Skip to content

Chương 4

SỰ TRUYỀN BÁ GIÁO PHÁP

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Chuyện xảy ra như sau. Có một thanh niên dòng dõi tên là Da-xá (Yasa). Chàng là con trai của một thương gia giàu có và được nuông chiều từ bé. Chàng có ba dinh thự, một cho mùa đông, một cho mùa hè, và một cho mùa mưa. Trong dinh thự mùa mưa, chàng được các nữ nhạc công phục vụ giải trí mà không có bóng dáng người đàn ông nào. Trong suốt bốn tháng mùa mưa, chàng không bao giờ bước xuống tầng dưới của dinh thự.

Một hôm, khi Da-xá đang vui thú, tận hưởng năm loại dục lạc mà mình được cung phụng, chàng ngủ quên dù trời hãy còn sớm; và đám người hầu của chàng cũng ngủ thiếp đi. Nhưng ngọn đèn thâu đêm vẫn sáng; và khi Da-xá tỉnh giấc sớm, chàng thấy đám người hầu đang ngủ say. Có cô kẹp đàn tì bà dưới nách, cô thì tì cằm lên trống lục lạc, cô lại ôm trống dưới cánh tay. Tóc tai của một cô xõa xượi, cô khác thì chảy nước dãi, những cô khác nữa thì nói mớ. Cảnh tượng trông chẳng khác nào một bãi tha ma. Khi nhìn thấy cảnh đó, sự nhếch nhác đập thẳng vào mắt khiến chàng chán ngán tột cùng, và chàng thốt lên: "Thật đáng sợ, thật kinh khủng!"1

Thế rồi chàng xỏ đôi hài vàng và đi ra cửa nhà, các chúng phi nhân đã mở sẵn cửa để không ai có thể ngăn cản chàng từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia sống không nhà. Sau đó chàng đi đến cổng thành, và các chúng phi nhân cũng mở sẵn cổng thành để không ai có thể ngăn cản chàng từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia sống không nhà.

Chàng đi bộ đến Vườn Lộc Uyển ở Chư Thiên Đọa (Isipatana). Lúc bấy giờ, Thế Tôn đã thức dậy từ sớm khi trời sắp sáng và đang đi kinh hành ngoài trời. Thấy Da-xá đang đi tới từ đằng xa, ngài dừng bước và ngồi xuống chiếc ghế đã được dọn sẵn. Khi Da-xá đến gần Thế Tôn, chàng thốt lên: "Thật đáng sợ, thật kinh khủng!"

Thế Tôn bèn đáp: "Nơi này không đáng sợ, nơi này không kinh khủng. Lại đây, Da-xá, hãy ngồi xuống. Ta sẽ thuyết Pháp cho con."

Chàng nghĩ: "Hóa ra nơi này không đáng sợ, nơi này không kinh khủng," chàng cảm thấy vui sướng và tràn trề hy vọng. Chàng cởi đôi hài vàng và đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ ngài, chàng ngồi xuống một bên. Khi chàng đã an tọa, Thế Tôn bắt đầu giảng giải tuần tự cho chàng, đó là những lời dạy về bố thí, về trì giới, về các cõi trời; ngài chỉ rõ những nguy hiểm, sự hư ảo và sự ô nhiễm của dục lạc cùng những phước báu của việc xuất gia. Khi thấy tâm Da-xá đã sẵn sàng, dễ tiếp thu, không bị chướng ngại, hăng hái và đầy tịnh tín, ngài bèn giảng cho chàng giáo pháp đặc thù của chư Phật:2 khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm rất đều, ngay khi Da-xá đang ngồi đó, cái nhìn Pháp nhãn trong sáng, không tì vết đã khởi sinh trong chàng: Phàm thứ gì có sinh thì tất có diệt.

Lúc này, mẹ của Da-xá đi lên dinh thự của chàng. Không thấy Da-xá đâu, bà đi tìm người thương gia và nói: "Con trai Da-xá của ông đi đâu mất rồi."

Thế là ông phái người đi tìm khắp bốn phương, còn bản thân ông thì đích thân đến Vườn Lộc Uyển ở Chư Thiên Đọa. Thấy dấu vết của đôi hài vàng, ông liền đi theo. Thế Tôn thấy ông đang đi tới. Ngài nghĩ: "Hay là ta dùng thần thông để khi viên thương gia này ngồi đây, ông ta sẽ không nhìn thấy Da-xá cũng đang ngồi đây?" Và ngài đã làm như vậy. Sau đó, viên thương gia đến gặp Thế Tôn và hỏi ngài: "Bạch Thế Tôn, ngài có thấy Da-xá đâu không?"

"Ông hãy ngồi xuống đây; biết đâu khi ngồi đây, ông sẽ thấy Da-xá cũng đang ngồi đây."

Nghe vậy ông rất đỗi vui mừng, liền đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi ông đã an tọa, Thế Tôn cũng thuyết pháp cho ông giống như đã thuyết cho Da-xá. Sau đó, viên thương gia đã thấy, đã đạt đến, đã tìm ra và đã thấu triệt Giáo pháp; ông bỏ lại sự hoài nghi phía sau, mọi ngờ vực đều tan biến, ông đạt được lòng tịnh tín hoàn toàn và không còn phụ thuộc vào ai khác trong Giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Ông nói: "Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn, tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giáo pháp đã được Thế Tôn làm sáng tỏ theo nhiều cách, như thể ngài dựng đứng lại những gì đã đổ ngã, phơi bày những gì bị che giấu, chỉ đường cho kẻ lạc lối, cầm đèn sáng trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được muôn vật. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Giáo Pháp và quy y Tăng đoàn. Bắt đầu từ hôm nay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ đã quy y ngài cho đến trọn đời." Và ông là đệ tử cư sĩ đầu tiên trên thế giới thọ Tam quy y.

Trong lúc cha mình đang nghe giảng Pháp, Da-xá quán xét lại những tri kiến mà mình đã thấy và đã trải nghiệm, và nhờ không còn bám víu, tâm chàng đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Khi ấy, Thế Tôn nghĩ: "Sau khi đạt được thành tựu này, Da-xá không còn có thể quay lại cuộc sống cũ và tận hưởng những dục lạc trong đời sống gia đình như trước kia nữa. Hay là ta thu hồi thần thông?"

Ngài liền làm vậy. Viên thương gia nhìn thấy con trai mình đang ngồi đó. Ông nói với chàng: "Da-xá, con trai của ta, mẹ con đang đau buồn và khóc lóc. Con hãy mang lại sự sống cho mẹ con."

Da-xá nhìn Thế Tôn. Thế Tôn nói với viên thương gia: "Ông nghĩ sao về điều này? Nếu Da-xá đã thấy Giáo pháp với tri kiến và con mắt của bậc hữu học3 giống như ông đã thấy, và nếu sau đó chàng quán xét lại những tri kiến mà mình đã thấy và trải nghiệm, rồi nhờ không bám víu, tâm chàng đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, liệu chàng có thể quay lại cuộc sống cũ và tận hưởng những dục lạc của đời sống gia đình như trước kia được nữa không?"

