Chương 5
HAI VỊ ĐẠI ĐỆ TỬ
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sự việc diễn ra như sau. Du sĩ Sañjaya đang sống ở thành Rājagaha (Vương Xá) cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo, gồm hai trăm năm mươi người. Và Sāriputta (Xá-lợi-phất) cùng Moggallāna (Mục-kiền-liên) đang sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng ai đạt được Bất tử trước thì phải báo cho người kia biết. Lúc bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Assaji (Ác-bệ) đắp y, mang bát và y ngoài, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Dáng vẻ của ngài khi đi truyền cảm hứng đầy niềm tin, dù là bước tới hay bước lui, nhìn thẳng hay nhìn sang bên, co tay hay duỗi tay, ánh mắt ngài đều nhìn xuống và ngài di chuyển thật khoan thai. Du sĩ Sāriputta nhìn thấy ngài đang đi khất thực trong thành Rājagaha như vậy, liền nghĩ: "Trên đời này có những vị A-la-hán, những người đã đạt được đạo quả A-la-hán, và vị tỳ-kheo này là một trong số đó. Hay là mình đến gần vị ấy và hỏi xem vị ấy đã xuất gia theo ai, ai là thầy của vị ấy, hoặc vị ấy tin theo Giáo pháp của ai." Nhưng rồi ông lại nghĩ: "Bây giờ không phải lúc để hỏi vị tỳ-kheo này khi ngài đang đi khất thực giữa các nhà. Hay là mình đi theo sau ngài để dò xem những người tìm đạo đã khám phá ra điều gì?"
Khi Tôn giả Assaji đi khất thực xong, ngài rời thành Rājagaha với thức ăn trong bát. Lúc đó, du sĩ Sāriputta tiến đến và chào ngài. Sau khi những lời chào hỏi lịch sự thường lệ kết thúc, ông đứng sang một bên và nói: "Này hiền giả, các căn của ngài thật thanh tịnh, sắc da của ngài thật trong sáng và rạng rỡ. Ngài đã xuất gia theo ai? Hay ai là thầy của ngài? Hoặc ngài tin theo Giáo pháp của ai?"
"Này hiền giả, có vị Đại Sa-môn, con trai dòng họ Thích-ca, người đã xuất gia từ gia tộc Thích-ca. Tôi đã xuất gia theo Đức Thế Tôn ấy. Ngài là thầy của tôi. Chính Giáo pháp của Đức Thế Tôn ấy là điều tôi tin theo."
"Nhưng thầy của tôn giả nói gì, ngài ấy dạy điều gì?"
"Này hiền giả, tôi chỉ mới xuất gia gần đây, tôi cũng chỉ mới đến với Pháp và Luật này. Tôi không thể giảng giải chi tiết Giáo pháp cho ông. Tuy nhiên, tôi sẽ nói tóm tắt ý nghĩa cho ông nghe."
Rồi Sāriputta nói: "Được thôi, hiền giả.
Nói nhiều hay nói ít Tùy ý ngài lựa chọn; Chỉ cần nói ý chính. Vì tôi cần ý chính Chưa cần chi tiết đâu."
Tôn giả Assaji đã nói cho du sĩ Sāriputta bản tóm lược Giáo pháp này:
Đấng Như Lai đã chỉ rõ nguyên nhân Của những pháp sinh ra từ nhân duyên; Và cả cách làm chúng diệt tận: Đó là giáo lý mà vị Đại Sa-môn thuyết giảng.
Ngay khi du sĩ Sāriputta nghe lời tuyên thuyết Giáo pháp này, cái nhìn Pháp nhãn thanh tịnh, không tì vết đã khởi lên trong ông: Mọi thứ có sinh ra đều phải có diệt đi.
Đây chính là chân lý: dù chỉ có thế thôi, Ngài đã đạt đến cảnh giới không còn sầu khổ Mà chúng ta trong vô lượng kiếp Đã để trôi qua mà không nhìn thấy.
Du sĩ Sāriputta đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna thấy ông đang đi tới. Ông nói: "Này hiền giả, các căn của ông thật thanh tịnh, sắc da của ông thật trong sáng và rạng rỡ. Có phải ông đã tìm ra Bất tử rồi không?" "Đúng vậy, hiền giả, tôi đã tìm ra Bất tử." "Nhưng làm sao ông tìm ra được, hiền giả?"
Du sĩ Sāriputta kể lại những gì đã xảy ra. Khi du sĩ Moggallāna nghe lời tuyên thuyết Giáo pháp đó—
Đấng Như Lai chỉ rõ
Nhân của pháp duyên sinh
Và cách diệt tận chúng
Đại Sa-môn dạy thế—
thì cái nhìn Pháp nhãn thanh tịnh, không tì vết đã khởi lên trong ông: Mọi thứ có sinh ra đều phải có diệt đi.
Đây chính là chân lý
Dù chỉ có thế thôi
Đạt cảnh giới vô sầu
Mà trong muôn ngàn kiếp
Ta lỡ để trôi qua
Mà không hề nhìn thấy
Rồi Moggallāna nói: "Này hiền giả, chúng ta hãy đến gặp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là thầy của chúng ta."
"Nhưng này hiền giả, hai trăm năm mươi du sĩ này đang sống ở đây nương tựa vào chúng ta, trông cậy vào chúng ta. Phải hỏi ý kiến họ trước đã. Họ sẽ làm theo những gì họ thấy là đúng."
Họ cùng nhau đi đến chỗ các du sĩ và nói với họ: "Này các hiền giả, chúng tôi sẽ đi đến gặp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là thầy của chúng tôi."
