Skip to content

Chương 3

SAU KHI GIÁC NGỘ

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời nọ, khi Thế Tôn mới giác ngộ, ngài đang ngự tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới cội Bồ Đề, Cây Giác Ngộ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ngồi thiền định dưới cội Bồ Đề suốt bảy ngày, thọ hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.

Hết bảy ngày, ngài xả thiền, và trong canh một của đêm, tâm ngài quán chiếu thuyết Duyên khởi theo chiều thuận như sau: “Cái này có thì cái kia có; cái này sinh thì cái kia sinh; nói cách khác: Do vô minh làm duyên nên hành sinh; do hành làm duyên nên thức sinh; do thức làm duyên nên danh sắc sinh; do danh sắc làm duyên nên lục nhập sinh; do lục nhập làm duyên nên xúc sinh; do xúc làm duyên nên thọ sinh; do thọ làm duyên nên ái sinh; do ái làm duyên nên thủ sinh; do thủ làm duyên nên hữu sinh; do hữu làm duyên nên sanh sinh; do sanh làm duyên nên già và chết sinh ra, cùng với sầu, bi, khổ, ưu và não; đó là sự tập khởi của toàn bộ khối đau khổ này.”

Hiểu rõ ý nghĩa này, Thế Tôn liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Khi vạn pháp hiển minh,
Vị Phạm chí nhiệt thành, 1
Dứt sạch mọi hồ nghi,
Thấy rõ từng gốc rễ.

Đến canh hai của đêm, tâm ngài quán chiếu thuyết Duyên khởi theo chiều nghịch như sau: “Cái này không có thì cái kia không có; cái này diệt thì cái kia diệt; nói cách khác: Vô minh diệt thì hành diệt; hành diệt thì thức diệt; thức diệt thì danh sắc diệt; danh sắc diệt thì lục nhập diệt; lục nhập diệt thì xúc diệt; xúc diệt thì thọ diệt; thọ diệt thì ái diệt; ái diệt thì thủ diệt; thủ diệt thì hữu diệt; hữu diệt thì sanh diệt; sanh diệt thì già và chết diệt, cùng với sầu, bi, khổ, ưu và não; đó là sự đoạn diệt của toàn bộ khối đau khổ này.”

Hiểu rõ ý nghĩa này, Thế Tôn liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Khi vạn pháp hiển minh,
Vị Phạm chí nhiệt thành,
Dứt sạch mọi hồ nghi,
Thấy các duyên dứt tận.

Đến canh ba của đêm, tâm ngài quán chiếu thuyết Duyên khởi theo cả chiều thuận và chiều nghịch như sau: “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này không có thì cái kia không có; cái này diệt thì cái kia diệt; nói cách khác: Do vô minh làm duyên nên hành sinh; do hành làm duyên nên thức sinh … do sanh làm duyên nên già và chết sinh ra, cùng với sầu, bi, khổ, ưu và não; đó là sự tập khởi của toàn bộ khối đau khổ này. Vô minh diệt thì hành diệt; hành diệt thì thức diệt … sanh diệt thì già và chết diệt, cùng với sầu, bi, khổ, ưu và não; đó là sự đoạn diệt của toàn bộ khối đau khổ này.”

Hiểu rõ ý nghĩa này, Thế Tôn liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Khi vạn pháp hiển minh,
Vị Phạm chí nhiệt thành,
Đứng vững như mặt trời,
Đánh tan đội quân ma.

Ud. 1:1-3; cf. Vin. Mv. 1:1

Sau bảy ngày 2, sau khi xả thiền, Thế Tôn quán chiếu thế gian bằng Phật nhãn. Khi nhìn xem, ngài thấy chúng sinh đang bốc cháy bởi vô vàn ngọn lửa và bị thiêu rụi bởi bao cơn nóng sốt sinh ra từ tham, sân, và si. Hiểu rõ ý nghĩa này, ngài liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Thế gian đầy thống khổ,
Bởi vướng mắc căn trần,
Cái gọi là bản ngã,
Thực chất là ốm đau.
Dù bám chấp điều gì,
Sự thật luôn khác biệt.
Thế gian cứ đổi thay,
Trói buộc vào sinh hữu,
Chỉ thích thú sinh tồn.
Nhưng điều nó đắm say,
Lại mang đến sợ hãi,
Điều sợ hãi là khổ.
Nay sống đời phạm hạnh,
Chính là để dứt sầu. 3

“Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào cho rằng sự giải thoát khỏi sinh hữu có thể đạt được thông qua sự khao khát sinh hữu, ta tuyên bố rằng không ai trong số họ giải thoát khỏi sinh hữu. Và bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào cho rằng lối thoát khỏi sinh hữu có thể đạt được thông qua sự khao khát cõi vô hình (phi hữu), ta tuyên bố rằng không ai trong số họ thoát khỏi sinh hữu. Chính do những yếu tố cốt lõi của sự tồn tại mà khổ đau sinh ra; khi mọi bám chấp cạn kiệt, khổ đau không còn nữa.”

Hãy nhìn thế gian này:
Chúng sinh vướng vô minh,
Đắm say vào sinh hữu,
Chẳng thể nào thoát ra.
Mọi hình thức tồn tại,
Dù ở bất cứ đâu,
Đều là pháp vô thường,
Khổ đau và biến diệt.
Bậc trí thấy như thật,
Diệt khát ái sinh hữu,
Không khao khát phi hữu.
Sự tàn lụi dứt bặt,
Niết-bàn vô dư y, 4
Đến khi ái diệt tận.
Tỷ-kheo chứng Niết-bàn,
Nhờ từ bỏ bám chấp,
Sẽ không còn tái sinh.
Ma vương bị khuất phục,
Trận chiến đã khải hoàn,
Vì bậc thánh như ngài,
Vượt qua mọi sinh hữu.

Ud. 3:10

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Đây cũng là dịp mà sau bảy ngày, Thế Tôn xả thiền và rời khỏi cội Bồ Đề để đi đến cội cây Ajapāla Nigrodha, Cây Đa Của Người Chăn Dê. Ngài ngồi dưới cội cây Ajapāla Nigrodha suốt bảy ngày liền, thọ hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.

Lúc ấy, có một người thuộc tầng lớp bà-la-môn—thuộc kiểu người kiêu ngạo luôn thốt ra những tiếng hừ hừ 5—đến gặp Thế Tôn và chào hỏi ngài. Khi những lời hàn huyên xã giao kết thúc, ông ta đứng sang một bên và nói: “Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là một bà-la-môn? Và những điều gì tạo nên một bà-la-môn?”

Hiểu rõ ý nghĩa này, Thế Tôn liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Bà-la-môn trừ ác,
Không kiêu mạn sạch trong,
Khéo thu thúc bản thân,
Trí tuệ đạt viên mãn,
Sống đời sống phạm hạnh.
Mới xứng danh Phạm chí,
Nếu chẳng màng hư vinh,
Chẳng kiêu hãnh trên đời.

Vin. Mv. 1:2; cf. Ud. 1:4

Lại có dịp mà sau bảy ngày, Thế Tôn xả thiền và rời khỏi cội cây Ajapāla Nigrodha đi đến cội cây Mucalinda.

Vào lúc ấy, một cơn bão lớn trái mùa nổi lên với mưa dầm, gió lạnh và bầu trời u ám suốt bảy ngày. Khi đó, Mucalinda, vị chúa tể loài rồng, chui ra khỏi hang ổ của mình. Vua rồng cuộn mình bảy vòng quanh thân Thế Tôn, rồi phình chiếc mang lớn che chở trên đầu ngài, nghĩ rằng: “Mong sao Thế Tôn không bị lạnh, bị nóng, hay bị ruồi muỗi, gió rết, ánh nắng và các loài bò sát quấy rầy.”

Sau bảy ngày, Mucalinda thấy bầu trời trong xanh không một bóng mây. Rồng liền tháo các vòng thân quanh Thế Tôn. Rồi rồng hóa phép ẩn đi hình dáng thật, biến thành một thanh niên bà-la-môn, đứng trước mặt Thế Tôn chắp tay cung kính đảnh lễ.

Hiểu rõ ý nghĩa này, Thế Tôn liền thốt lên lời cảm hứng sau:

Sống viễn ly an lạc,
Với người biết đủ đầy,
Đã học và thấy Pháp.
Thiện chí với thế gian,
Là niềm vui người nhẫn,
Với muôn loài chúng sinh.
Chẳng vướng bận thế gian,
Là niềm vui người đã,
Vượt lên mọi dục tình.
Nhưng dứt bỏ ngã mạn,
Dứt cái niệm Ta là,
Đấy mới thực sự là,
Niềm vui tột cùng nhất.