"Dạ không, bạch Thế Tôn."

"Và đó chính là những gì Da-xá đã đạt được. Giờ đây chàng không còn có thể quay lại cuộc sống cũ và tận hưởng những dục lạc của đời sống gia đình như trước kia được nữa."

"Đó là một lợi ích, bạch Thế Tôn, đó là một lợi ích to lớn đối với Da-xá khi tâm chàng nhờ không bám víu mà được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, ngày hôm nay xin Thế Tôn cùng tỳ-kheo thị giả Da-xá nhận lời mời thọ trai của con." Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi viên thương gia biết Thế Tôn đã nhận lời, ông đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đi vòng quanh ngài theo chiều bên phải để cáo lui.

Ngay sau khi ông rời đi, Da-xá nói với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con nguyện cầu được xuất gia và thọ giới cụ túc từ Thế Tôn."

"Hãy đến đây, tỳ-kheo," Thế Tôn nói, "Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau hoàn toàn." Và đó chính là sự thọ giới cụ túc của tôn giả Da-xá.

Và thế là lúc bấy giờ, trên thế gian có bảy vị A-la-hán.

Lúc này trời đã sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và thượng y, cùng với tôn giả Da-xá làm tỳ-kheo thị giả, ngài đến nhà viên thương gia và ngồi vào chỗ đã dọn sẵn.

Sau đó, mẹ và vợ cũ của tôn giả Da-xá đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngài thuyết pháp cho họ giống như ngài đã thuyết cho Da-xá và cha chàng. Cái nhìn Pháp nhãn trong sáng, không tì vết cũng khởi sinh trong họ: Phàm thứ gì có sinh thì tất có diệt. Họ đã thấy Giáo pháp giống như viên thương gia đã thấy, và họ thọ Tam quy y: "Bắt đầu từ hôm nay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử đã quy y ngài cho đến trọn đời." Và họ là những nữ đệ tử tại gia đầu tiên trên thế giới thọ Tam quy y.

Sau đó, cha mẹ và vợ cũ của tôn giả Da-xá tự tay phục vụ Thế Tôn cùng tôn giả Da-xá, dâng lên hai ngài nhiều món ăn ngon lành. Khi Thế Tôn đã dùng bữa xong và bỏ bát xuống, họ ngồi xuống một bên. Sau đó, Thế Tôn chỉ dẫn, khích lệ, truyền cảm hứng và động viên họ bằng những lời giảng về Giáo pháp, rồi ngài đứng dậy rời đi.

Bấy giờ, có bốn người bạn của tôn giả Da-xá thuộc các gia đình thương gia hàng đầu ở Ba-la-nại, tên là Tỳ-ma-la, Tát-bà-hô, Phú-lan-na-di và Cưu-vật-ba-đế, nghe tin: "Nghe đâu thanh niên dòng dõi Da-xá đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa và từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia sống không nhà." Nghe vậy, họ nghĩ: "Chắc hẳn Giáo pháp và Giới luật này không hề tầm thường, chuyện xuất gia này không hề tầm thường, nên Da-xá mới làm như vậy."

Họ đến gặp tôn giả Da-xá, đảnh lễ ngài rồi đứng sang một bên. Sau đó, tôn giả Da-xá dẫn họ đến gặp Thế Tôn. Sau khi giới thiệu họ với Thế Tôn, ngài nói: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn khuyên bảo và chỉ dạy cho họ." Thế Tôn bèn thuyết pháp cho họ giống như ngài đã làm với những người khác, và họ cũng đạt được sự tự tại trong Giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Họ nói: "Bạch Thế Tôn, chúng con nguyện cầu được xuất gia và thọ giới cụ túc từ Thế Tôn."

"Hãy đến đây, các tỳ-kheo," Thế Tôn nói: "Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng; hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau hoàn toàn." Và đó là sự thọ giới cụ túc của các vị tôn giả ấy. Sau đó, Thế Tôn khuyên bảo và giảng dạy Giáo pháp cho các tỳ-kheo ấy, và trong khi được khuyên bảo và giảng dạy như vậy, tâm của các vị nhờ không bám víu đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

Và thế là lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A-la-hán.

Tiếp đó, năm mươi người bạn của tôn giả Da-xá ở vùng quê, là con cháu của các gia đình danh giá và khá giả, cũng nghe tin ngài đã xuất gia sống không nhà. Họ đến gặp tôn giả Da-xá, ngài lại dẫn họ đến gặp Thế Tôn. Và khi Thế Tôn thuyết giảng cho họ, họ cũng xin được xuất gia và thọ giới cụ túc. Sau khi được Thế Tôn khuyên bảo và giảng dạy, tâm của họ nhờ không bám víu đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Và thế là lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, ta đã thoát khỏi mọi ràng buộc dù là của cõi người hay cõi trời. Các ông cũng đã thoát khỏi mọi ràng buộc dù là của cõi người hay cõi trời. Nay các ông hãy ra đi và du hành vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Hãy thuyết giảng Giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa và toàn thiện ở phần cuối, trọn vẹn cả ý nghĩa lẫn văn tự. Hãy giải thích về một đời sống phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh tịnh. Có những chúng sinh với đôi mắt vương ít bụi trần sẽ bị mai một nếu không được nghe Giáo pháp. Một số người sẽ thấu hiểu Giáo pháp. Còn ta sẽ đến Ưu-lâu-tần-loa, tại thị trấn Tướng Quân, để thuyết giảng Giáo pháp."

Khi ấy, Ác ma Ba-tuần đến gặp Thế Tôn và nói với ngài bằng những vần kệ:

Ông bị trói buộc rồi
Cõi người hay cõi trời
Dây trói kia rất chặt
Sa-môn khó thoát ta

Ta thoát mọi trói buộc
Cõi người hay cõi trời
Thoát dây trói bền chặt
Ác ma nay bại vong

Xiềng xích ở trong không
Nắm giữ chặt tâm trí
Ta trói ông mãi mãi
Sa-môn khó thoát ta

Sắc thanh hương vị xúc
Dù đẹp đẽ đến đâu
Ta không còn ham muốn
Ác ma nay bại vong

Khi ấy Ác ma Ba-tuần nhận ra: "Thế Tôn đã biết ta; Đấng Thiện Thệ đã biết ta." Buồn bã và thất vọng, y liền biến mất.

