Chương 8
CUỘC TRANH CÃI Ở KOSAMBĪ
NGƯỜI KỂ HAI. Theo truyền thuyết, mùa an cư thứ sáu diễn ra trên núi Makula và vào năm tiếp theo, Song Thông (Phép màu kép) lại được thi triển ở Sāvatthī, sau đó Đức Phật lên cõi trời Đao Lợi (Trời Ba Mươi Ba). Tại đây, ngài trải qua mùa an cư thứ bảy để giảng Vi Diệu Pháp cho các chư thiên, trong đó có vị chư thiên từng là mẹ của ngài. Cuối mùa mưa đó, sự kiện "chư thiên giáng trần" diễn ra khi Đức Phật trở lại thế gian. Ngài trải qua mùa an cư thứ tám tại Sumsumāragira và thứ chín tại Kosambī.
NGƯỜI KỂ MỘT. Kosambī là thủ đô của tiểu quốc Vaṃsa nằm lọt thỏm giữa sông Hằng và sông Jumna. Vua của vương quốc này là Udena, hầu như không được nhắc đến trong Kinh điển. Hầu hết các sự kiện được truyền thuyết sau này xếp vào những năm đó, bao gồm chuyến đi lên cõi trời Đao Lợi và sự kiện chư thiên giáng trần, hoàn toàn không được đề cập trong Kinh điển.
NGƯỜI KỂ HAI. Để bắt đầu, đây là câu chuyện về một sự việc nhỏ nhặt đã dẫn đến cuộc tranh cãi lớn đầu tiên, đe dọa gây ra sự chia rẽ trong Tăng đoàn. Chuyện kể rằng có hai vị tỳ-khưu trong cùng một tu viện, một vị là chuyên gia về Luật và vị kia là giảng sư về Kinh. Một ngày nọ, vị giảng sư Kinh đi nhà vệ sinh và để lại một cái chậu còn chứa chút nước rửa chưa dùng hết. Vị kia vào sau và nhìn thấy. Vị chuyên gia Luật hỏi vị giảng sư Kinh: "Hiền giả đã để lại cái chậu còn nước ở đó phải không?" — "Đúng vậy." — "Hiền giả không biết thế là vi phạm sao?" — "Không, tôi không biết." — "Thế là vi phạm đấy, thưa hiền giả." — "Vậy tôi sẽ sám hối." — "Nhưng nếu hiền giả làm vậy một cách vô ý và do quên lãng, thì không có lỗi gì." Vị giảng sư Kinh bỏ đi với suy nghĩ rằng mình không làm gì sai. Tuy nhiên, vị chuyên gia Luật lại nói với các học trò của mình: "Vị giảng sư Kinh này không biết khi nào mình đã phạm lỗi." Các học trò này đi nói với học trò của vị kia: "Thầy của các vị đã phạm lỗi, dù ông ấy tưởng là mình không phạm." Khi các học trò kể lại chuyện này, vị giảng sư Kinh nói: "Vị chuyên gia Luật này lúc đầu nói không có lỗi, giờ lại nói là có. Ông ta là kẻ nói dối." Học trò của vị giảng sư Kinh liền đến nói với học trò của vị chuyên gia Luật: "Thầy của các vị là kẻ nói dối." Đáp lại, vị chuyên gia Luật triệu tập Tăng chúng và đình chỉ vị giảng sư Kinh.
NGƯỜI KỂ MỘT. Và đây là ghi chép trong Kinh điển về những gì diễn ra sau đó.
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sự việc xảy ra như sau. Khi Đức Phật, Thế Tôn, đang ngự tại Kosambī trong khu vườn của Ghosita, có một tỳ-khưu vướng vào một lỗi. Ban đầu, vị ấy xem lỗi đó là lỗi, nhưng các tỳ-khưu khác lại cho rằng đó không phải là lỗi. Sau đó, bản thân vị ấy lại cho rằng lỗi đó không phải là lỗi, nhưng các tỳ-khưu khác lại xem đó là lỗi. Các tỳ-khưu đó bèn nói với vị ấy: "Này hiền giả, hiền giả đã phạm lỗi. Hiền giả có thấy lỗi đó không?"
"Thưa các hiền giả, tôi không phạm điều gì mà thấy là lỗi cả."