Vin. Mv. 1:3; cf. Ud. 2:1

Có một dịp, Thế Tôn xả thiền và rời khỏi cội cây Mucalinda đi đến cội cây Rājāyatana. Ngài ngồi dưới cội cây Rājāyatana suốt bảy ngày liền, thọ hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.

Vào lúc ấy, có hai thương nhân tên là Tapussa và Bhalluka đang đi trên con đường từ Ukkalā. Một vị chư thiên, vốn là người thân của họ trong kiếp trước, mách bảo: “Này các thiện hữu, có Đức Thế Tôn vừa mới giác ngộ đang ngự dưới cội cây Rājāyatana. Các vị hãy đến cúng dường ngài bánh gạo và mật ong. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho các vị.”

Thế là họ mang bánh gạo và mật ong đến chỗ Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, họ đứng sang một bên. Rồi họ thưa: “Bạch Thế Tôn, xin ngài nhận lấy bánh gạo và mật ong này, để chúng con được lợi ích và hạnh phúc lâu dài.”

Thế Tôn nghĩ: “Các bậc Như Lai không nhận vật thực bằng tay không. Ta nên dùng vật gì để nhận bánh gạo và mật ong đây?” Khi ấy, Tứ Đại Thiên Vương thấu hiểu tâm niệm của Thế Tôn, liền từ bốn phương mang đến bốn chiếc bát pha lê: “Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy dùng những chiếc bát này để nhận bánh gạo và mật ong.”

Thế Tôn nhận bánh gạo và mật ong bằng một chiếc bát pha lê mới, và sau khi nhận xong, ngài thọ thực. Sau đó, hai thương nhân Tapussa và Bhalluka thưa: “Chúng con xin quy y Thế Tôn và Giáo pháp. Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử tại gia quy y ngài cho đến trọn đời.”

Vì họ là những đệ tử đầu tiên trên thế gian, nên họ chỉ thọ nhận hai ngôi quy y.

Vin. Mv. 1:4

Rồi có dịp sau bảy ngày, Thế Tôn xả thiền và rời khỏi cội cây Rājāyatana đi đến cội cây Ajapāla Nigrodha, Cây Đa Của Người Chăn Dê.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn đang ngồi tĩnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong ngài: “Có năm căn tu tập, khi được duy trì và phát triển, sẽ hòa vào bất tử, chạm đến bất tử và kết thúc trong bất tử. Năm căn đó là gì? Đó là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, và tuệ căn.”

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati thấu hiểu tâm niệm của Thế Tôn, và nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập hay gập cánh tay đang duỗi, vị ấy biến mất khỏi Phạm thiên giới và xuất hiện ngay trước mặt ngài. Vị ấy vắt áo choàng trên một bờ vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thưa: “Quả đúng như vậy, bạch Thế Tôn; quả đúng như vậy, bạch Thiện Thệ. Khi năm căn này được duy trì và phát triển, chúng sẽ hòa vào bất tử, chạm đến bất tử và kết thúc trong bất tử. Bạch Thế Tôn, thuở xưa con từng tu phạm hạnh dưới thời Đức Phật Kassapa. Khi đó con được biết đến là Tỷ-kheo Sahaka. Chính nhờ duy trì và phát triển năm căn này mà lòng ham muốn nhục dục của con phai nhạt, và sau khi mạng chung thân hoại, con được tái sinh vào cảnh giới an lành, ở cõi Phạm thiên. Tại đây con được biết đến là Phạm thiên Sahampati. Quả đúng như vậy, bạch Thế Tôn; quả đúng như vậy, bạch Thiện Thệ. Con biết và con thấy rõ làm thế nào năm căn này, khi được duy trì và phát triển, sẽ hòa vào bất tử, chạm đến bất tử và kết thúc trong bất tử.”