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo lên đường du hành đang đưa về từ nhiều phương và nhiều xứ những người mong muốn được xuất gia và thọ giới cụ túc, để nhờ Thế Tôn trao truyền cho họ. Điều này gây khó khăn cho cả các tỳ-kheo lẫn những người muốn được xuất gia và thọ giới cụ túc. Thế Tôn suy xét về vấn đề này, và khi chiều đến, ngài triệu tập Tăng đoàn tỳ-kheo lại vì lý do này, vì nguyên cớ này. Sau khi ban một bài pháp thoại, ngài bảo họ:

"Này các tỳ-kheo, khi ta đang tịnh tu một mình, trong tâm ta khởi lên suy nghĩ này: 'Hiện nay các tỳ-kheo đang đưa về từ nhiều phương và nhiều xứ những người mong muốn được xuất gia và thọ giới cụ túc, để ta trao truyền cho họ. Điều này gây khó khăn cho cả các tỳ-kheo lẫn những người mong muốn được xuất gia và thọ giới cụ túc. Tại sao ta không cho phép các tỳ-kheo được trực tiếp làm lễ xuất gia và truyền giới cụ túc ngay tại nơi đó, ở bất cứ phương nào, bất cứ xứ nào họ đến?' Do đó, ta cho phép các ông làm điều này. Và nghi thức nên được tiến hành như sau: trước tiên phải cạo bỏ râu tóc. Sau đó, khoác áo cà sa, đắp thượng y hở một bên vai và đảnh lễ dưới chân các tỳ-kheo. Kế đến, quỳ gối, chắp tay lại và nói như sau: 'Con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng. Lần thứ hai ... Lần thứ ba ...' Ta cho phép việc xuất gia và truyền giới cụ túc được thực hiện thông qua thọ Tam quy y."

Sau khi Thế Tôn trải qua mùa an cư kiết hạ tại Ba-la-nại, ngài bảo các tỳ-kheo rằng:

"Này các tỳ-kheo, chính nhờ sự chú tâm đúng đắn, nhờ sự nỗ lực đúng đắn, mà ta đã đạt đến và chứng ngộ sự giải thoát tối thượng. Này các tỳ-kheo, các ông cũng vậy, chính nhờ sự chú tâm đúng đắn, nhờ sự nỗ lực đúng đắn, mà các ông đã đạt đến và chứng ngộ sự giải thoát tối thượng."

Khi ấy Ác ma Ba-tuần lại đến gặp Thế Tôn và nói với ngài bằng những vần kệ:

Ông bị ta trói buộc
Cõi người hay cõi trời
Dây Ác ma rất chặt
Sa-môn khó thoát ta


Ta thoát khỏi dây ma
Cõi người hay cõi trời
Trói buộc đều đứt đoạn
Ác ma nay bại vong

Khi ấy Ác ma Ba-tuần nhận ra: "Thế Tôn đã biết ta, Đấng Thiện Thệ đã biết ta." Buồn bã và thất vọng y liền biến mất.

Khi Thế Tôn đã lưu lại Ba-la-nại đủ lâu theo ý nguyện, ngài lên đường du hành dần đến Ưu-lâu-tần-loa. Trên đường đi, ngài rời khỏi con lộ để rẽ vào một khu rừng, và ngồi nghỉ dưới gốc cây. Bấy giờ, có một nhóm ba mươi người bạn cùng các bà vợ của họ đang vui chơi trong rừng. Một người trong số họ không có vợ, nên họ đã gọi một kỹ nữ đến cho anh ta. Trong lúc họ đang vô tư vui đùa, cô kỹ nữ nọ đã lấy trộm tài sản của anh ta và bỏ trốn. Để giúp bạn, những người kia bèn tỏa đi tìm cô ta. Đang lúc đi lang thang trong rừng, họ nhìn thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây. Họ đi đến chỗ ngài và hỏi: "Bạch Thế Tôn, ngài có thấy một người phụ nữ nào đi qua đây không?" "Này các thanh niên, các người tìm phụ nữ để làm gì?" Họ liền kể lại sự tình.

"Vậy các người nghĩ sao; điều gì tốt hơn cho các người, đi tìm một người phụ nữ hay đi tìm lại chính bản thân mình?"4

"Bạch Thế Tôn, tốt hơn là chúng con nên tìm lại chính mình."

"Vậy hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết Pháp cho các người."

"Dạ vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Và sau khi đảnh lễ ngài, họ ngồi xuống một bên.

Thế Tôn bắt đầu giảng giải tuần tự cho họ. Đến lúc thích hợp, cái nhìn Pháp nhãn trong sáng, không tì vết đã khởi sinh trong họ. Và cuối cùng, họ không còn phụ thuộc vào ai khác trong Giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Sau đó họ nói: "Chúng con nguyện cầu được xuất gia và thọ giới cụ túc từ Thế Tôn."

"Hãy đến đây, các tỳ-kheo," Thế Tôn nói, "Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau hoàn toàn." Và đó là sự thọ giới cụ túc của các vị tôn giả ấy.

Thế Tôn tiếp tục du hành và cuối cùng đã đến Ưu-lâu-tần-loa. Bấy giờ, có ba vị đạo sĩ tết tóc đang sống tại Ưu-lâu-tần-loa, tên là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Ca-diếp Sông, và Ca-diếp Già-da. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp là người đứng đầu, người chỉ đạo, thủ lĩnh, giáo chủ và trưởng môn của năm trăm đạo sĩ tết tóc, Ca-diếp Sông đứng đầu ba trăm vị, và Ca-diếp Già-da đứng đầu hai trăm vị.

Thế Tôn đến đạo tràng của Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, và nói: "Này Ca-diếp, nếu ông không phiền, ta muốn xin ngủ lại một đêm trong hỏa viện của ông."

"Tôi không phiền đâu, thưa Đại Sa-môn. Nhưng trong đó có một con rắn chúa vô cùng hung dữ. Nó có thần thông. Nó rất độc, có nọc độc chết người và có thể giết ngài đấy."

Thế Tôn hỏi mượn lần thứ hai và lần thứ ba nhưng vẫn nhận được câu trả lời y như vậy. Ngài nói: "Có lẽ nó sẽ không hại ta đâu, Ca-diếp. Vậy hãy cho ta mượn hỏa viện đi."

"Vậy ngài cứ ở đó bao lâu tùy thích, thưa Đại Sa-môn."

Thế là Thế Tôn bước vào hỏa viện. Ngài trải một chiếc chiếu cói và ngồi xuống, vắt chéo chân, giữ lưng thẳng và thiết lập chánh niệm phía trước. Khi con rắn chúa thấy Thế Tôn bước vào, nó nổi giận và phun khói. Thế Tôn nghĩ: "Hay là ta dùng lửa chế ngự lửa của nó mà không làm tổn thương da ngoài, da trong, thịt, gân, xương hay tủy của nó?" Nghĩ vậy ngài liền hóa ra khói. Thấy vậy, con rắn chúa không kềm được cơn phẫn nộ, liền phun ra lửa. Thế Tôn nhập vào hỏa đại và cũng phóng ra ngọn lửa. Hỏa viện rực cháy, chói lòa và bùng lên bởi ngọn lửa của cả hai bên. Các đạo sĩ tết tóc xúm lại xung quanh và nói: "Vị Đại Sa-môn đẹp đẽ như vậy mà lại bị rắn chúa giết mất rồi."