"Chúng tôi sống nương tựa vào hai tôn giả, trông cậy vào hai tôn giả. Nếu hai ngài đi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của vị Đại Sa-môn, thì chúng tôi cũng sẽ làm như vậy."
Thế là Sāriputta và Moggallāna đi đến gặp du sĩ Sañjaya và nói cho ông biết họ định làm gì.
"Thôi nào các hiền giả, đừng đi. Ba chúng ta hãy cùng nhau dẫn dắt hội chúng này."
Lần thứ hai và lần thứ ba họ nói với ông điều tương tự và nhận được cùng một câu trả lời.
Sau đó, Sāriputta và Moggallāna cùng hai trăm năm mươi du sĩ đi đến Trúc Lâm. Nhưng máu nóng trào ra từ miệng du sĩ Sañjaya.
Đức Thế Tôn nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna đang đi tới từ đằng xa. Khi thấy họ, ngài bảo các tỳ-kheo: "Hai người bạn Kolita và Upatissa đang đến kìa. Hai người này sẽ là hai vị đại đệ tử của ta, một cặp đôi xuất chúng."
Thế rồi Bậc Đạo Sư
Đã tuyên bố về họ
Những người được giải thoát
Trong cõi trí tuệ sâu
Diệt tận gốc sinh tồn
Trước khi đến Trúc Lâm
Ngài nói: "Hai bạn đến
Kolita cùng với
Upatissa kìa
Sẽ là đại đệ tử
Một cặp đôi xuất chúng"
Sāriputta và Moggallāna tiến đến gần Đức Thế Tôn và phủ phục dưới chân ngài. Họ thưa: "Bạch Thế Tôn, chúng con mong muốn được xuất gia và thọ giới dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn."
"Đến đây, các tỳ-kheo," Đức Thế Tôn nói, "Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng; hãy sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau." Và đó chính là sự thọ giới của các tôn giả ấy.
Lúc bấy giờ, một số thanh niên danh giá xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) đang sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn. Mọi người không hài lòng, họ xì xầm và phản đối: "Sa-môn Gotama (Cù-đàm) đang tạo ra cảnh không con và góa bụa, ông ta đang xóa sổ các gia tộc. Đã có một ngàn đạo sĩ bện tóc xuất gia theo ông ta, rồi hai trăm năm mươi du sĩ này, và bây giờ những thanh niên danh giá này cũng đi sống đời phạm hạnh theo Sa-môn Gotama!" Khi thấy các tỳ-kheo, họ chế nhạo bằng những câu kệ này:
Sa-môn Gotama
Đến thành Magadha
Dẫn nhóm Sañjaya
Hôm nay dẫn ai đây?
Các tỳ-kheo nghe vậy, liền đi đến gặp Đức Thế Tôn và kể lại cho ngài. Ngài nói: "Chuyện này sẽ không kéo dài đâu. Nó chỉ kéo dài bảy ngày thôi. Hết bảy ngày nó sẽ lắng xuống. Vì vậy, khi người ta chế nhạo các vị bằng câu kệ đó, các vị có thể đáp trả họ bằng câu kệ này:
'Bậc Đại Hùng, Như Lai
Dẫn dắt bằng Chánh pháp
Khi dẫn bằng Chánh pháp
Sao lại phải ghen tị?' "
Thế là khi người dân chế nhạo họ, họ đáp trả lại người dân. Rồi mọi người bắt đầu suy nghĩ: "Có vẻ như các sa-môn là con trai dòng họ Thích-ca dẫn dắt bằng Chánh pháp, chứ không phải trái với Chánh pháp." Và sự việc kéo dài bảy ngày, đến hết bảy ngày thì lắng xuống.
Vin. Mv.1:23-24
NGƯỜI KỂ HAI. Trưởng lão Moggallāna chứng quả A-la-hán bảy ngày sau khi đến với Đức Phật. Nhưng Trưởng lão Sāriputta đã dành nửa tháng để quán chiếu và phân tích bằng tuệ giác mọi tầng mức tâm thức. Câu chuyện ngài trở thành A-la-hán được kể như sau.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Khi Đức Thế Tôn đang trú tại thành Rājagaha, trong hang Sūkarakhatā (Động Heo Đào), du sĩ Dighanakha (Trường Trảo) đi đến gặp ngài và chào hỏi. Sau đó ông nói: "Thưa Sa-môn Gotama, học thuyết và quan điểm của tôi là thế này: 'Tôi không ưa thích bất cứ điều gì.'"
"Này Aggivessana, quan điểm này của ông, 'Tôi không ưa thích bất cứ điều gì': ông có không ưa thích cả quan điểm đó không?"
"Thưa Sa-môn Gotama, cho dù tôi có ưa thích quan điểm này của mình, thì cũng thế thôi, cũng thế thôi."
"Này, trên đời có rất nhiều người nói 'thì cũng thế thôi' nhưng họ không những không từ bỏ quan điểm đó mà còn bám chấp vào một quan điểm khác nữa. Và trên đời có rất ít người nói 'thì cũng thế thôi' mà thực sự từ bỏ quan điểm đó mà không bám chấp vào một quan điểm khác.
"Một số sa-môn và bà-la-môn giữ học thuyết và quan điểm này: 'Tôi ưa thích tất cả'; và một số thì thế này: 'Tôi không ưa thích bất cứ điều gì'; và một số thì thế này: 'Tôi ưa thích một số thứ, tôi không ưa thích một số thứ.' Bây giờ, quan điểm của những người có học thuyết và quan điểm 'Tôi ưa thích tất cả' thì gần với tham ái, với trói buộc, với say đắm, với chấp nhận, với bám chấp. Nhưng quan điểm của những người có học thuyết và quan điểm 'Tôi không ưa thích bất cứ điều gì' thì gần với không tham ái, không trói buộc, không say đắm, không chấp nhận, không bám chấp."
