khu rừng, đồng cỏ và hồ nước’; sau đó, dù đã được ông khuyên bảo và chỉ dẫn như vậy, anh ta lại đi sai đường và rẽ sang hướng tây. Và rồi một người thứ hai xuất hiện, cũng hỏi câu hỏi tương tự và nhận được những lời khuyên bảo, chỉ dẫn y như vậy từ ông, và anh ta đã đến được Rājagaha an toàn. Vậy, vì đã có Rājagaha, có con đường dẫn đến đó, và có ông là người dẫn đường, tại sao trong hai người được ông khuyên bảo và chỉ dẫn, một người lại đi sai đường về hướng tây còn người kia lại đến được Rājagaha an toàn?”
“Tôi thì có lỗi gì trong chuyện đó, thưa Tôn giả Gotama? Tôi chỉ đơn thuần là người chỉ đường thôi.”
“Cũng như vậy, thưa bà-la-môn, đã có Niết-bàn, có con đường dẫn đến đó, và có ta là người dẫn đường, nhưng khi các đệ tử của ta được ta khuyên bảo và chỉ dẫn, một số người đạt được Niết-bàn còn một số người thì không. Ta thì có lỗi gì trong chuyện đó, thưa bà-la-môn? Như Lai cũng chỉ đơn thuần là người chỉ đường.”
MN-107 (đã rút gọn)
Có lần, vài du sĩ ngoại đạo đến gặp Tôn giả Anurādha và hỏi: “Thưa hiền giả Anurādha, một vị Như Lai, bậc cao tột giữa loài người, bậc tối thắng giữa loài người, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi mô tả về ngài, người ta sẽ dùng trường hợp nào trong bốn trường hợp sau đây: Sau khi chết Như Lai tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai không tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại?” 6
“Thưa các hiền giả, khi mô tả về một vị Như Lai, người ta mô tả ngài nằm ngoài bốn trường hợp này.”
Nghe vậy, họ nhận xét: “Đây chắc là một tỳ-kheo mới đi tu, hoặc một vị trưởng lão xuất gia chưa được bao lâu, thật ngu ngốc và thiếu kinh nghiệm.” Sau đó, vì không tin tưởng Tôn giả Anurādha và nghĩ rằng vị ấy là người mới xuất gia và ngu ngốc, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Chẳng bao lâu sau khi họ rời đi, vị ấy tự hỏi: “Nếu họ tiếp tục chất vấn mình, mình nên trả lời họ như thế nào để có thể nói đúng những gì Thế Tôn nói mà không xuyên tạc ngài bằng những điều không đúng sự thật, và diễn đạt các quan điểm phù hợp với Đạo pháp mà không có bất kỳ hệ lụy hợp lý nào từ những khẳng định của mình tạo cớ cho người khác chỉ trích?” Vì vậy, vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn và kể lại chuyện này.
“Ông nghĩ thế nào, Anurādha, sắc là thường hay vô thường?”—“Dạ vô thường, bạch Thế Tôn.”
NGƯỜI KỂ HAI. Sau đó, Đức Phật tiếp tục giảng giải giống như ngài đã làm trong Bài thuyết pháp thứ hai giảng cho nhóm năm vị tỳ-kheo, rồi sau đó ngài hỏi:
“Ông nghĩ thế nào, Anurādha: ông có xem sắc là Như Lai không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”—“Ông có xem thọ... tưởng... hành... thức là Như Lai không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Ông nghĩ thế nào, Anurādha: ông có thấy Như Lai ở trong sắc không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”—“Ông có thấy Như Lai nằm ngoài sắc không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”—“Ông có thấy Như Lai ở trong thọ... ở ngoài thọ... ở trong tưởng... ở ngoài tưởng... ở trong hành... ở ngoài hành... ở trong thức... ở ngoài thức không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Ông nghĩ thế nào, Anurādha: ông có xem Như Lai là sự kết hợp của sắc, thọ, tưởng, hành và thức không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Ông nghĩ thế nào, Anurādha: ông có xem Như Lai này là người không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức không?”—“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Anurādha, nếu ngay trong hiện tại ông đã không thể tìm thấy hay nắm bắt được một vị Như Lai theo tính chân thật và thực hữu, vậy có thích hợp không khi nói về ngài rằng: ‘Thưa các hiền giả, một vị Như Lai, bậc cao tột giữa loài người, bậc tối thắng giữa loài người, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi mô tả về ngài, người ta mô tả ngài nằm ngoài bốn trường hợp sau: Sau khi chết Như Lai tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai không tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại; hoặc sau khi chết Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại’?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Tốt lắm, tốt lắm, Anurādha. Xưa cũng như nay, điều mà ta giảng dạy chỉ là khổ và sự diệt khổ.”