Qua một đêm, sau khi Thế Tôn đã dùng lửa chế ngự lửa của rắn chúa mà không hề làm nó bị thương, ngài bỏ nó vào bình bát của mình và đưa cho Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp xem: "Đây là rắn chúa của ông, này Ca-diếp. Lửa của nó đã bị lửa chế ngự." Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nghĩ bụng: "Đại Sa-môn thật dũng mãnh và thần thông quảng đại mới có thể dùng lửa chế ngự được lửa của loài rắn chúa hung dữ có thần thông, đầy nọc độc chết người này. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Sau đó, Thế Tôn đến ngụ trong một khu rừng cách đạo tràng của Ca-diếp không xa. Khi đêm đã về khuya, Tứ Đại Thiên Vương với dung mạo kỳ diệu, tỏa sáng cả khu rừng, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi đứng ở bốn góc, giống như bốn cột lửa. Khi trời sáng, đạo sĩ tết tóc Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn và nói: "Đã đến giờ rồi, thưa Đại Sa-môn, bữa ăn đã sẵn sàng. Những người đến gặp ngài trong đêm qua là ai vậy?"

"Họ là các vị Thiên Vương cai quản bốn phương, này Ca-diếp. Họ đến chỗ ta để nghe Pháp."

Ca-diếp liền nghĩ: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và đầy uy quyền nên mới có các vị Thiên Vương tìm đến để nghe Pháp. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Vào những đêm tiếp theo, Đế Thích, Vua của chư Thiên, và Phạm Thiên Sa-hàm-ba-đề cũng đến gặp Thế Tôn. Ca-diếp cũng nhìn thấy họ, và diễn biến sau đó đều giống hệt như vậy.

Đúng vào thời gian này, đại lễ tế đàn của Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp sắp diễn ra, và dân chúng từ khắp các xứ Ương-già và Ma-kiệt-đà đang nô nức kéo đến, mang theo rất nhiều loại thức ăn phong phú. Ca-diếp nghĩ: "Giờ đại lễ tế đàn của ta đã đến, và dân chúng từ khắp Ương-già và Ma-kiệt-đà đang nô nức kéo đến, mang theo rất nhiều thức ăn. Nếu Đại Sa-môn mà thi triển phép màu trước mặt tất cả những người này, lợi lộc và danh tiếng của ông ấy sẽ tăng lên, còn của ta sẽ giảm sút. Giá như ngày mai Đại Sa-môn đừng đến thì tốt biết mấy."

Thế Tôn liền biết được những gì đang diễn ra trong tâm trí Ca-diếp. Thế là ngài đi đến Bắc Câu-lưu-châu ở phương Bắc để khất thực. Sau đó ngài mang thức ăn khất thực được đến hồ A-nậu-đạt ở dãy Hy-mã-lạp-sơn, ngài thọ trai và dành cả ngày ở đó. Sáng hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn và hỏi: "Đã đến giờ rồi, thưa Đại Sa-môn, bữa ăn đã sẵn sàng. Tại sao hôm qua Đại Sa-môn không đến? Chúng tôi đã thắc mắc tại sao ngài không đến. Phần thức ăn của ngài đã được dọn sẵn mà." Thế Tôn nói cho ông biết sự tình. Ca-diếp lại nghĩ bụng: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và thần thông quảng đại vì ông ấy có thể đọc được suy nghĩ trong đầu ta. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Sau khi dùng xong bữa ăn của Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Thế Tôn lại trở về ngụ trong khu rừng cũ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhặt được một mảnh vải rách vứt đi. Ngài nghĩ: "Ta sẽ giặt mảnh vải rách này ở đâu đây?" Lúc đó, Đế Thích, Vua của chư Thiên, biết được tâm niệm của Thế Tôn. Ông bèn dùng tay đào một cái ao, và thưa với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy giặt mảnh vải ở đây."

Tiếp đó Thế Tôn lại nghĩ: "Ta sẽ đập mảnh vải rách này lên đâu?" Đế Thích, Vua của chư Thiên, lại thấu rõ tâm niệm của Thế Tôn, liền đặt xuống một tảng đá lớn: "Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy đập mảnh vải lên đây."

Tiếp đó Thế Tôn lại nghĩ: "Ta sẽ phơi mảnh vải rách này ở đâu?" Lúc đó, một vị thần sống trên cây ca-câu-đà liền uốn cong một cành cây xuống: "Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy phơi mảnh vải lên đây."

Tiếp đó Thế Tôn lại nghĩ: "Ta sẽ trải phẳng mảnh vải rách này trên đâu?" Đế Thích, Vua của chư Thiên, lại đặt xuống một tảng đá lớn: "Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy trải phẳng mảnh vải lên đây."

Khi trời sáng, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn và nói: "Đã đến giờ rồi, thưa Đại Sa-môn, bữa ăn đã sẵn sàng. Nhưng, thưa Đại Sa-môn, làm sao chiếc ao này lại xuất hiện ở đây trong khi trước đó không hề có? Ai đã đặt tảng đá này ở đây trong khi trước đó không hề có? Làm sao cành cây ca-câu-đà này lại cong xuống trong khi trước đó không hề bị cong?"

Thế Tôn bèn kể cho ông nghe những gì đã xảy ra. Ca-diếp nghĩ bụng: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và đầy uy quyền đến mức cả Đế Thích, Vua của chư Thiên, cũng phải phục vụ ông ấy. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Và rồi sáng hôm sau, Ca-diếp lại đến chỗ Thế Tôn và thưa: "Đã đến giờ rồi, thưa Đại Sa-môn, bữa ăn đã sẵn sàng." Thế Tôn bảo ông đi trước: "Ông cứ đi đi, Ca-diếp; ta sẽ đi theo sau." Ngài đi đến cây hồng đào, loài cây đã tạo nên cái tên Diêm-phù-đề (Châu hồng đào) của Ấn Độ, và ngài hái một quả. Sau đó ngài đến trước và ngồi sẵn trong hỏa viện. Ca-diếp thấy ngài đang ngồi đó, liền hỏi: "Thưa Đại Sa-môn, ngài đi đường nào vậy? Tôi xuất phát trước ngài, nhưng ngài lại đến trước tôi và đã ngồi sẵn trong hỏa viện rồi." Thế Tôn kể cho ông biết ngài đã đi đâu, và ngài nói thêm: "Đây là quả hồng đào. Quả này màu sắc đẹp, hương thơm và có vị ngon. Hãy ăn đi nếu ông thích."

"Không, thưa Đại Sa-môn, ngài mang nó về mà. Ngài nên ăn nó đi."

Rồi Ca-diếp lại nghĩ: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và thần thông quảng đại vì ông ấy bảo ta đi trước, rồi đến cây hồng đào hái quả, nhưng lại đến đây trước ta và ngồi sẵn trong hỏa viện. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta." Sau đó Thế Tôn lại quay về khu rừng.