Nghe vậy du sĩ Dighanakha nhận xét: "Sa-môn Gotama tán dương quan điểm của tôi; Sa-môn Gotama đề cao quan điểm của tôi."
"Và quan điểm của những người có học thuyết và quan điểm 'Tôi ưa thích một số thứ, tôi không ưa thích một số thứ' thì, đối với những gì họ ưa thích, nó gần với tham ái, với trói buộc, với say đắm, với chấp nhận, với bám chấp, trong khi, đối với những gì họ không ưa thích, nó gần với không tham ái, không say đắm, không chấp nhận, không bám chấp.
"Một người trí trong số các sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm 'Tôi ưa thích tất cả' sẽ suy xét thế này: 'Quan điểm của ta là ta ưa thích tất cả. Nhưng nếu ta cố chấp hiểu sai và khăng khăng giữ lấy nó, nói rằng "chỉ có điều này là đúng; mọi thứ khác đều sai," thì ta sẽ xung đột với cả hai nhóm kia: với sa-môn hoặc bà-la-môn có học thuyết và quan điểm "Tôi không ưa thích bất cứ điều gì" và với sa-môn hoặc bà-la-môn có học thuyết hoặc quan điểm "Tôi ưa thích một số thứ, tôi không ưa thích một số thứ." Ta sẽ xung đột với hai nhóm này. Và khi có xung đột, sẽ có tranh cãi. Khi có tranh cãi, sẽ có cãi vã. Và khi có cãi vã, sẽ có tổn hại.'
"Khi lường trước được điều đó, người ấy từ bỏ quan điểm đó mà không bám chấp vào một quan điểm khác. Đó là cách những quan điểm này được từ bỏ và buông xả."
NGƯỜI KỂ HAI. Đoạn văn tương tự được lặp lại cho "những người trí" có quan điểm "Tôi không ưa thích bất cứ điều gì" và "Tôi ưa thích một số thứ, tôi không ưa thích một số thứ."
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. "Này Aggivessana, thân thể có hình sắc vật lý này được cấu tạo từ bốn đại (đất, nước, lửa và gió); nó được sinh ra bởi cha mẹ và được nuôi dưỡng bằng cơm bánh; nó chịu sự vô thường, phải xoa bóp và chà xát, phải tan rã và hủy diệt. Nó phải được xem là vô thường, là khổ đau, là một khối u, là một mũi tên, là một tai họa, là một căn bệnh, là thứ xa lạ, là thứ đang tan rã, là trống rỗng, là vô ngã. Khi xem xét nó như vậy, người ấy từ bỏ ham muốn và ái luyến đối với nó, cũng như thói quen coi nó là nền tảng tất yếu cho mọi suy diễn của mình. 1
"Lại có ba loại cảm thọ: thọ hỷ (cảm giác dễ chịu), thọ khổ (cảm giác khó chịu), và thọ bất khổ bất lạc (cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu). Khi một người cảm nhận bất kỳ một trong ba cảm thọ này, người ấy không cảm nhận hai cảm thọ kia. Thọ hỷ là vô thường, bị tạo tác, do duyên sinh, chịu sự cạn kiệt, suy tàn, phai nhạt và đoạn diệt. Thọ khổ và thọ trung tính cũng giống như vậy.
"Khi một vị thánh đệ tử được nghe giáo pháp chân chính thấy được như vậy, vị ấy trở nên ly tham đối với thọ hỷ, thọ khổ và thọ trung tính. Nhờ ly tham, tham ái phai nhạt. Với sự phai nhạt của tham ái, vị ấy được giải thoát. Khi tâm được giải thoát, trí tuệ khởi lên: 'Đã được giải thoát.' Vị ấy hiểu rõ: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa.' Một vị tỳ-kheo có tâm giải thoát như vậy không đứng về phe nào, không tranh cãi với ai, và vị ấy sử dụng ngôn ngữ thông thường trên thế gian nhưng không bị hiểu lầm hay chấp trước."
Trong lúc đó, Tôn giả Sāriputta đang đứng phía sau Đức Thế Tôn để quạt cho ngài. Rồi ngài nghĩ: "Đức Thế Tôn, Bậc Thiện Thệ, dường như đang nói bằng trí tuệ trực tiếp về sự từ bỏ và buông xả những pháp này." Và khi ngài suy quán như vậy, tâm ngài được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không còn bám chấp.
Trong khi đó, cái nhìn Pháp nhãn thanh tịnh, không tì vết đã khởi lên trong du sĩ Dighanakha... Ông nói: "... Tôi xin quy y Sa-môn Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng."
NGƯỜI KỂ HAI. Trong thời gian này, Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) đã cử Kāludāyī (Ca-lưu-đà-di), con trai của một vị đại thần, đến Rājagaha để thuyết phục con trai mình là Đức Phật về thăm Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Trước khi thông báo sứ mệnh của mình, Kāḷudāyī đã xuất gia làm tỳ-kheo. Tuy nhiên, vào cuối mùa đông—mùa đông đầu tiên sau khi Đức Phật giác ngộ—ông đã thông báo sứ mệnh của mình bằng những vần kệ này nhằm thuyết phục Đức Phật thực hiện chuyến đi.
NGƯỜI TỤNG KỆ.