Các tỳ-khưu đó liền đồng thuận đình chỉ tỳ-khưu kia dù vị ấy vẫn không thấy lỗi của mình. Nhưng tỳ-khưu bị đình chỉ là một người uyên bác. Vị ấy am hiểu Kinh điển và là chuyên gia về Pháp, Luật và các Giới bản. Vị ấy khôn ngoan, sáng suốt, hiểu biết, khiêm tốn, cẩn trọng và ham thích tu học. Vị ấy đi gặp những người bạn thân thiết của mình và nói: "Đây không phải là lỗi, đây không phải là một vi phạm, tôi không hề phạm lỗi ... Tôi không bị đình chỉ, tôi đã bị đình chỉ bởi một hành động sai trái, vô hiệu và không có căn cứ. Xin các tôn giả hãy đứng về phía tôi trong Pháp và Luật này."
Vị ấy đã lôi kéo được họ về phía mình, rồi cử sứ giả đến gặp bạn bè và cộng sự ở các vùng khác. Sau đó, những tỳ-khưu ủng hộ vị bị đình chỉ đã đến gặp những người đã ra lệnh đình chỉ và trình bày lý lẽ của họ. Khi việc này diễn ra, nhóm kia vẫn tái khẳng định tính hợp lệ của lệnh đình chỉ, và họ nói: "Mong các tôn giả đừng ủng hộ và đi theo một tỳ-khưu đã bị đình chỉ." Nhưng mặc dù những tỳ-khưu ủng hộ vị bị đình chỉ đã được nhóm ra lệnh đình chỉ khuyên bảo như vậy, họ vẫn tiếp tục ủng hộ và đi theo vị ấy.
Sau đó, một vị tỳ-khưu đến gặp Thế Tôn và trình báo sự việc. Thế Tôn nói: "Sẽ có sự chia rẽ trong Tăng đoàn, sẽ có sự chia rẽ trong Tăng đoàn." Ngài đứng dậy và đi đến chỗ các tỳ-khưu đã ra lệnh đình chỉ. Ngài ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn và nói với họ: "Này các tỳ-khưu, đừng nghĩ rằng một tỳ-khưu nào đó nên bị đình chỉ chỉ vì lý do này: 'Chúng ta nghĩ như vậy.' Hãy lấy trường hợp một tỳ-khưu phạm lỗi, và mặc dù vị ấy không xem đó là lỗi, nhưng các tỳ-khưu khác lại xem đó là lỗi. Những tỳ-khưu hiểu được mức độ nghiêm trọng của sự chia rẽ trong Tăng đoàn không nên đình chỉ tỳ-khưu đó chừng nào vị ấy chưa thấy lỗi của mình. Nếu họ đánh giá rằng: 'Vị ấy là người uyên bác và ham thích tu học; nếu chúng ta đình chỉ mà vị ấy không nhận lỗi, chúng ta sẽ không cùng vị ấy giữ ngày lễ Uposatha (Bố-tát), hoặc làm lễ Pavāraṇā (Tự tứ) vào cuối mùa an cư, hoặc thực hiện các Tăng sự, hoặc ngồi chung một chỗ, hoặc chia sẻ cháo, hoặc chia sẻ nhà ăn, hoặc sống chung dưới một mái nhà, hoặc thực hiện các nghi thức tôn kính trưởng lão cùng vị ấy; chúng ta sẽ làm những việc này mà không có vị ấy, và vì thế sẽ sinh ra cãi vã, ẩu đả, tranh chấp, bất đồng và cuối cùng là chia rẽ, phân bè phái và các hành động chống đối trong Tăng đoàn.' "
Nói xong, Ngài đứng dậy và đi đến chỗ các tỳ-khưu ủng hộ vị bị đình chỉ. Ngài ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn và nói với họ: "Này các tỳ-khưu, đừng nghĩ rằng khi một lỗi đã xảy ra, thì không cần phải sửa chữa chỉ vì các vị nghĩ: 'Chúng ta đã không phạm phải lỗi đó.' Hãy lấy trường hợp một tỳ-khưu phạm lỗi, và mặc dù vị ấy không xem đó là lỗi, nhưng các tỳ-khưu khác lại xem đó là lỗi. Một tỳ-khưu hiểu được mức độ nghiêm trọng của sự chia rẽ trong Tăng đoàn nên thừa nhận lỗi lầm vì niềm tin vào những người khác, nếu vị ấy đánh giá rằng: 'Họ là những người uyên bác và ham thích tu học; thật vô lý khi đi chệch hướng