Trong những lần tương tự khác, Thế Tôn cũng đến chỗ cây hồng đào và hái một quả xoài từ cây gần đó ... hái một quả sến từ cây gần đó ... hái một quả sến vàng từ cây gần đó ... ngài còn lên Đao-lợi Thiên và hái một bông hoa từ Cây Ba-lợi-chất-đa. Mỗi lần như vậy, Ca-diếp đều có những suy nghĩ y hệt như trước.

Bấy giờ, các đạo sĩ tết tóc muốn giữ lửa nhưng không tài nào chẻ được củi. Họ nghĩ: "Chắc hẳn nhờ thần thông của Đại Sa-môn mà chúng ta không thể chẻ củi được."

Thế Tôn hỏi Ca-diếp: "Có nên chẻ củi ra không, Ca-diếp? ... Nên chẻ chúng ra, thưa Đại Sa-môn."

Ngay lập tức, năm trăm thanh củi đều bị chẻ đôi. Ca-diếp lại nghĩ: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và thần thông quảng đại khi làm cho đống củi không thể bị chẻ được. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Rồi trong những lần tương tự, các đạo sĩ tết tóc muốn giữ ngọn lửa, cũng không tài nào nhóm được lửa ... cũng không tài nào dập được lửa. Và mỗi lần như vậy Ca-diếp đều có suy nghĩ y như trước.

Cũng vào thời gian đó, trong những đêm mùa đông lạnh giá vào thời điểm "tám ngày sương giá", các đạo sĩ tết tóc lặn ngụp dưới dòng sông Ni-liên-thiền, không ngừng lặn xuống nổi lên. Thấy vậy, Thế Tôn liền hóa ra năm trăm lò lửa đỏ rực để các đạo sĩ tết tóc sưởi ấm khi họ từ dưới nước lên. Họ nghĩ: "Những lò lửa này chắc hẳn được tạo ra nhờ thần thông của Đại Sa-môn." Ca-diếp liền nghĩ: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và thần thông quảng đại khi hóa ra được nhiều lò lửa đến vậy. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Cũng trong khoảng thời gian đó, một trận mưa bão lớn trái mùa trút xuống gây ra trận lụt kinh hoàng. Nơi Thế Tôn đang ngụ bị ngập chìm trong nước. Ngài nghĩ: "Hay là ta làm cho nước lùi lại xung quanh để ta có thể đi bách bộ trên nền đất khô ráo ở giữa?" Và ngài đã làm như vậy.

Ca-diếp nghĩ: "Hy vọng Đại Sa-môn không bị dòng nước cuốn trôi." Ông cùng một số đạo sĩ tết tóc chèo thuyền đến nơi Thế Tôn đang ngụ. Ông thấy Thế Tôn đã làm cho nước lùi lại xung quanh và đang đi bách bộ trên nền đất khô ráo ở giữa. Khi nhìn thấy cảnh đó, ông liền hỏi:

"Có phải ngài đó không, thưa Đại Sa-môn?"

"Là ta đây, Ca-diếp."

Thế Tôn bay lên không trung và đáp xuống thuyền. Ca-diếp nghĩ bụng: "Đại Sa-môn quả thật dũng mãnh và thần thông quảng đại khi ngay cả nước cũng không thể vùi lấp ông ấy. Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta."

Khi ấy Thế Tôn nghĩ: "Kẻ mê muội này cứ mãi mãi nghĩ rằng 'Nhưng ông ấy vẫn chưa phải là một vị A-la-hán như ta.' Hay là ta làm cho ông ta thức tỉnh?" Ngài bảo Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp: "Này Ca-diếp, ông không phải là một vị A-la-hán và cũng không phải đang trên đường trở thành một vị A-la-hán. Chẳng có điều gì ông làm có thể giúp ông trở thành một vị A-la-hán hay bước vào con đường trở thành một vị A-la-hán đâu."

Nghe vậy, vị đạo sĩ tết tóc phủ phục đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và nói: "Bạch Thế Tôn, con nguyện cầu được xuất gia và thọ giới cụ túc từ Thế Tôn."

"Nhưng này Ca-diếp, ông là người đứng đầu, người chỉ đạo, thủ lĩnh, giáo chủ và trưởng môn của năm trăm đạo sĩ tết tóc. Ông phải hỏi ý kiến họ trước để họ làm những gì họ thấy đúng."

Do đó, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp đi gặp các đạo sĩ tết tóc khác và nói với họ: "Ta muốn sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đại Sa-môn. Các người cứ làm theo ý mình."

"Từ lâu chúng tôi đã có lòng tịnh tín với Đại Sa-môn. Nếu ngài sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ngài ấy, tất cả chúng tôi cũng sẽ làm như vậy."

Thế là các đạo sĩ cắt bỏ râu tóc, những búi tóc tết, rồi vứt cả đồ đạc cùng dụng cụ tế lửa xuống nước cho trôi đi. Sau đó họ đến chỗ Thế Tôn, phủ phục đảnh lễ dưới chân ngài và nói: "Bạch Thế Tôn, chúng con nguyện cầu được xuất gia và thọ giới cụ túc từ Thế Tôn."

"Hãy đến đây, các tỳ-kheo," Thế Tôn nói, "Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng; hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau hoàn toàn." Và đó là sự thọ giới cụ túc của các vị tôn giả ấy.

Vị đạo sĩ tết tóc Ca-diếp Sông nhìn thấy râu tóc, những búi tóc tết, cùng đồ đạc và dụng cụ tế lửa đang trôi trên dòng nước. Ông nghĩ: "Hy vọng không có tai họa nào xảy ra với anh trai ta." Ông bèn phái các đạo sĩ tết tóc đi: "Hãy đi tìm hiểu chuyện của anh ta," còn chính ông cùng ba trăm đạo sĩ tết tóc đến gặp tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp và hỏi: "Thế này tốt hơn sao, anh Ca-diếp?"

"Đúng vậy, hiền đệ, thế này tốt hơn."

Nghe vậy, những đạo sĩ tết tóc đó cũng cắt bỏ râu tóc, những búi tóc tết, rồi vứt cả đồ đạc cùng dụng cụ tế lửa xuống nước cho trôi đi. Sau đó họ đến chỗ Thế Tôn, phủ phục đảnh lễ dưới chân ngài, xin được xuất gia và thọ giới cụ túc. Và vị đạo sĩ tết tóc Ca-diếp Già-da cùng hai trăm đạo sĩ của mình cũng làm y hệt như những gì Ca-diếp Sông đã làm.

