Skip to content

Chương 7

SỰ THÀNH LẬP NI ĐOÀN

NGƯỜI KỂ MỘT. Lời kể vừa rồi đã cho thấy Đức Phật đồng ý an cư mùa mưa tại Sāvatthi (Xá-vệ) 1 như thế nào. Vì vậy, nếu cách tính truyền thống về ba mùa an cư đầu tiên sau khi Giác ngộ là đúng, thì mùa an cư thứ tư được dành ở Kỳ Viên (Jeta's Grove). Đây là một câu chuyện có thể thuộc về thời kỳ này.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời, khi Thế Tôn đang trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta (Kỳ Viên), khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc), tôn giả Nanda (Nan-đà) - con trai của người dì mẫu của Thế Tôn - đã nói với một số tỳ-kheo rằng: “Này các hiền giả, tôi đang sống phạm hạnh trong sự bất mãn. Tôi không thể tiếp tục đời sống phạm hạnh nữa. Tôi sẽ từ bỏ sự thực hành và quay trở lại với những gì tôi đã bỏ lại phía sau.”

Sau đó, các vị tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Thế Tôn và kể lại chuyện này. Thế Tôn bảo một vị tỳ-kheo: “Lại đây, tỳ-kheo, hãy nhân danh ta nói với tỳ-kheo Nanda rằng: ‘Này hiền giả, Đạo sư gọi thầy.’”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” vị tỳ-kheo đáp lời. Rồi vị ấy đi đến chỗ tôn giả Nanda và truyền đạt lại thông điệp. Tôn giả Nanda đi đến chỗ Thế Tôn, Ngài liền hỏi: “Này Nanda, có đúng như người ta nói, rằng ông đang sống phạm hạnh trong sự bất mãn, rằng ông không thể tiếp tục đời sống phạm hạnh, và ông sẽ từ bỏ sự thực hành để quay trở lại với những gì ông đã bỏ lại phía sau không?”

“Dạ đúng, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng Nanda, vì sao lại thế?”

“Bạch Thế Tôn, khi con rời đi để từ bỏ đời sống tại gia, mỹ nhân họ Thích là Janapadakalyāṇī đã nhìn theo con, mái tóc nàng vén lên một nửa, và nàng nói: ‘Chàng hãy sớm quay về nhé, vương tử.’ Khi nhớ lại điều đó, con sống phạm hạnh trong sự bất mãn.”

Thế rồi Thế Tôn nắm lấy cánh tay tôn giả Nanda, và nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập hay gập cánh tay đang duỗi, hai thầy trò biến mất khỏi Kỳ Viên và xuất hiện giữa các vị chư thiên ở cõi Đao Lợi (Ba mươi ba). Lúc bấy giờ, có năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân như chân chim bồ câu đang đến hầu hạ Đế Thích (Sakka), Vua của các vị thần. Thế Tôn hỏi tôn giả Nanda: “Nanda, ông có thấy năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu kia không?”

“Dạ thấy, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ thế nào, Nanda, ai đáng yêu hơn, xinh đẹp hơn, quyến rũ hơn, mỹ nhân họ Thích Janapadakalyāṇī hay năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu này?”

“Bạch Thế Tôn, mỹ nhân họ Thích Janapadakalyāṇī chỉ giống như một con khỉ cái bị bỏng, bị xẻo mất mũi và tai khi đem so sánh với năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu này. Nàng ấy chẳng đáng kể chút nào; nàng ấy không thể sánh bằng họ; hoàn toàn không thể so sánh được. Năm trăm tiên nữ này đáng yêu, xinh đẹp và quyến rũ hơn gấp ngàn vạn lần.”

“Vậy thì hãy vui vẻ sống phạm hạnh đi, Nanda; hãy vui vẻ sống đi và ta bảo đảm ông sẽ có được năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu này.”

“Bạch Thế Tôn, nếu Ngài bảo đảm con sẽ có được điều đó, thì con sẽ vui vẻ sống đời phạm hạnh.”

Thế rồi Thế Tôn nắm lấy cánh tay tôn giả Nanda và cũng như trước, hai thầy trò biến mất khỏi cõi trời Đao Lợi và xuất hiện trở lại tại Kỳ Viên.