Bạch ngài, cây rực rỡ
Đỏ ối như than hồng
Mong chờ ngày kết trái
Rũ bỏ lớp màn xanh
Bừng lên ngọn lửa đỏ
Đã đến lúc, Đại Hùng
Bậc nếm hương Chân lý
Cây nở hoa tuyệt đẹp
Làm say đắm lòng người
Tỏa hương khắp bốn phương
Lá rụng chờ kết trái
Đã đến lúc, Đại Hùng
Lên đường rời nơi đây
Mùa này thật tươi đẹp
Rất thích hợp du hành
Trời không lạnh không nóng
Để họ Thích, Câu-ly
Thấy ngài hướng về tây
Vượt qua sông Rô-hi 2
Cày ruộng vì hy vọng
Gieo hạt vì hy vọng
Thương nhân vượt biển cả
Vì hy vọng làm giàu
Ôi mong sao hy vọng
Của con được thành công!Hết lần này lần khác
Gieo hạt giống xuống đồng
Hết lần này lần khác
Vua trời ban cơn mưa
Hết lần này lần khác
Người nông phu cày cấy
Hết lần này lần khác
Vương quốc gặt lúa ngô
Hết lần này lần khác
Khất sĩ đi khất thực
Hết lần này lần khác
Người rộng lượng cúng dường
Hết lần này lần khác
Nhờ cúng dường bố thí
Hết lần này lần khác
Họ sinh về cõi trờiDù sinh vào dòng dõi
Hay gia tộc thế nào
Một Bậc Đại Anh Hùng
Bậc sở hữu tuệ giác
Sẽ làm rạng danh nó
Đến tận bảy đời sau—Ngài vĩ đại hơn thần
Con tin ngài làm được
Hơn thế rất nhiều lần
Vì từ "Đấng Như Lai"
Đã ứng nghiệm nơi ngài
Thag. 527-33
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sau khi Đức Thế Tôn lưu lại Rājagaha bao lâu tùy ý, ngài lên đường đến Kapilavatthu. Du hành qua từng chặng, cuối cùng ngài cũng đến nơi, và ngài nghỉ lại tại Công viên Nigrodha. Vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y ngoài, đi đến dinh thự của Suddhodana dòng Thích-ca, và tại đó ngài ngồi xuống một chỗ đã được chuẩn bị sẵn.
NGƯỜI KỂ MỘT. Lời kể về chuyến viếng thăm này trong Kinh tạng rất ngắn gọn đến mức đột ngột. Vì vậy, trước khi tiếp tục, một vài chi tiết từ Chú giải sẽ làm cho tình huống trở nên rõ ràng hơn.
NGƯỜI KỂ HAI. Khi Đức Phật đến Kapilavatthu, những người trong gia tộc Thích-ca, vốn nổi tiếng kiêu hãnh, không muốn đảnh lễ ngài. Do đó, ngài đã thi triển Song Thông, làm xuất hiện đồng thời những tia lửa và nước từ khắp các chi trên cơ thể ngài. Tiếp theo đó là bài thuyết giảng về Bản sanh Vessantara. Sau khi thọ nhận bữa ăn trang trọng đầu tiên tại hoàng cung của vua cha, ngài thuyết giảng Bản sanh Dhammapāla, và nhà vua đã đạt đến quả vị thứ ba, tức là quả vị cận kề cuối cùng (ông qua đời với tư cách là một vị A-la-hán khoảng bốn năm sau đó). Cùng lúc đó, hoàng hậu Mahāpajāpati (Ma-ha-ba-xà-ba-đề), mẹ của Thái tử Nanda (Nan-đà) và là dì của Đức Phật, đã đạt được quả vị đầu tiên (Tu-đà-hoàn). Chính ngày hôm đó đã được chọn để tổ chức lễ kỷ niệm đánh dấu cuộc hôn nhân sắp tới của Thái tử Nanda, người con trai duy nhất của Hoàng hậu Mahāpajāpati. Lúc bấy giờ, khi Đức Phật đứng dậy ra về, ngài đưa bát cho Thái tử Nanda cầm rồi rời đi. Không biết phải làm sao, Thái tử Nanda bưng bát đi theo ngài, và khi ông rời đi, người vợ sắp cưới của ông gọi với theo: "Chàng hãy sớm quay lại nhé, Thái tử." Khi họ đến chỗ ở của Đức Phật, Đức Phật hỏi ông có muốn xuất gia không. Vì lòng tôn kính hơn là thực sự muốn, ông đã đồng ý. Vào ngày thứ bảy, Đức Phật lại dùng bữa tại hoàng cung của vua cha.
NGƯỜI KỂ MỘT. Bây giờ, câu chuyện trong Kinh tạng tiếp tục.
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Mẹ của Thái tử Rāhula (La-hầu-la) lúc đó nói với Thái tử Rāhula: "Đó là cha của con, Rāhula. Hãy đến và xin phần gia tài của con đi."
Thế là Thái tử Rāhula đi đến chỗ Đức Thế Tôn và đứng trước ngài: "Bóng của ngài thật dễ chịu, thưa sa-môn."
Rồi Đức Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Thái tử Rāhula đi theo sau Đức Thế Tôn, nói: "Hãy cho con phần gia tài của con, thưa sa-môn; hãy cho con phần gia tài của con, thưa sa-môn."
Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta: "Vậy thì, Sāriputta, hãy cho đứa trẻ này xuất gia." 3
"Bạch Thế Tôn, con phải cho Thái tử Rāhula xuất gia như thế nào?" Đức Thế Tôn bèn nhân lý do và cơ hội này để thuyết một bài pháp và ngài bảo các tỳ-kheo như sau: "Ta cho phép truyền giới xuất gia bằng Tam Quy. Nhưng phải được thực hiện theo cách này. Trước tiên phải cạo bỏ râu tóc và đắp y vàng. Sau đó, người sắp xuất gia phải vắt y sang một bên vai, và sau khi đảnh lễ dưới chân các tỳ-kheo, người ấy phải quỳ xuống, chắp tay đưa lên và nói thế này: 'Con xin quy y Phật. Con xin quy y Pháp. Con xin quy y Tăng. Lần thứ hai … Lần thứ ba …'"
Sau đó Tôn giả Sāriputta đã cho Thái tử Rāhula xuất gia. Lúc bấy giờ, Suddhodana dòng Thích-ca đi đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, ông ngồi xuống một bên. Ông nói: "Tôi xin Đức Thế Tôn một ân huệ."
"Các Đấng Như Lai đã bỏ lại những ân huệ phía sau rồi, Gotama."
"Bạch Thế Tôn, điều này là được phép và không có lỗi gì."
"Vậy hãy nói đi, Gotama."
"Bạch Thế Tôn, tôi đã chịu nỗi đau không nhỏ khi Đức Thế Tôn xuất gia. Rồi đến Nanda. Đến Rāhula thì quả là quá sức chịu đựng. Bạch Thế Tôn, tình thương dành cho con cái cắt vào lớp da ngoài; cắt qua lớp da ngoài, nó cắt vào lớp da trong; cắt qua lớp da trong, nó cắt vào thịt; cắt qua thịt, nó cắt vào gân; cắt qua gân, nó cắt vào xương; cắt qua xương, nó chạm đến tủy và nằm lại ở đó. Bạch Thế Tôn, sẽ thật tốt nếu các tôn giả không cho phép xuất gia khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ."
Đức Thế Tôn đã hướng dẫn, khích lệ, truyền cảm hứng và động viên Suddhodana dòng Thích-ca bằng một bài pháp. Sau đó, Suddhodana dòng Thích-ca đứng dậy khỏi chỗ ngồi, và sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, ông rời đi, đi nhiễu quanh ngài theo hướng bên phải.
Đức Thế Tôn bèn nhân lý do và cơ hội này để thuyết một bài pháp và ngài bảo các tỳ-kheo như sau: "Này các tỳ-kheo, các vị không được cho trẻ em xuất gia khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ. Nếu ai làm điều này, người đó phạm tội tác ác (đột-kiết-la)."
Vin. Mv. Kh. 1:54
NGƯỜI KỂ MỘT. Truyền thống cho rằng quyết định từ bỏ đời sống thế tục của Ānanda (A-nan), em họ của Đức Phật, và những người khác được đưa ra vào thời điểm của chuyến viếng thăm này. Đức Phật đã rời khỏi Kapilavatthu nhưng vẫn đang ở các khu vực phía bắc của vương quốc Kosala (Kiều-tát-la). Trong khi đó, hai sự kiện sau đây có thể đã xảy ra vào khoảng thời gian này, mặc dù không có dấu hiệu chắc chắn nào về thời điểm chính xác của chúng.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời nọ, Đức Thế Tôn đang du hành qua vương quốc Kosala cùng với Tôn giả Nāgasamāla làm tỳ-kheo thị giả. Trên đường đi, Tôn giả Nāgasamāla nhìn thấy một ngã ba đường. Ngài bạch với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, đường kia kìa; chúng ta hãy đi đường đó."
Khi nghe vậy, Đức Thế Tôn đáp: "Đường này cơ, Nāgasamāla. Chúng ta hãy đi đường này."
Lần thứ hai và lần thứ ba, Tôn giả Nāgasamāla nói điều tương tự và nhận được cùng một câu trả lời. Sau đó, ngài đặt y bát của Đức Thế Tôn xuống đất và rời đi. Khi ngài đi dọc theo con đường đó, bọn cướp xuất hiện, chúng đánh đấm, đá ngài, làm vỡ bát và xé rách chiếc y chắp vá của ngài. Sau đó, ngài trở về gặp Đức Thế Tôn với chiếc bát vỡ và chiếc y rách tơi tả, rồi kể lại cho ngài nghe chuyện đã xảy ra. Hiểu được ý nghĩa của chuyện này, Đức Thế Tôn bèn thốt lên lời cảm hứng ngữ này:
Người trí và kẻ ngu
Cùng đi và chung sống
Hạc uống sữa bỏ bùn
Người trí bỏ điều ác
Lúc bấy giờ, khi Đức Thế Tôn đang trú tại vương quốc Kosala, ở Araññakuṭika trên sườn núi Himalaya (Hy-mã-lạp-sơn), suy nghĩ này đã khởi lên trong tâm ngài khi ngài đang tĩnh cư một mình: "Liệu có thể cai trị mà không giết chóc và ra lệnh hành quyết, không tịch thu và tước đoạt, không sầu khổ và gây ra sầu khổ, nói cách khác, cai trị một cách công chính không?" Khi ấy Ác ma Māra nhận biết được suy nghĩ trong tâm Đức Thế Tôn, liền đi đến gặp ngài và nói: "Xin Đức Thế Tôn hãy cai trị, xin Bậc Thiện Thệ hãy cai trị, mà không giết chóc và ra lệnh hành quyết, không tịch thu và tước đoạt, không sầu khổ và gây ra sầu khổ, nói cách khác, cai trị một cách công chính."
"Ác ma, ngươi muốn gì
Mà nói với ta thế?"