Vin. Mv. 1:7-20

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn đang ngụ tại Ưu-lâu-tần-loa, dưới gốc cây Đa A-dà-ba-la bên bờ sông Ni-liên-thiền. Đến thời điểm đó, Ác ma Ba-tuần đã bám theo Thế Tôn suốt bảy năm ròng rã, tìm kiếm một cơ hội để hãm hại ngài nhưng không thành. Sau đó y tiến đến Thế Tôn và đọc những vần kệ:

Ông mơ màng trong rừng
Đang chìm trong sầu muộn
Hay đã mất tài sản
Hay đang khao khát nó
Có tội gì trong thành
Sao không kết bạn bè
Chẳng ai để bầu bạn

Gốc rễ của sầu muộn
Ta đã nhổ tận gốc
Không buồn ta thiền định
Thoát khỏi mọi lậu hoặc
Hỡi người thân kẻ ác
Ta dứt bỏ khao khát

Kẻ nói đây của ta
Và những thứ của ta
Nếu ông còn nghĩ thế
Sa-môn khó thoát ta

Thứ của ta không màng
Ta không nói như thế
Ác ma hãy nghe đây
Đạo này ngươi không thấu

Nếu ông thấy con đường
An toàn đến Bất diệt
Hãy đi con đường ấy
Cần gì phải bảo ai

Những ai muốn vượt qua
Nơi tử thần không tới
Hỏi ta thì ta nói
Nơi kết thúc luân hồi
Không còn nghiệp tái sinh

"Giả sử, bạch Thế Tôn, cách một ngôi làng hoặc thị trấn không xa có một cái ao và một con cua sống trong đó; rồi một nhóm con trai hay con gái từ làng hoặc thị trấn ra ao; chúng lội xuống ao, bắt con cua lên và để nó trên bờ cạn; hễ con cua đưa càng nào ra, chúng liền chặt đứt, bẻ gãy và đập nát bằng gậy đá, đến mức con cua bị đứt hết các càng, gãy nát, không thể bò lại xuống ao như trước nữa - cũng vậy, mọi sự bóp méo, xuyên tạc và nhạo báng của Ác ma đều bị Thế Tôn chặt đứt, bẻ gãy và đập nát; và giờ đây, con không thể đến gần Thế Tôn được nữa khi con muốn tìm cơ hội."

Sau đó, Ác ma thốt lên những vần kệ đầy thất vọng trước mặt Thế Tôn:

S. 4:24

Từng bước suốt bảy năm
Bám theo sát Thế Tôn
Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác
Chánh niệm không kẽ hở\

Sn. 3:2

Có một con quạ nọ
Đi loanh quanh hòn đá
Trông như cục mỡ ngon
Có thứ gì mềm không
Có thứ gì ngon không
Chẳng tìm thấy gì ngon
Liền bỏ đi nơi khác
Và ta với Cù-đàm
Cũng thất vọng rời đi
Như quạ mổ hòn đá

Tràn ngập nỗi buồn bã, y để cây tỳ bà tuột khỏi tay; và rồi con ác quỷ thất vọng ấy biến mất.

Sn. 3:2; S. 4:24

Sau khi Ác ma Ba-tuần thốt lên những vần kệ thất vọng ấy trước mặt Thế Tôn, y rời khỏi nơi đó và ngồi khoanh chân trên mặt đất cách Thế Tôn không xa, im lặng, chán nản, buông thõng vai và cúi gầm mặt, rầu rĩ không thốt nên lời, dùng gậy vạch xuống đất.

Lúc ấy Khát Ái, Bất Mãn và Tham Dục, ba người con gái của Ác ma, đi đến chỗ y và nói bằng những vần kệ:

Sao cha lại buồn bã
Cha đang nghĩ đến ai
Bọn con bắt ông ta
Giăng bẫy dục trói chặt
Như bắt voi trong rừng
Đưa ông ta về lại
Dưới quyền lực của cha


Một vị A-la-hán
Xuất hiện trên thế gian
Khi thoát khỏi cõi ma
Không mưu hèn kế bẩn
Kéo được ông ta lại
Bằng tham dục thế gian
Thế nên ta đau buồn

Thế rồi Khát Ái, Bất Mãn và Tham Dục, các con gái của Ác ma, tiến đến chỗ Thế Tôn và nói: "Thưa Sa-môn, chúng con xin đảnh lễ dưới chân ngài." Nhưng Thế Tôn không mảy may bận tâm vì ngài đã được giải thoát nhờ sự đoạn tận hoàn toàn các mầm mống của sinh hữu.

Họ lui sang một bên và bàn bạc với nhau: "Khẩu vị của đàn ông rất khác nhau. Hay là mỗi chị em chúng ta hóa thành một trăm thiếu nữ?" Họ liền làm như vậy, tiến đến chỗ Thế Tôn và nói: "Thưa Sa-môn, chúng con xin đảnh lễ dưới chân ngài." Lại một lần nữa, vì lý do tương tự, Thế Tôn chẳng mảy may bận tâm.

Họ lại lui sang một bên và bàn bạc: "Khẩu vị của đàn ông rất khác nhau. Hay là chúng ta mỗi người hóa thành một trăm trinh nữ ... những phụ nữ đã sinh một lần ... những phụ nữ đã sinh hai lần ... những phụ nữ trung niên ... những bà lão?" Mỗi lần họ đều làm như vậy, tiến đến chỗ Thế Tôn và nói: "Thưa Sa-môn, chúng con xin đảnh lễ dưới chân ngài." Và một lần nữa, vì lý do tương tự, Thế Tôn chẳng mảy may bận tâm.

Sau đó họ lui sang một bên và nói với nhau: "Có vẻ cha chúng ta nói đúng; vì nếu chúng ta cám dỗ bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào chưa đoạn trừ tham dục, tim của ông ta đã vỡ tung, hoặc máu nóng đã hộc ra từ miệng, hoặc ông ta đã phát điên phát dại, hoặc ông ta đã héo hon, khô héo và tàn tạ như cây lau bị chặt đứt." Họ tiến đến Thế Tôn và đứng một bên. Khát Ái nói với ngài bằng những vần kệ:

Ông mơ màng trong rừng
Đang chìm trong sầu muộn
Hay đã mất tài sản
Hay đang khao khát nó
Có tội gì trong thành
Sao không kết bạn bè
Chẳng ai để bầu bạn


Ta đã đánh bại hết
Đám binh tướng cám dỗ
Ta tìm thấy cực lạc
Chỉ một mình thiền quán
Lạc thú đích đạt được
Lạc thú tâm tĩnh lặng
Ta không tìm bạn bè
Chẳng cần bầu bạn ai

Tiếp đến Bất Mãn nói với ngài bằng những vần kệ:

Tỳ-kheo trụ pháp gì
Vượt năm dòng nước lũ 5
Và qua được dòng sáu
Thiền định nào thực hành
Cản dục lạc xâm chiếm



Thân tĩnh tại tâm an
Không toan tính buông xả
Biết Pháp không vọng tưởng
Không giận không âu lo
Không chút gì bối rối
Trụ pháp ấy tỳ kheo
Vượt năm dòng nước lũ
Và qua được dòng sáu
Thiền định ấy thực hành
Cản dục lạc xâm chiếm

Sau đó Tham Dục thốt lên những vần kệ trước mặt Thế Tôn:

Dứt ái ông bước đi
Nhiều chúng sinh theo hầu
Vô vàn kẻ Vô trước
Thoát khỏi cảnh Tử thần
Đưa lên bờ giải thoát
Bậc Đại hùng Toàn giác
Dẫn dắt bằng Chánh pháp
Đố kỵ ta ích gì
Trước năng lực Chánh pháp

Thế rồi Khát Ái, Bất Mãn và Tham Dục, các con gái của Ác ma, đi đến gặp Ác ma Ba-tuần. Thấy họ đang tới, y liền thốt lên những vần kệ:

Lũ ngốc chẻ tảng đá
Bằng thân cây hoa súng
Đào đồi bằng móng tay
Nhai sắt bằng răng cửa
Tìm chỗ đứng trên vách
Với đá tảng trên đầu


Đẩy cây đổ bằng ngực
Thế nên từ Cù-đàm
Các ngươi về thất vọng

S. 4:24-25

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Sau khi lưu lại Ưu-lâu-tần-loa đủ lâu theo ý nguyện, Thế Tôn lên đường đến Tượng Đầu Sơn cùng với một đoàn tùy tùng lớn gồm một ngàn tỳ-kheo, tất cả đều là những cựu đạo sĩ tết tóc. Thế Tôn dừng chân tại Tượng Đầu Sơn gần Già-da cùng với ngàn tỳ-kheo đó. Tại đây, ngài bảo các tỳ-kheo:

(Bài kinh Lửa)

"Này các tỳ-kheo, mọi thứ đang bốc cháy. Và mọi thứ đang bốc cháy đó là gì?

"Mắt đang bốc cháy. Các sắc đang bốc cháy. Nhãn thức đang bốc cháy. Nhãn xúc đang bốc cháy. Và cảm thọ khởi lên từ nhãn xúc, dù là lạc thọ, khổ thọ hay phi khổ phi lạc thọ, cảm thọ đó cũng đang bốc cháy. Cháy bởi cái gì? Cháy bởi ngọn lửa tham dục, bởi ngọn lửa sân hận, bởi ngọn lửa si mê; nó đang bốc cháy bởi sinh, lão, tử, bởi sầu, bi, khổ, ưu và não, ta nói như vậy.

"Tai đang bốc cháy. Các âm thanh đang bốc cháy ...

"Mũi đang bốc cháy. Các mùi hương đang bốc cháy ...

"Lưỡi đang bốc cháy. Các vị đang bốc cháy ...

"Thân đang bốc cháy. Các xúc đang bốc cháy ...

"Ý đang bốc cháy. Các pháp đang bốc cháy. Ý thức đang bốc cháy. Ý xúc đang bốc cháy. Và cảm thọ khởi lên từ ý xúc, dù là lạc thọ, khổ thọ hay phi khổ phi lạc thọ, cảm thọ đó cũng đang bốc cháy. Cháy bởi cái gì? Cháy bởi ngọn lửa tham dục, bởi ngọn lửa sân hận, bởi ngọn lửa si mê; nó đang bốc cháy bởi sinh, lão, tử, bởi sầu, bi, khổ, ưu và não, ta nói như vậy.

"Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử trí tuệ sinh lòng yếm ly đối với mắt, với các sắc, với nhãn thức, với nhãn xúc. Vị ấy cũng sinh lòng yếm ly đối với cảm thọ khởi lên từ nhãn xúc, dù là lạc thọ, khổ thọ hay phi khổ phi lạc thọ.

"Vị ấy sinh lòng yếm ly đối với tai, với các âm thanh ...

"Vị ấy sinh lòng yếm ly đối với mũi, với các mùi hương ...

"Vị ấy sinh lòng yếm ly đối với lưỡi, với các vị ...

"Vị ấy sinh lòng yếm ly đối với thân, với các xúc ...

"Vị ấy sinh lòng yếm ly đối với ý, với các pháp, với ý thức, với ý xúc. Vị ấy cũng sinh lòng yếm ly đối với cảm thọ khởi lên từ ý xúc, dù là lạc thọ, khổ thọ hay phi khổ phi lạc thọ.

"Nhờ sinh lòng yếm ly, tham dục phai nhạt; nhờ tham dục phai nhạt, tâm được giải thoát; khi tâm được giải thoát, trí tuệ khởi sinh: 'Đã được giải thoát.' Vị ấy thấu hiểu: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'"

Và trong khi bài kinh này đang được thuyết giảng, tâm của một ngàn vị tỳ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không bám víu.

Vin. Mv. 1:21; S. 35:28

Sau khi Thế Tôn lưu lại Tượng Đầu Sơn đủ lâu theo ý nguyện, ngài lên đường du hành dần đến Vương Xá cùng với một đoàn tùy tùng lớn gồm một ngàn tỳ-kheo, tất cả đều là những cựu đạo sĩ tết tóc. Du hành dần qua các chặng, cuối cùng ngài đến Vương Xá, và nghỉ lại tại Rừng Cây Non ở Đền thờ Thiện Kiến.

Bình-sa-vương, Vua nước Ma-kiệt-đà, nghe tin: "Nghe đâu sa-môn Cù-đàm, con trai bộ tộc Thích-ca, người đã rời bỏ dòng dõi Thích-ca để xuất gia sống không nhà, đã đến Vương Xá và đang ngụ tại Rừng Cây Non ở Đền thờ Thiện Kiến. Giờ đây tiếng thơm của Tôn giả Cù-đàm đã lan truyền khắp nơi như sau: 'Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài chứng ngộ và giảng giải thế giới này với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng thế hệ các sa-môn, bà-la-môn, các bậc vương giả và loài người bằng chính trí tuệ trực giác của ngài. Ngài thuyết giảng Giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa và toàn thiện ở phần cuối, trọn vẹn cả ý nghĩa lẫn văn tự, và ngài giải thích về một đời sống phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh tịnh.' Thật tốt đẹp thay nếu được diện kiến một vị A-la-hán như vậy."

Sau đó, được hộ tống bởi mười hai vạn—một trăm hai mươi ngàn—bà-la-môn gia chủ xứ Ma-kiệt-đà, Vua nước Ma-kiệt-đà là Bình-sa-vương đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ ngài, rồi ngồi xuống một bên. Nhưng trong mười hai vạn bà-la-môn gia chủ đó, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số trao đổi lời chào hỏi với ngài và khi những lời hỏi thăm xã giao hoàn tất thì ngồi xuống một bên; một số chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng danh tánh và dòng dõi trước Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng và ngồi xuống một bên.