“Tại sao Như Lai không trả lời những câu hỏi này? Bởi vì tất cả chúng đều xét về một vị Như Lai sau khi chết qua lăng kính của sắc (và các uẩn còn lại)” (S. 44:3). “Bởi vì chúng được hỏi bởi một người chưa thoát khỏi lòng ham muốn, tình luyến ái, sự khát khao, sự thao thức, và sự tham ái đối với sắc (và các uẩn còn lại)” (S. 44:5). “Bởi vì chúng được hỏi bởi một người luôn đắm nhiễm vào sắc (và các uẩn còn lại) cũng như sự tồn tại, sự bám víu và tham ái, và không biết làm thế nào để những thứ này chấm dứt” (S. 44:6). “Những câu hỏi như vậy thuộc về rừng rậm tà kiến... gông cùm tà kiến: chúng gắn liền với khổ đau, sầu muộn, tuyệt vọng và thao thức, và chúng không dẫn đến sự ly tham, ly dục, đoạn diệt, tĩnh lặng, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn.”
(MN-72).
“Ta nói rằng một vị Đã-đến-như-vậy (Tathāgata, một vị Như Lai) 7 là không thể biết được ngay trong hiện tại. Khi ta nói như vậy, tuyên bố như vậy, ta đã bị một số sa-môn và bà-la-môn gán ghép vô căn cứ, hão huyền, dối trá và sai lệch rằng: ‘Sa-môn Gotama là kẻ dẫn người ta đến chỗ diệt vong; bởi vì ông ta chủ trương sự diệt tận, sự mất mát, sự không tồn tại của một sinh mệnh đang sống.’”
“Có ba loại chấp ngã (sự bám víu vào cái tôi) này: chấp ngã thô trược, chấp ngã do tâm tạo, và chấp ngã vô sắc... Loại thứ nhất có sắc (vật chất), được cấu tạo từ bốn đại và tiêu thụ thức ăn vật chất. Loại thứ hai có sắc và được cấu tạo bởi tâm, có đầy đủ tay chân và không thiếu một giác quan nào. Loại thứ ba không có sắc và chỉ bao gồm nhận thức... Ta giảng dạy Đạo pháp để đoạn tận các loại chấp ngã nhằm giúp các ông, những người thực hành theo giáo pháp, có thể đoạn tận những uế pháp, tăng trưởng những tịnh pháp, và bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp ngay trong hiện tại, có thể bước vào và an trú trong sự viên mãn của trí tuệ tuyệt hảo... Nếu có ai nghĩ rằng làm như vậy là một sự an trú đau khổ, thì không phải như vậy; trái lại, khi làm như vậy sẽ có niềm vui, sự hỷ lạc, sự tĩnh lặng, chánh niệm, tỉnh giác, và một sự an trú đầy an lạc.”
NGƯỜI KỂ HAI. Đức Phật tiếp tục nói rằng từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, bất kỳ một loại chấp ngã nào trong ba loại này cũng có thể nối tiếp loại kia. Vì thế, không thể cãi lý một cách thỏa đáng rằng chỉ có một loại là đúng và hai loại kia là sai; người ta chỉ có thể nói rằng thuật ngữ dùng cho loại này không phù hợp với hai loại kia; giống như, với sữa từ con bò, sữa đông từ sữa, bơ từ sữa đông, bơ trong từ bơ, và tinh chất bơ trong từ bơ trong, thuật ngữ của mỗi loại chỉ phù hợp với chính nó và không phù hợp với bất kỳ loại nào khác, nhưng chúng lại không hề đứt đoạn với nhau. Đức Phật kết luận:
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Đây chỉ là những cách dùng từ của thế gian, ngôn ngữ thế gian, những thuật ngữ giao tiếp của thế gian, những cách mô tả của thế gian, mà Như Lai sử dụng để giao tiếp mà không hề bị vướng chấp vào chúng.”
D. 9 (đã rút gọn)