do sự nhiệt tình thái quá, oán ghét, si mê và sợ hãi vì lợi ích của bản thân hoặc của những người này; nếu các tỳ-khưu này đình chỉ ta vì một lỗi mà ta không thấy, họ sẽ không cùng ta giữ ngày lễ Uposatha, hoặc làm lễ Pavāraṇā, hoặc thực hiện các Tăng sự, hoặc ngồi chung một chỗ, hoặc chia sẻ cháo, hoặc chia sẻ nhà ăn, hoặc sống chung dưới một mái nhà, hoặc thực hiện các nghi thức tôn kính trưởng lão cùng ta; họ sẽ làm những việc này mà không có ta, và vì thế sẽ sinh ra cãi vã, ẩu đả, tranh chấp, bất đồng và cuối cùng là chia rẽ, phân bè phái và các hành động chống đối trong Tăng đoàn.' "
Khi Thế Tôn nói xong những lời này, Ngài đứng dậy và rời đi.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Nhưng lúc bấy giờ, những cuộc cãi vã, ẩu đả và tranh chấp đã bùng nổ giữa Tăng đoàn, các tỳ-khưu làm tổn thương nhau bằng những mũi tên ngôn từ. Họ không thể giải quyết được tranh chấp của mình. Một tỳ-khưu bèn đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi đứng sang một bên. Vị ấy kể lại những gì đang diễn ra và nói thêm: "Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt nếu Thế Tôn vì lòng từ bi mà đến khuyên bảo các tỳ-khưu ấy."
Thế Tôn giữ im lặng nhận lời. Sau đó, Ngài đi đến chỗ các tỳ-khưu ấy và nói: "Thôi đủ rồi, các tỳ-khưu, đừng cãi vã, đừng ẩu đả, đừng tranh chấp, đừng bất đồng nữa."
Khi Ngài nói vậy, một tỳ-khưu đáp: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn, bậc Đạo sư của Chánh pháp hãy khoan can thiệp; xin Thế Tôn hãy cứ an trú trong sự tĩnh tại ngay trong hiện tại và đừng bận tâm đến chuyện này. Chính chúng con mới là những người phải gánh chịu hậu quả vì sự cãi vã, ẩu đả, tranh chấp và bất đồng này."
Lần thứ hai và lần thứ ba, Thế Tôn lặp lại lời khuyên cũ và nhận được cùng một câu trả lời. Sau đó, Ngài nghĩ: "Những kẻ lầm đường này dường như đã bị ám ảnh. Thật không thể làm cho họ sáng mắt ra được." Ngài bèn đứng dậy và rời đi.
Sáng hôm sau, Ngài đắp y, mang bát và y ngoài đi vào Kosambī để khất thực. Sau khi khất thực và dùng bữa xong trở về, Ngài thu dọn chỗ nghỉ, cầm lấy bát và y ngoài. Rồi Ngài thốt lên những vần kệ này.
M.128; cf. Vin. Mv. 10:2-3
Khi bao người cùng gào
Không ai nhận mình ngu
Tăng đoàn đang chia rẽ
Không ai tự nghĩ rằng:
"Ta cũng có tham gia
Ta góp phần trong đó."
Họ quên lời khôn ngoan
Tâm bám víu ngôn từ
Không kìm giữ cái miệng
Cứ mặc sức kêu la
Chẳng ai biết điều gì
Khiến mình làm như thế.
M.128; Jā. 3:488; Ud. 5:9;
Thag. 275; Vin. Mv. 10:3
"Nó mắng ta, đánh ta
Nó hạ ta, cướp ta!"
Hận thù không thể diệt
Trong những ai ôm ấp
Mối thù hằn như vậy."Nó mắng ta, đánh ta
Nó hạ ta, cướp ta!"
Hận thù ắt được diệt
Trong những ai không ôm
Mối thù hằn như vậy.
Lấy thù để báo thù
Đời này chẳng thể diệt
Dùng tình thương hóa giải
Định luật từ ngàn xưa.
Những kẻ khác không biết
Ta cần phải kiềm chế 1
Có người nhận ra được
Tranh cãi liền lặng im.
M.128; Dh. 3-6; Jā 3:212, 488; Vin. Mv. 10:3
Kẻ bẻ xương, sát nhân
Trộm trâu bò, tài sản
Khi cướp phá đất nước
Chúng còn biết đồng lòng
Sao các vị thì không?