Các tỳ-kheo nghe đồn: “Có vẻ như tôn giả Nanda đang sống phạm hạnh vì các tiên nữ; bởi nghe đâu Thế Tôn đã bảo đảm cho thầy ấy có được năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu.” Thế là những người bạn đồng tu cư xử với thầy như một kẻ làm thuê bán mình: “Tôn giả Nanda có vẻ là một kẻ làm thuê đã bán mình, vì thầy ấy sống phạm hạnh vì các tiên nữ. Nghe đâu Thế Tôn đã bảo đảm cho thầy ấy có được năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu.”

Thầy trở nên bẽ mặt, xấu hổ và chán nản trước những lời nói của các bạn đồng tu. Vì vậy, thầy lui về sống một mình, lánh xa đám đông, tinh cần, nhiệt tâm và tự chủ, cho đến khi tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, ngay tại đây và bây giờ, thầy đã bước vào và an trú trong mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục tiêu mà vì nó các thiện nam tử đã chân chính xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà. Thầy trực tiếp nhận biết:

“Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh trở lại đời sống này nữa.” Và tôn giả Nanda đã trở thành một vị A-la-hán.

Khi đêm đã về khuya, một vị chư thiên với vẻ đẹp tuyệt trần, tỏa sáng rực rỡ khắp cả Kỳ Viên, đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ, vị ấy đứng sang một bên. Vị chư thiên nói:

“Bạch Thế Tôn, tôn giả Nanda, người em trai cùng cha khác mẹ của Thế Tôn, con trai của người dì mẫu, đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp, ngay tại đây và bây giờ đã bước vào và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu, do đoạn diệt các lậu hoặc.” Và Thế Tôn cũng đã tự mình biết rõ sự thật đó.

Cuối đêm hôm đó, tôn giả Nanda đi đến chỗ Thế Tôn. Thầy nói: “Bạch Thế Tôn, về việc Thế Tôn bảo đảm cho con có được năm trăm tiên nữ với đôi bàn chân bồ câu, con xin giải trừ lời hứa đó cho Ngài.”

“Ta đã dùng tâm mình để đọc thấu tâm ông rồi, Nanda. Các chư thiên cũng đã báo cho ta điều này. Vì vậy, khi tâm ông được giải thoát khỏi các lậu hoặc, thì ta cũng đã được giải trừ khỏi lời hứa của mình.” Và thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng ngữ sau:

Tỳ-kheo vượt bùn lầy
Nghiền nát gai dục vọng
Diệt trừ hết si mê
Khổ vui không lay động

Ud. 3:2

NGƯỜI KỂ MỘT. Mùa mưa tiếp theo — mùa an cư thứ năm được trải qua tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), thủ đô của Videha, một quốc gia nằm ở sườn đông nam của Kosala và trên bờ bắc sông Hằng. Đó là một liên minh được cai trị bởi một chế độ thủ lĩnh cai trị (quyền lực nằm trong tay một nhóm nhỏ), không phải là chế độ quân chủ.

NGƯỜI KỂ HAI. Trong những tháng sau đó, Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) lâm bệnh, và ngài qua đời với tư cách là một vị A-la-hán. Đức Phật lại một lần nữa về thăm quê hương.

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sự việc diễn ra như sau. Đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú giữa những người họ Thích tại khu vườn Nigrodha ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Bà Mahāpajāpati Gotamī (Ma-ha-ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di, bà là em gái của mẹ Đức Phật (dì ruột), vừa là mẹ nuôi của Đức Phật) đi đến chỗ Ngài. Bà đảnh lễ và đứng sang một bên. Rồi bà nói: “Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt đẹp nếu phụ nữ có thể được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.”

“Thôi đủ rồi, Gotamī, xin đừng thỉnh cầu việc xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà cho phụ nữ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.”

Bà thỉnh cầu lần thứ hai và lần thứ ba nhưng đều bị từ chối. Rồi bà nghĩ: “Thế Tôn không cho phép điều đó,” và bà buồn bã, không vui. Bà đảnh lễ Thế Tôn rồi rời đi, giữ Ngài ở phía bên phải mình.

Sau khi ở lại Kapilavatthu một thời gian tùy ý, Thế Tôn bắt đầu lên đường du hành dần đến Vesālī. Khi đến nơi, Ngài vào trú tại Trùng Các Giảng Đường trong Đại Lâm.

Trong khi đó, bà Mahāpajāpati Gotamī đã cạo bỏ mái tóc và khoác lên mình chiếc y vàng. Cùng với một số phụ nữ họ Thích, bà lên đường đến Vesālī. Khi đến nơi, bà đi đến Trùng Các Giảng Đường trong Đại Lâm, và đứng ở ngoài hiên. Đôi chân bà sưng tấy, tay chân phủ đầy bụi đất, bà buồn bã và đau khổ, nước mắt tuôn rơi và thút thít khóc. Khi bà đang đứng như vậy, tôn giả Ānanda nhìn thấy bà. Thầy hỏi: “Này Gotamī, sao bà lại đứng ngoài hiên với bộ dạng như thế này?”