"Bạch ngài, bốn thần túc 4
Thế Tôn luôn duy trì
Luôn luôn được thực hành
Dùng làm phương tiện đi
Dùng làm nền tảng vững
Thiết lập và củng cố
Đảm nhận thật đúng đắn
Vậy nên, bạch Thế Tôn
Nếu ngài muốn quyết định:
'Hãy để Himalaya
Vua của các ngọn núi
Biến thành khối vàng ròng'
Nó sẽ thành núi vàng."Dù núi ấy vàng ròng
Gấp đôi vẫn chưa đủ
Cho lòng tham một người
Biết vậy hãy hành động
Người đã thấy khổ đau
Và cội nguồn của nó
Sao còn vướng dục lạc?
Vì khi người ấy biết
Mầm mống tái sinh này
Trói buộc vào thế gian
Người ấy phải rèn luyện
Để dứt bỏ được nó
Khi ấy Ác ma Māra hiểu ra: "Đức Thế Tôn biết ta, Bậc Thiện Thệ biết ta." Buồn bã và thất vọng, hắn biến mất ngay lập tức.
GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sự việc diễn ra như sau. Đức Thế Tôn đang trú tại Anupiyā—có một thị trấn của người Malla tên là Anupiyā—và vào thời điểm đó, nhiều vương tử nổi tiếng dòng Thích-ca đã xuất gia theo Đức Thế Tôn. Nhưng có hai anh em, Mahānāma và Anuruddha dòng Thích-ca. Anuruddha đã được nuôi dưỡng trong nhung lụa. Ông có ba cung điện, một cho mùa hè, một cho mùa mưa và một cho mùa đông. Trong bốn tháng, ông được giải trí trong cung điện mùa mưa bởi những nữ nhạc công mà không có người đàn ông nào trong số họ, và không bao giờ bước xuống cung điện phía dưới.
Mahānāma chợt nghĩ: "Hiện nay nhiều vương tử nổi tiếng dòng Thích-ca đã xuất gia theo Đức Thế Tôn. Nhưng trong gia đình chúng ta chưa có ai từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà. Hay là mình xuất gia, hoặc Anuruddha xuất gia?"
Sau đó ông đi gặp Anuruddha và nói cho người em biết suy nghĩ của mình. Anuruddha nói: "Nhưng em được nuôi dưỡng trong nhung lụa. Em không thể từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà được. Anh đi xuất gia đi."
"Đến đây, Anuruddha, anh sẽ chỉ cho em biết về cuộc sống gia đình. Bây giờ, trước tiên phải cày ruộng, rồi gieo hạt, rồi dẫn nước vào, rồi tháo nước ra, rồi làm cỏ, rồi gặt lúa, rồi gom lại, rồi chất đống, rồi đập lúa, rồi bỏ rơm, rồi sảy trấu, rồi sàng sảy, rồi cất vào kho. Bây giờ, khi làm xong việc đó, năm sau lại phải làm lại tất cả, và năm sau nữa cũng vậy. Công việc không bao giờ kết thúc; công việc không có điểm dừng."
"Vậy khi nào công việc mới kết thúc? Khi nào chúng ta mới có thời gian rảnh rỗi để tận hưởng năm món dục lạc mà chúng ta đang được cung cấp và trang bị?"
"Anuruddha thân mến, công việc không bao giờ kết thúc; công việc không có điểm dừng. Cha chúng ta và ông nội chúng ta đều đã qua đời khi công việc của họ vẫn còn dang dở. Vì vậy, bây giờ em phải tự tìm hiểu về cuộc sống gia đình này. Anh sẽ từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà."
Anuruddha đi gặp mẹ và nói: "Thưa mẹ, con muốn từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà. Xin mẹ cho phép con."
Khi nghe vậy, bà nói với ông: "Hai đứa con trai của mẹ là những người thân yêu và quý giá đối với mẹ, không có gì đáng ghét cả. Nếu các con qua đời, mẹ sẽ mất các con ngoài ý muốn; nhưng tại sao mẹ lại phải cho phép con từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà khi con vẫn đang còn sống?" Ông xin lần thứ hai và lần thứ ba. Sau đó mẹ ông nói: "Anuruddha thân mến, nếu vương tử Bhaddiya dòng Thích-ca, người đang cai trị dòng họ Thích-ca xuất gia, con cũng có thể làm như vậy." 5
Lúc bấy giờ, vương tử Bhaddiya dòng Thích-ca, người đang cai trị dòng họ Thích-ca, là bạn của Anuruddha và mẹ ông đã nghĩ: "Bhaddiya này là bạn của Anuruddha. Cậu ta không mặn mà gì với việc từ bỏ đời sống gia đình," đó là lý do tại sao bà nói như vậy.
Sau đó Anuruddha đi gặp Bhaddiya và nói: "Việc xuất gia của tôi phụ thuộc vào bạn đấy."
"Nếu việc xuất gia của bạn phụ thuộc vào tôi, thì đừng như vậy nữa. Bạn và tôi sẽ … ồ, bạn cứ đi xuất gia khi nào bạn muốn."
"Thôi nào, cả hai chúng ta hãy cùng nhau từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà đi."
"Tôi không thể. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì khác cho bạn trong khả năng của tôi. Bạn đi xuất gia đi."
"Mẹ tôi đã nói: 'Anuruddha thân mến, nếu vương tử Bhaddiya dòng Thích-ca, người đang cai trị dòng họ Thích-ca xuất gia, con cũng có thể xuất gia.' Và lời của bạn là thế này: 'Nếu việc xuất gia của bạn phụ thuộc vào tôi, thì đừng như vậy nữa. Bạn và tôi sẽ … ồ, bạn cứ đi xuất gia khi nào bạn muốn.' Thôi nào, cả hai chúng ta hãy cùng nhau từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà đi."