M.128; Jā 3:488; Vin. Mv. 10:3
Nếu tìm được bạn hiền
Đáng tin để đồng hành
Vừa đạo đức, kiên định
Hãy bước đi cùng nhau
Trong tỉnh thức, hỷ lạc
Vượt qua mọi hiểm nguy.
Nếu không tìm được bạn
Đáng tin để đồng hành
Vừa đạo đức, kiên định
Như vua lìa nước mất
Hãy bước đi một mình
Như voi rừng độc cư.
Thà cất bước một mình
Không kết bạn kẻ ngu
Độc hành không hại ai
Chẳng vướng bận tranh chấp
Hãy cất bước một mình
Như voi rừng độc cư.
MN-128: Jā 3:488; Vin. Mv. 10:3
Dh. 328-30; cf. Sn. 45-46
Khi Thế Tôn thốt xong những vần kệ này, Ngài cất bước đến Bālakaloṇakāragāma. Lúc bấy giờ, tôn giả Bhagu đang cư ngụ tại đó. Khi thấy Thế Tôn từ xa đi tới, vị ấy dọn chỗ ngồi, lấy nước rửa chân, chuẩn bị bệ gác chân và khăn lau chân. Sau đó, vị ấy ra đón Ngài, cầm lấy bát và y ngoài. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn và rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Ngài rồi ngồi sang một bên. Thế Tôn hỏi: "Này tỳ-khưu, ta mong thầy vẫn khỏe, sống an vui và không gặp khó khăn gì trong việc khất thực?"
"Bạch Thế Tôn, con vẫn khỏe, sống an vui và không gặp khó khăn gì trong việc khất thực."
Sau đó, Thế Tôn chỉ dẫn, khích lệ, tạo cảm hứng và làm phấn chấn tôn giả Bhagu bằng một thời pháp, rồi Ngài đứng dậy rời đi về hướng Đông Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha, tôn giả Nandiya và tôn giả Kimbila đang cư ngụ tại đó. Người giữ vườn thấy Thế Tôn đi tới bèn nói: "Này sa-môn, đừng vào khu vườn này; có ba vị thiện nam tử đang tu tập ở đây vì lợi ích của chính họ. Đừng làm phiền họ."
Tôn giả Anuruddha nghe người giữ vườn nói chuyện với Thế Tôn. Vị ấy bảo người giữ vườn: "Này bạn giữ vườn, đừng cản Thế Tôn. Đó chính là đạo sư của chúng tôi, Thế Tôn đã quang lâm."
Tôn giả Anuruddha đi gọi tôn giả Nandiya và tôn giả Kimbila: "Ra đi, các tôn giả, ra đi; đạo sư của chúng ta đã đến."
Rồi cả ba vị ra đón Thế Tôn. Một vị cầm bát và y ngoài, một vị dọn chỗ ngồi và một vị lấy nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn và rửa chân. Sau đó, họ đảnh lễ Ngài rồi ngồi sang một bên. Thế Tôn hỏi: "Này Anuruddha, ta mong tất cả các thầy đều khỏe, sống an vui và không gặp khó khăn gì trong việc khất thực?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con đều khỏe, sống an vui và không gặp khó khăn gì trong việc khất thực."
"Này Anuruddha, ta mong các thầy đều sống hòa hợp, thân thiện và không tranh chấp, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm?"
"Dạ chắc chắn là vậy, bạch Thế Tôn."
"Nhưng này Anuruddha, làm sao các thầy sống được như vậy?"
Tôn giả Anuruddha đáp: "Bạch Thế Tôn, về điều đó, con nghĩ rằng thật là diễm phúc và may mắn cho con khi được sống cùng những người bạn đồng tu phạm hạnh như vậy. Con duy trì những hành động, lời nói và ý nghĩ từ bi đối với các tôn giả này cả ở chốn đông người lẫn khi vắng mặt. Con nghĩ: 'Tại sao ta không gác lại ý muốn của mình mà chỉ làm theo ý muốn của các vị ấy?' và con làm đúng như vậy. Bạch Thế Tôn, thân chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ tâm chúng con chỉ là một."
Hai vị còn lại cũng nói y như vậy. Họ nói thêm: "Bạch Thế Tôn, đó là cách chúng con sống hòa hợp, thân thiện và không tranh chấp, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm."
"Tốt lắm, tốt lắm, Anuruddha. Ta mong các thầy đều sống tinh tấn, nhiệt tâm và tự chủ?"