“Thưa tôn giả Ānanda, đó là vì Thế Tôn không cho phép phụ nữ được xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.”

“Vậy thì, Gotamī, hãy đợi ở đây cho đến khi tôi thưa chuyện này với Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, kể lại những gì đã xảy ra và nói: “Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt đẹp nếu phụ nữ có thể được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.”

“Thôi đủ rồi, Ānanda, đừng thỉnh cầu việc xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà cho phụ nữ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.”

Thầy thỉnh cầu lần thứ hai và lần thứ ba nhưng đều bị từ chối. Rồi thầy nghĩ: “Thế Tôn không cho phép điều đó. Nhưng giả sử mình hỏi Thế Tôn theo một cách khác xem sao?” Thế rồi thầy thưa: “Bạch Thế Tôn, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, phụ nữ có khả năng chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm hay A-la-hán không?”

“Họ có khả năng đó, Ānanda.” 2

“Nếu vậy, bạch Thế Tôn, vì bà Mahāpajāpati Gotamī đã có công lao to lớn đối với Thế Tôn, với tư cách là dì, bà là người chăm sóc, là dưỡng mẫu, là người cho bú — bà đã cho Thế Tôn bú mớm khi mẹ ruột của Ngài qua đời — vì lẽ đó, bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt đẹp nếu phụ nữ được phép xuất gia.”

“Này Ānanda, nếu Mahāpajāpati Gotamī chấp nhận tám điều tôn kính, thì đó sẽ được coi là sự thọ giới cụ túc của bà. Đây là tám điều đó. Một tỳ-kheo-ni dù đã thọ giới một trăm năm cũng phải đảnh lễ, đứng dậy chào, tôn kính và chào hỏi lễ phép một vị tỳ-kheo dù mới thọ giới trong ngày hôm đó. Tỳ-kheo-ni không được an cư mùa mưa ở nơi không có tỳ-kheo. Mỗi nửa tháng, tỳ-kheo-ni phải mong đợi hai điều từ Tăng đoàn tỳ-kheo: việc ấn định ngày Bố-tát mỗi nửa tháng, và một chuyến viếng thăm để giáo giới. Vào cuối mùa an cư, tỳ-kheo-ni phải thỉnh cầu sự góp ý từ cả hai Tăng đoàn trong ba trường hợp, đó là, có bất cứ hành vi sai trái nào của mình bị nhìn thấy, nghe thấy hay nghi ngờ hay không. Khi tỳ-kheo-ni phạm một lỗi nặng, vị ấy phải chịu hình phạt sám hối trước cả hai Tăng đoàn. Một nữ tu tập sự muốn thọ giới cụ túc phải thỉnh cầu từ cả hai Tăng đoàn và sau khi đã được huấn luyện sáu giới pháp trong hai năm. Tỳ-kheo-ni tuyệt đối không được chỉ trích hay lăng mạ tỳ-kheo dưới bất kỳ hình thức nào. Từ hôm nay trở đi, tỳ-kheo-ni không được phép thuyết giảng cho tỳ-kheo, nhưng tỳ-kheo được phép thuyết giảng cho tỳ-kheo-ni. Tám điều này phải được tôn vinh, tôn trọng, sùng kính và tôn thờ, và không được vi phạm cho đến trọn đời. Nếu Mahāpajāpati Gotamī chấp nhận tám điều tôn kính này, thì đó sẽ được coi là sự thọ giới cụ túc của bà.”

Khi tôn giả Ānanda đã tiếp nhận tám điều tôn kính này từ Thế Tôn, thầy đi đến chỗ Mahāpajāpati Gotamī và truyền đạt lại những lời Thế Tôn đã dạy.

"Thưa tôn giả Ānanda, giống như một người phụ nữ — hay một người đàn ông — còn trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang điểm, vừa gội đầu xong, nhận được một vòng hoa sen, hoa nhài hay hoa hồng 3, người đó sẽ đưa cả hai tay ra nhận lấy và đội lên đầu; cũng vậy, tôi xin đón nhận tám điều tôn kính này và nguyện không vi phạm cho đến trọn đời."

Sau đó, tôn giả Ānanda quay lại chỗ Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotamī đã chấp nhận tám điều tôn kính. Bà ấy nay đã được thọ giới cụ túc."