Vào thời đó, người ta thường nói sự thật, thường giữ lời hứa. Bhaddiya nói với Anuruddha: "Đợi bảy năm nữa. Hết bảy năm, cả hai chúng ta sẽ xuất gia."
"Bảy năm thì lâu quá. Tôi không thể đợi bảy năm được."
"Đợi sáu năm. Hết sáu năm, cả hai chúng ta sẽ xuất gia."
"Sáu năm thì lâu quá. Tôi không thể đợi sáu năm được."
"Đợi năm năm … bốn … ba … hai năm … một năm … bảy tháng … hai tháng … một tháng …. Đợi nửa tháng. Hết nửa tháng, cả hai chúng ta sẽ xuất gia."
"Nửa tháng thì lâu quá. Tôi không thể đợi nửa tháng được."
"Đợi bảy ngày. Hết bảy ngày, cả hai chúng ta sẽ xuất gia. Và như vậy tôi mới có thể giao lại vương quốc cho các con và các anh em của tôi."
"Bảy ngày thì không quá lâu. Tôi sẽ đợi."
Sau đó vương tử Bhaddiya dòng Thích-ca, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila và Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), cùng với người thợ cạo Upāli (Ưu-ba-ly) là người thứ bảy, lên đường dẫn theo một đội quân bốn binh chủng như thể đi đến bãi tập trận trong công viên giải trí như họ vẫn thường làm. Khi đi được một quãng, họ giải tán quân đội. Sau đó họ vượt qua biên giới sang một vương quốc khác, tại đây họ cởi bỏ các đồ trang sức hoàng gia. Họ cuộn chúng trong một chiếc áo choàng ngoài, và nói với người thợ cạo Upāli: "Upāli, tốt hơn là anh nên quay về. Chỗ này đủ để anh sinh sống rồi."
Trên đường về, Upāli nghĩ: "Những người dòng Thích-ca này rất dữ tợn. Với chuyện này, họ thậm chí có thể xử tử mình vì tội tiếp tay cho các vương tử đi xuất gia. Vậy là các vương tử Thích-ca này bây giờ đi xuất gia; nhưng còn mình thì sao?" Ông mở bọc ra và treo đồ đạc lên một cái cây, nói: "Ai nhìn thấy những thứ này hãy lấy đi như một món quà." Rồi ông quay lại tìm các vương tử Thích-ca. Họ thấy ông đi tới, liền hỏi: "Sao anh lại quay lại?"
Ông kể cho họ nghe chuyện đã xảy ra, và nói thêm: "Và vì thế tôi đã quay lại."
"Anh làm rất đúng khi không về nhà, Upāli; vì người Thích-ca rất dữ tợn. Với chuyện này, họ thậm chí có thể đã xử tử anh vì tội tiếp tay cho các vương tử Thích-ca đi xuất gia."
Sau đó các vương tử Thích-ca cùng với người thợ cạo Upāli đi đến gặp Đức Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ ngài, họ ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi yên, họ bạch với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, chúng con là những người Thích-ca đầy kiêu hãnh. Người thợ cạo Upāli này đã phục vụ chúng con từ lâu. Xin Đức Thế Tôn hãy cho anh ấy xuất gia trước để chúng con có thể đảnh lễ anh ấy, đứng dậy chào anh ấy, và dành cho anh ấy sự tôn kính và vinh dự. Nhờ vậy, lòng kiêu hãnh của dòng Thích-ca trong chúng con sẽ bị hạ thấp." Sau đó Đức Thế Tôn đã cho người thợ cạo Upāli xuất gia trước và sau đó mới đến các vương tử Thích-ca.
Chính trong mùa an cư kiết hạ năm đó, Tôn giả Bhaddiya đã chứng đạt Tam Minh. Tôn giả Anuruddha đã khai mở thiên nhãn. Tôn giả Ānanda đã chứng quả Nhập lưu (Tu-đà-hoàn). Devadatta đã đạt được các thần thông của người phàm phu.
Lúc bấy giờ, bất cứ khi nào Tôn giả Bhaddiya đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn phòng trống, ngài liên tục thốt lên: "Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!"
Một số tỳ-kheo đi đến gặp Đức Thế Tôn và kể cho ngài nghe về chuyện đó, nói thêm: "Bạch Thế Tôn, dường như không còn nghi ngờ gì nữa, Tôn giả Bhaddiya đang sống đời phạm hạnh trong sự bất mãn. Hoặc là ngài ấy đang nhớ lại địa vị cai trị trước đây của mình."
Sau đó Đức Thế Tôn cho gọi ngài đến và hỏi xem điều đó có đúng không. "Đúng là như vậy, bạch Thế Tôn."
"Nhưng này Bhaddiya, ông thấy có lợi ích gì khi làm như vậy?" "Bạch Thế Tôn, trước đây khi con có địa vị hoàng gia, luôn có lính canh gác cẩn mật cả trong lẫn ngoài cung điện, cả trong lẫn ngoài thành phố, và cả trong lẫn ngoài quận huyện. Mặc dù được canh gác và bảo vệ như vậy, con vẫn luôn sợ hãi, lo âu, nghi ngờ và phiền muộn. Nhưng bây giờ, bạch Thế Tôn, khi con đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn phòng trống, con không hề sợ hãi, lo âu, nghi ngờ hay phiền muộn. Con sống thảnh thơi, yên tĩnh, sống nhờ vào sự bố thí của người khác, với tâm trí tự do như một chú nai rừng. Đây là lợi ích mà con thấy khi làm như vậy."