"Dạ chắc chắn là vậy, bạch Thế Tôn."
"Nhưng này Anuruddha, làm sao các thầy tu tập được như vậy?"
"Bạch Thế Tôn, về điều đó, bất cứ ai trong chúng con đi khất thực từ làng về trước sẽ dọn sẵn chỗ ngồi, lấy nước uống, nước rửa và đặt thùng rác đúng chỗ. Bất cứ ai về sau cùng, nếu muốn, có thể ăn đồ ăn còn dư; nếu không, vị ấy sẽ đổ bỏ ở nơi không có cỏ hoặc đổ xuống nước nơi không có sinh vật. Vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, nước uống và nước rửa. Vị ấy mang thùng rác đi rửa rồi cất đi, và quét dọn nhà ăn. Ai thấy lu nước uống, nước rửa hay nước trong nhà vệ sinh sắp cạn hoặc đã cạn thì sẽ lo châm thêm. Nếu lu nước quá nặng, vị ấy ra hiệu bằng tay gọi người khác đến giúp một tay để cùng khiêng. Chúng con không cất tiếng nói vì mục đích đó. Nhưng cứ năm ngày một lần, chúng con thức trắng đêm cùng nhau đàm đạo về Chánh pháp. Đó là cách chúng con tu tập tinh tấn, nhiệt tâm và tự chủ."
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sau khi Thế Tôn chỉ dẫn, khích lệ, tạo cảm hứng và làm phấn chấn các vị ấy bằng một thời pháp, Ngài đứng dậy. Ngài thong dong cất bước đến Pārileyyaka. Cuối cùng, trong chuyến du hành, Ngài đã đến nơi, và Ngài vào ở trong rừng Rakkhita, dưới gốc một cây sāla cổ thụ tĩnh lặng. Trong lúc Ngài đang tịnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong tâm: "Trước đây ta sống thật không thoải mái, bị quấy rầy bởi những tỳ-khưu Kosambī ưa cãi vã, ẩu đả, tranh chấp, lớn tiếng và kiện tụng giữa Tăng đoàn. Giờ đây ta chỉ có một mình, không bạn đồng hành, sống thanh thản và an vui, tránh xa tất cả bọn họ."
Lúc đó, cũng có một con voi chúa từng sống trong cảnh bị quấy rầy bởi bầy voi đực, voi cái, voi tơ và voi con. Nó phải ăn những ngọn cỏ bị giẫm nát, những cành cây gãy vụn, phải uống nước đục bẩn, và cơ thể bị bầy voi cái xô đẩy khi đi lên từ bến tắm. Nó đã cân nhắc tất cả những điều này và nghĩ: "Tại sao ta không sống một mình, tách khỏi đám đông?" Thế là nó rời đàn và đi đến Pārileyyaka, vào rừng Rakkhita, đến gốc cây sāla nơi Thế Tôn đang ngự. Nó chăm sóc Thế Tôn, tìm thức ăn và nước uống cho Ngài, và dùng vòi quét sạch lá rụng. Nó nghĩ: "Trước đây ta sống bị quấy rầy bởi bầy voi ... Giờ đây, chỉ có một mình và tách khỏi bầy đàn, ta sống thanh thản và an vui, tránh xa tất cả lũ voi kia."
Thế Tôn, đang tận hưởng sự tĩnh lặng của chính mình, thấu hiểu được suy nghĩ trong tâm của con voi chúa. Ngài thốt lên lời cảm hứng này:
Voi chúa đồng tình gật
Chú voi mang ngà dài
Vui độc cư trong rừng
Tâm ý thật hòa hợp.
Vin. Mv. 10:4; cf. Ud. 4:5
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Ngay sau khi Thế Tôn rời Kosambī, một tỳ-khưu đến gặp tôn giả Ānanda và nói: "Này hiền giả Ānanda, Thế Tôn đã thu dọn chỗ nghỉ, cầm lấy bát và y ngoài rồi cất bước ra đi một mình không có ai tháp tùng, cũng không thông báo cho các thị giả hay từ biệt Tăng đoàn tỳ-khưu."
"Này hiền giả, khi Thế Tôn làm vậy, có nghĩa là Ngài muốn sống một mình, và không ai được phép đi theo Ngài."