"Này Ānanda, nếu phụ nữ không được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, thì đời sống phạm hạnh đã tồn tại rất lâu, đời sống phạm hạnh đã kéo dài một ngàn năm. Nhưng nay, vì phụ nữ đã được xuất gia, đời sống phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, đời sống phạm hạnh sẽ chỉ kéo dài năm trăm năm.

"Giống như những gia tộc có nhiều phụ nữ và ít đàn ông thì dễ bị trộm cướp phá hoại, cũng vậy, trong Pháp và Luật mà phụ nữ được xuất gia, đời sống phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài. Giống như khi căn bệnh nấm mốc xám rơi xuống một cánh đồng lúa đang chín, cánh đồng lúa đang chín đó sẽ không tồn tại được lâu — giống như khi căn bệnh rỉ sắt đỏ rơi xuống một ruộng mía đang chín, ruộng mía đang chín đó sẽ không tồn tại được lâu — cũng vậy, trong Pháp và Luật mà phụ nữ được xuất gia, đời sống phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài. Như một người xây sẵn một bờ đê để nước từ hồ chứa lớn không gây ra lũ lụt, ta cũng vậy, ta đã ban hành trước tám điều tôn kính này cho các tỳ-kheo-ni để họ không vi phạm cho đến trọn đời.”

Vin. Cv. 10:1; A. 8:51

NGƯỜI KỂ HAI. Chuyện về sau, sau khi bà xin chỉ dẫn thọ giới cho những phụ nữ họ Thích đã đi cùng mình, Đức Phật hướng dẫn các tỳ-kheo truyền giới cụ túc cho họ làm tỳ-kheo-ni. Những tỳ-kheo-ni được thọ giới cụ túc sau đó lại thắc mắc rằng: không giống như họ, bà Mahāpajāpati chưa được thọ giới cụ túc. Bà đã thông qua Trưởng lão Ānanda để thỉnh cầu Đức Phật, và Ngài đã giải quyết cuộc tranh luận bằng cách nhắc lại rằng việc bà chấp nhận tám điều tôn kính chính là sự thọ giới cụ túc trong trường hợp riêng của bà. Sau đó, bà lại đến gặp Trưởng lão Ānanda, nhờ thầy thỉnh cầu Đức Phật cho phép tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đảnh lễ những vị lớn hạ hơn bất kể họ thuộc cộng đồng nào trong hai cộng đồng. Câu trả lời của Đức Phật là không một tỳ-kheo nào được đảnh lễ một tỳ-kheo-ni.

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Một lần khác, bà Mahāpajāpati Gotamī đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Ngài, bà đứng sang một bên và nói: “Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt đẹp nếu Thế Tôn có thể giáo giới vắn tắt cho con, để sau khi nghe Pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, lánh xa đám đông, tinh cần, nhiệt tâm và tự chủ.”

“Này Gotamī, những pháp nào mà bà biết rõ: ‘Những pháp này dẫn đến tham dục, không dẫn đến ly tham; dẫn đến hệ lụy, không dẫn đến tháo gỡ; dẫn đến tích lũy, không dẫn đến buông xả; dẫn đến tham vọng, không dẫn đến khiêm cung; dẫn đến bất mãn, không dẫn đến biết đủ; dẫn đến tụ tập, không dẫn đến viễn ly; dẫn đến lười biếng, không dẫn đến tinh tấn; dẫn đến xa hoa, không dẫn đến giản dị,’ đối với những pháp đó, bà có thể hoàn toàn quả quyết: ‘Đây không phải là Giáo Pháp, đây không phải là Luật, đây không phải là lời dạy của Đạo sư.’ Nhưng những pháp nào mà bà biết rõ: ‘Những pháp này dẫn đến ly tham, không dẫn đến tham dục; dẫn đến tháo gỡ, không dẫn đến hệ lụy; dẫn đến buông xả, không dẫn đến tích lũy; dẫn đến khiêm cung, không dẫn đến tham vọng; dẫn đến biết đủ, không dẫn đến bất mãn; dẫn đến viễn ly, không dẫn đến tụ tập; dẫn đến tinh tấn, không dẫn đến lười biếng; dẫn đến giản dị, không dẫn đến xa hoa,’ đối với những pháp đó, bà có thể hoàn toàn quả quyết: ‘Đây chính là Pháp, đây chính là Luật, đây chính là lời dạy của Đạo sư.’”

Vin. Cv. 10:5; A. 8:53