Hiểu được ý nghĩa của chuyện này, Đức Thế Tôn bèn thốt lên lời cảm hứng ngữ này:
Ai không còn xung đột
Ẩn giấu ở trong tâm
Sẽ vượt qua tất cả
Mọi hình thức sinh tồn
Vì vị ấy vô úy
Hạnh phúc, thoát sầu đau
Không một vị thần nào
Sánh được vẻ vinh quang
Vin. Cv. 7:1; cf. Ud. 2:10
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nanda, người em cùng cha khác mẹ của Đức Thế Tôn, mặc y phục được ủi phẳng phiu, bôi thuốc mỡ chải chuốt đôi mắt và mang một chiếc bát tráng men. Sau đó ngài đi đến gặp Đức Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ, ngài ngồi xuống một bên. Khi ngài đã ngồi yên, Đức Thế Tôn bảo ngài: "Này Nanda, thật không thích hợp khi ông, một thanh niên danh giá đã vì niềm tin mà từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà, lại mặc y phục ủi phẳng phiu, chải chuốt đôi mắt và mang bát tráng men. Điều thích hợp cho ông, một thanh niên danh giá đã vì niềm tin mà từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà, là phải trở thành một người sống trong rừng, chỉ ăn thức ăn khất thực, mặc y phấn tảo (y chắp vá từ giẻ rách), và sống không màng đến những ham muốn nhục dục."
NGƯỜI KỂ HAI. Trong khi đó, sa-di Rāhula, lúc này đã mười một tuổi, đang sống dưới sự chăm sóc của Trưởng lão Sāriputta tại Ambalaṭṭhikā, gần Rājagaha, nơi Đức Phật trở về sau đó.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi được nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn đang sống tại Rājagaha, trong Rừng Tre, tại Khu Nuôi Sóc; còn Tôn giả Rāhula đang sống ở Ambalaṭṭhikā. Khi trời tối, Đức Thế Tôn rời khỏi chỗ độc cư và đi đến với Tôn giả Rāhula tại Ambalaṭṭhikā. Tôn giả Rāhula thấy Ngài từ xa đi đến, liền chuẩn bị chỗ ngồi cho Ngài và nước để rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã chuẩn bị và rửa chân. Sau đó, Tôn giả Rāhula đảnh lễ Ngài rồi ngồi sang một bên.
Đức Thế Tôn đổ một ít nước vào chiếc gáo nước rồi nói với Tôn giả Rāhula:
“Rāhula, con có thấy một ít nước này trong chiếc gáo không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Nếu người ta không cẩn thận, không tránh việc cố ý nói dối, thì điều tốt đẹp nơi họ cũng ít ỏi như lượng nước này.”
Rồi Đức Thế Tôn hất chỗ nước ít ỏi ấy đi và hỏi:
“Rāhula, con có thấy chỗ nước ít ỏi mà Ta vừa hất đi không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Nếu người ta không cẩn thận, không tránh việc cố ý nói dối, thì điều tốt đẹp nơi họ cũng bị vứt bỏ như thế này.”
Rồi Đức Thế Tôn lật úp chiếc gáo nước xuống và hỏi:
“Rāhula, con có thấy chiếc gáo nước đang bị úp ngược này không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Nếu người ta không cẩn thận, không tránh việc cố ý nói dối, thì điều tốt đẹp nơi họ cũng bị đối xử như thế này.”
Rồi Đức Thế Tôn lật chiếc gáo trở lại đúng chiều và hỏi:
“Rāhula, con có thấy giờ đây chiếc gáo này hoàn toàn trống không không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Nếu người ta không cẩn thận, không tránh việc cố ý nói dối, thì họ cũng hoàn toàn trống rỗng về điều tốt đẹp như thế này.
Này Rāhula, giả sử có một con voi chiến của nhà vua, ngà dài như những cây đòn xe, thân hình to lớn, thuộc giống tốt và đã quen trận mạc. Khi ra trận, nó dùng cả chân trước, chân sau, phần thân trước, phần thân sau, đầu, tai, ngà và đuôi, nhưng vẫn không sử dụng vòi. Khi ấy, người cưỡi trên lưng nó sẽ nghĩ: ‘Con voi này sử dụng tất cả các bộ phận của nó, nhưng vẫn giữ lại cái vòi, vậy nó chưa thực sự đem hết sức mình mà phụng sự nhà vua.’
Nhưng ngay khi nó sử dụng cả tất cả các bộ phận ấy và cả cái vòi, người cưỡi trên lưng nó sẽ nghĩ: ‘Con voi này sử dụng tất cả các bộ phận của nó, kể cả cái vòi. Vậy nó đã đem toàn bộ bản thân mình phụng sự nhà vua; nó không còn cần phải được huấn luyện thêm nữa.’
Cũng vậy, này Rāhula, nếu người ta không cẩn thận, không tránh việc cố ý nói dối, thì Ta không nói rằng họ không còn gì cần phải tu học thêm.
Vì vậy, này Rāhula, con phải tự mình tu tập để không bao giờ nói lời sai sự thật, dù chỉ là nói đùa.
Này Rāhula, con nghĩ chiếc gương dùng để làm gì?”
“Để soi chính mình, bạch Thế Tôn.”
“Cũng giống như vậy, con phải luôn luôn soi xét các hành động của thân, các lời nói của miệng và các hành động của tâm.”
NGƯỜI KỂ HAI. Sau đó Đức Phật tiếp tục hướng dẫn chi tiết cho ngài cách quán xét mọi hành động trước, trong và sau khi thực hiện, đánh giá nó là bất thiện nếu thấy nó dẫn đến tổn hại cho chính mình, hoặc cho người khác, hoặc cho cả hai, và đánh giá nó là thiện nếu nó không gây tổn hại, từ đó định hướng cho những hành động trong tương lai.