Một thời gian sau, một số tỳ-khưu đến gặp tôn giả Ānanda và nói: "Này hiền giả Ānanda, đã lâu rồi chúng tôi không được nghe Thế Tôn đích thân thuyết pháp. Chúng tôi rất muốn được nghe."
Vậy nên, tôn giả Ānanda cùng các tỳ-khưu ấy đi đến gặp Thế Tôn tại gốc cây sāla ở Pārileyyaka. Sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi sang một bên. Sau đó, Thế Tôn khích lệ họ bằng một thời pháp.
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sau khi Thế Tôn ở lại Pārileyyaka bao lâu tùy ý, Ngài thong dong cất bước đến Sāvatthī. Trải qua chuyến hành trình dài, cuối cùng Ngài cũng đến nơi, và Ngài vào ngự tại Kỳ Viên, tịnh xá của Cấp Cô Độc.
Trong khi đó, các cư sĩ tại gia ở Kosambī suy nghĩ: "Những tôn giả tỳ-khưu Kosambī này đang gây ra tác hại lớn cho chúng ta. Họ đã quấy rầy Thế Tôn đến mức Ngài phải bỏ đi. Chúng ta hãy ngừng đảnh lễ, đứng dậy chào, vái lạy hay đối xử cung kính với họ. Chúng ta đừng tôn vinh, kính trọng, sùng bái hay nể phục họ nữa, cũng đừng cúng dường thức ăn ngay cả khi họ đến khất thực. Như vậy, khi không nhận được sự tôn vinh, kính trọng, sùng bái hay nể phục từ chúng ta, khi họ liên tục bị phớt lờ, họ sẽ phải đi nơi khác, hoặc rời khỏi Tăng đoàn, hoặc đến sám hối với Thế Tôn."
Họ liền làm y như vậy. Kết quả là các tỳ-khưu Kosambī quyết định: "Này các hiền giả, chúng ta hãy đến Sāvatthī và giải quyết vụ kiện tụng này trước mặt Thế Tôn." Thế là họ thu dọn chỗ nghỉ, cầm lấy bát và y ngoài rồi lên đường đến Sāvatthī.
Tôn giả Sāriputta nghe tin họ đang đến. Vị ấy đến gặp Thế Tôn và hỏi: "Bạch Thế Tôn, có vẻ như những tỳ-khưu Kosambī ưa cãi vã, ẩu đả, tranh chấp, bất đồng và kiện tụng giữa Tăng đoàn đang đến Sāvatthī. Con phải đối xử với họ như thế nào, bạch Thế Tôn?"
"Hãy theo đúng Chánh pháp, này Sāriputta."
"Bạch Thế Tôn, làm sao con biết được đâu là Chánh pháp và đâu không phải là Chánh pháp?" "Có mười tám trường hợp để nhận biết một người nói điều không phải là Chánh pháp. Này Sāriputta, ở đây một tỳ-khưu chỉ ra điều không phải Chánh pháp là Chánh pháp và điều là Chánh pháp lại không phải Chánh pháp; vị ấy chỉ ra điều không phải Giới luật là Giới luật và điều là Giới luật lại không phải Giới luật; vị ấy chỉ ra điều Như Lai chưa từng nói là đã nói và điều Như Lai đã nói là chưa từng nói; vị ấy chỉ ra điều Như Lai không thực hành là có thực hành, và ngược lại; vị ấy chỉ ra điều Như Lai không công bố là có công bố, và ngược lại; vị ấy chỉ ra điều không phải là lỗi là lỗi và điều là lỗi lại không phải là lỗi; vị ấy chỉ ra một lỗi nhẹ là lỗi nặng và một lỗi nặng là lỗi nhẹ; vị ấy chỉ ra một lỗi còn dư tàn là không dư tàn và một lỗi không dư tàn là có dư tàn; vị ấy chỉ ra một lỗi nghiêm trọng là không nghiêm trọng và một lỗi không nghiêm trọng là nghiêm trọng. Người nói đúng Chánh pháp có thể được nhận biết theo cách ngược lại."
Tôn giả Mahā-Moggallāna, tôn giả Mahā-Kassapa, tôn giả Mahā-Kaccāna, tôn giả Mahā-Koṭṭhita, tôn giả Mahā-Kappina, tôn giả Mahā-Cunda, tôn giả Anuruddha, tôn giả Revata, tôn giả Upāli, tôn giả Ānanda và tôn giả Rāhula cũng nghe tin họ đang đến. Từng vị đều đến gặp Thế Tôn và nhận được cùng một lời chỉ dạy.