Họ tự hỏi: "Đại Sa-môn sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp hay Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đại Sa-môn?" Nhưng Thế Tôn thấu hiểu suy nghĩ trong tâm họ, ngài bèn nói với tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp bằng những vần kệ:

Ông đã thấy những gì
Vị thầy gầy ốm ngụ
Ở Ưu-lâu-tần-loa
Lại từ bỏ thờ lửa
Ta hỏi ông câu này
Này ông Ca-diếp hỡi
Sao bỏ việc thờ lửa


Sắc thanh vị tỳ thiếp
Là phần thưởng tế đàn
Thế gian toàn ô uế
Tế đàn chẳng còn vui


Nhưng nếu tâm của ông
Không vui với điều này
Này ông Ca-diếp hỡi
Với sắc thanh và vị
Điều gì làm ông vui
Trên cõi trời cõi người
Hãy nói ta nghe xem


Con thấy cảnh bình an
Chẳng thuộc về thế gian
Không sở hữu nhục dục
Không khác biệt dẫn dắt
Tế đàn chẳng còn vui

Sau đó, tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp y hở một bên vai, phủ phục đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và nói: "Bạch Thế Tôn, ngài là bậc dẫn dắt của con; con là đệ tử. Bạch Thế Tôn, ngài là bậc dẫn dắt của con; con là đệ tử."

Lúc bấy giờ, mười hai vạn bà-la-môn gia chủ xứ Ma-kiệt-đà nghĩ rằng: "Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp sống đời phạm hạnh dưới sự dẫn dắt của Thế Tôn." Thế Tôn thấu hiểu suy nghĩ trong tâm họ nên bắt đầu giảng giải tuần tự cho họ. Cuối cùng, cái nhìn Pháp nhãn trong sáng, không tì vết đã ngay lập tức khởi sinh trong mười một vạn bà-la-môn gia chủ xứ Ma-kiệt-đà: Phàm thứ gì có sinh thì tất có diệt. Và một vạn trở thành cư sĩ tại gia.

Khi ấy Vua nước Ma-kiệt-đà là Bình-sa-vương đã thấy, đã đạt đến, đã tìm ra và đã thấu triệt Giáo pháp; ông bỏ lại sự hoài nghi phía sau; mọi ngờ vực đều tan biến, ông đạt được lòng tịnh tín hoàn toàn và không còn phụ thuộc vào ai khác trong Giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

Ông bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, hồi còn nhỏ con có năm ước nguyện. Nay chúng đã thành hiện thực. Khi còn nhỏ con nghĩ: 'Giá như ta được đội vương miện lên ngôi vua.' Đó là ước nguyện đầu tiên con lập ra và nó đã thành sự thật. Ước nguyện thứ hai là: 'Giá như trong đời ta được diện kiến một vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác.' Và nó đã thành sự thật. Ước nguyện thứ ba là: 'Giá như ta có thể tôn kính Thế Tôn.' Và nó đã thành sự thật. Ước nguyện thứ tư là: 'Giá như Thế Tôn thuyết pháp cho ta.' Và nó đã thành sự thật. Ước nguyện thứ năm là: 'Giá như ta có thể thấu hiểu được Giáo pháp của ngài.' Và điều đó cũng đã thành sự thật. Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn, tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giáo pháp đã được làm sáng tỏ theo nhiều cách ... Bạch Thế Tôn, xin ngài nhận con làm đệ tử cư sĩ đã quy y ngài cho đến trọn đời. Nay bạch Thế Tôn, xin ngài cùng Tăng đoàn tỳ-kheo nhận lời mời thọ trai vào ngày mai của con."

Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi nhà vua thấy ngài đã đồng ý, ông đứng dậy, đảnh lễ ngài, rồi đi vòng quanh ngài theo chiều bên phải để cáo lui.

Sáng hôm sau, ông sai người chuẩn bị đủ các món ăn ngon lành rồi cho báo giờ: "Đã đến giờ rồi, bạch Thế Tôn, bữa ăn đã sẵn sàng."

Trời đã sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và thượng y, đi vào thành Vương Xá cùng với một đoàn tùy tùng lớn gồm một ngàn tỳ-kheo, tất cả đều là những cựu đạo sĩ tết tóc. Đang lúc các ngài đi, Đế Thích, Vua của chư Thiên, hóa thành một thanh niên bà-la-môn, đi trước Thế Tôn, chắp tay hướng về phía Tăng đoàn do Thế Tôn dẫn đầu và hát những vần kệ:

Đến thành Vương Xá này
Tự chủ và tự do
Cùng đạo sĩ tết tóc
Tự chủ và tự do
Sáng như ngọc dát vàng
Thế Tôn vào Vương Xá
Đến thành Vương Xá này
Tĩnh lặng và tự do ...
Đến thành Vương Xá này
Giải thoát và tự do ...
Đến thành Vương Xá này
Chứng ngộ và tự do ...
Ngài với mười lối sống 6
Cùng với mười sức mạnh
Thấy suốt mười sự vật
Sở hữu mười yếu tố
Cùng đoàn tùy tùng lớn
Vượt mười trăm hùng mạnh
Thế Tôn vào Vương Xá

Khi người dân nhìn thấy Đế Thích, Vua của chư Thiên, họ nói: "Vị thanh niên bà-la-môn này thật khôi ngô, tuấn tú và thanh tao. Anh ta là ai vậy?" Khi nghe vậy, ông đáp lời họ bằng những vần kệ:

Ngài là vị thánh nhân
Luôn tự chủ thanh tịnh
Không ai sánh bằng ngài
Trên toàn cõi thế gian
Tối thượng và Toàn giác
Và ta đi theo ngài

Sau đó, Thế Tôn đến dinh thự của Vua Bình-sa-vương và ngồi vào vị trí đã dọn sẵn, xung quanh là Tăng đoàn tỳ-kheo. Đích thân nhà vua dâng cúng và phục vụ Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu. Khi Thế Tôn thọ trai xong và bỏ bát xuống, nhà vua ngồi xuống một bên. An tọa xong, nhà vua nghĩ: "Nơi nào để Thế Tôn có thể ngụ lại mà không quá xa thành phố cũng không quá gần, tiện đường ra vào, thuận lợi cho những ai muốn đến yết kiến, ban ngày không đông đúc và ban đêm thì yên tĩnh, không bị tiếng ồn quấy rầy, với bầu không khí thanh vắng, nơi có thể lánh xa cõi trần, thuận lợi cho việc tịnh tu?" Sau đó ông nghĩ: "Khu vườn Trúc Lâm của ta hội đủ những yếu tố này. Hay là ta dâng cúng vườn Trúc Lâm cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu?"

Thế rồi ông lấy một bình nước bằng vàng, rót nước cúng dường vườn Trúc Lâm cho Thế Tôn, và thưa: "Bạch Thế Tôn, con xin dâng cúng vườn Trúc Lâm này cho Tăng đoàn tỳ-kheo do Đức Phật dẫn đầu."

Thế Tôn nhận lấy khu vườn. Sau khi chỉ dẫn, khích lệ, truyền cảm hứng và động viên Vua nước Ma-kiệt-đà là Bình-sa-vương bằng những lời giảng về Giáo pháp, ngài đứng dậy và cáo từ.

Vin. Mv. 1:22