Mahāpajāpati Gotamī nghe chuyện, bà bèn đến gặp Thế Tôn và hỏi xem bà nên đối xử với họ như thế nào.
"Hãy lắng nghe Chánh pháp từ cả hai phía, này Gotamī. Sau khi nghe xong, hãy tán thành quan điểm, sở thích, ý kiến và phán quyết của những người nói đúng Chánh pháp. Những gì Tăng đoàn tỳ-khưu-ni cần mong đợi từ Tăng đoàn tỳ-khưu nên được mong đợi từ những người nói đúng theo Chánh pháp."
Anāthapiṇḍika và Visākhā, mẹ của Migāra, nghe chuyện và họ đến xin Thế Tôn lời khuyên. Ngài bảo họ: "Hãy cúng dường cho cả hai bên. Nhưng hãy tán thành quan điểm của những người nói đúng theo Chánh pháp."
Cuối cùng, các tỳ-khưu Kosambī cũng đến Sāvatthī. Tôn giả Sāriputta đến gặp Thế Tôn và hỏi: "Bạch Thế Tôn, có vẻ như các tỳ-khưu Kosambī đã đến Sāvatthī. Nên sắp xếp chỗ ở cho họ như thế nào ạ?"
"Hãy sắp xếp cho họ ở tách biệt nhau."
"Nhưng nếu không có đủ chỗ ở tách biệt, bạch Thế Tôn, thì phải làm sao?"
"Vậy thì hãy ngăn ra cho tách biệt rồi mới phân bổ cho họ, này Sāriputta. Tuy nhiên, ta tuyên bố rằng, trong mọi hoàn cảnh, không được phép từ chối chỗ nghỉ của một vị tỳ-khưu thâm niên — Bất cứ ai làm như vậy đều phạm lỗi tác ác."
"Nhưng, bạch Thế Tôn, còn về thức ăn và những thứ khác thì sao?"
"Thức ăn và những thứ khác phải được chia đều cho tất cả."
Bấy giờ, trong khi vị tỳ-khưu bị đình chỉ đang suy ngẫm về Giới luật, vị ấy chợt nhận ra: "Đó quả thực là một lỗi, không phải không có lỗi, mình đã phạm lỗi ... Mình đang bị đình chỉ. Mình đã bị đình chỉ bởi một hành động hợp pháp không thể bị bác bỏ và có đầy đủ hiệu lực." Sau đó, vị ấy đến gặp những người ủng hộ mình, kể lại điều này và nói: "Vậy xin các tôn giả hãy phục hồi tư cách cho tôi."
Những người ủng hộ liền đưa vị ấy đến gặp Thế Tôn, sau khi đảnh lễ, họ ngồi sang một bên. Họ kể lại những gì vị tỳ-khưu bị đình chỉ đã nói và hỏi: "Bạch Thế Tôn, chúng con nên làm thế nào?"
"Này các tỳ-khưu, đó quả thực là một lỗi chứ không phải không có lỗi, vị ấy đã phạm lỗi … vị ấy đang bị đình chỉ. Vị ấy đã bị đình chỉ bởi một hành động hợp pháp không thể bị bác bỏ và có đầy đủ hiệu lực. Vì tỳ-khưu đã phạm lỗi và bị đình chỉ ấy nay đã nhận ra lỗi của mình, các thầy có thể phục hồi tư cách cho vị ấy."
Sau khi nhóm ủng hộ đã phục hồi tư cách cho tỳ-khưu bị đình chỉ, họ đi đến gặp các tỳ-khưu đã ra lệnh đình chỉ và nói: "Thưa các hiền giả, về vụ việc đã gây ra tranh cãi và chia rẽ trong Tăng đoàn — vị tỳ-khưu ấy đã phạm lỗi, vị ấy đã bị đình chỉ; nay vị ấy đã nhận ra lỗi, và đã được phục hồi tư cách. Chúng ta hãy thực hiện một Tăng sự hòa giải trước Tăng đoàn để khép lại vấn đề này."
Thế rồi các tỳ-khưu đã ra lệnh đình chỉ đến gặp Thế Tôn và kể cho Ngài nghe những gì đã diễn ra. Tăng sự hòa giải được đề xuất đã được chấp thuận và quy trình thực hiện đã được thiết lập.
[Vin. Mv. 10:5](/link?q=vin.mv-10.5)