S. 48:57

Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn đang ngồi tĩnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong ngài: “Con đường này, tức là Tứ Niệm Xứ, là con đường duy nhất 6 đi đến sự thanh tịnh cho chúng sinh, vượt qua sầu bi, diệt trừ khổ ưu, đạt đến chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Bốn điều đó là gì? Một vị tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ưu ở đời. Hoặc vị ấy sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ưu ở đời. Hoặc vị ấy sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ưu ở đời. Hoặc vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, gạt bỏ mọi tham ưu ở đời.”

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati xuất hiện và bày tỏ sự tán thán như trước.

S. 47:18, 43

Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn đang ngồi tĩnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong ngài: “Ta đã thoát khỏi lối tu khổ hạnh ấy; ta đã hoàn toàn thoát khỏi lối tu khổ hạnh vô ích ấy. Hết sức vững vàng và chánh niệm, ta đã đạt được giác ngộ.”

Khi ấy, Ác ma vương thấu hiểu tâm niệm của Thế Tôn, liền tiến đến và nói những vần kệ sau:

Ông bỏ đường khổ hạnh,
Giúp người đời thanh tịnh;
Chẳng tịnh ngỡ mình tịnh.
Đạo thanh tịnh còn xa.

Thế Tôn liền nhận ra Ác ma vương, và ngài đáp lại bằng những vần kệ:

Ta biết những khổ hạnh,
Để đạt cảnh bất tử,
Dù là dưới dạng nào,
Cũng hoàn toàn vô ích,
Như chèo lái trên bờ.
Nhưng chính nhờ tu tập,
Giới, định và trí tuệ,
Ta đạt bậc giác ngộ;
Còn ngươi hỡi Ma vương,
Kẻ diệt vong bại trận.

Khi ấy, Ác ma vương biết rằng: “Thế Tôn đã nhận ra ta, Thiện Thệ đã biết ta.” Buồn bã và thất vọng, hắn lập tức biến mất.

S. 4:1

Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn đang ngồi tĩnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong ngài: “Một người sẽ sống chẳng an vui nếu không có ai để cung kính và nương tựa.

Nhưng có vị sa-môn hay bà-la-môn nào mà ta có thể đến sống cùng, tôn kính và nương tựa vào vị ấy?”

Rồi ngài nghĩ: “Ta có thể sống dưới sự hướng dẫn của một sa-môn hay bà-la-môn khác và tôn kính vị ấy để hoàn thiện giới uẩn chưa hoàn thiện, hoặc định uẩn, hoặc tuệ uẩn, hoặc giải thoát uẩn, hoặc giải thoát tri kiến uẩn. Nhưng ta không thấy trên thế gian này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, hay giữa dòng dõi sa-môn và bà-la-môn, vua chúa và loài người, có vị nào mà những đức hạnh ấy lại hoàn thiện hơn ta để ta có thể đến sống cùng, tôn kính và nương tựa. Nhưng còn Giáo pháp mà ta đã chứng ngộ này—giả sử ta sống nương tựa vào đó, tôn kính và phụng sự Giáo pháp thì sao?”

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati thấu hiểu tâm niệm của Thế Tôn. Vị ấy xuất hiện trước mặt Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, thật là tốt đẹp. Các vị Phật trong quá khứ, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đều đã sống nương tựa vào Giáo pháp, tôn kính và phụng sự Giáo pháp. Và các vị Phật trong tương lai cũng sẽ làm như vậy.”

S. 6:2; A. 4:21

GIỌNG ĐỌC THỨ HAI. Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn đang ngồi tĩnh cư một mình, suy nghĩ này khởi lên trong ngài: “Giáo pháp mà ta vừa chứng ngộ này thật thâm sâu, khó thấy, khó khám phá; đó là cảnh giới tĩnh lặng và thù thắng nhất, không thể đạt được bằng lý luận thông thường, vô cùng vi diệu, chỉ bậc trí mới tự mình trải nghiệm. Nhưng thế nhân lại chuộng ái luyến, ham mê ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Với một thế giới như vậy, thật khó để thấy được chân lý này, tức là tính điều kiện đặc thù, thuyết Duyên khởi. Và cũng khó để thấy được chân lý này, tức là sự tịch tịnh của mọi hành, sự xả ly mọi yếu tố cốt lõi của tồn tại, sự cạn kiệt khát ái, sự phai nhạt tham dục, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu ta giảng dạy Giáo pháp mà người khác không hiểu, thì điều đó chỉ mang lại mệt mỏi và phiền toái cho ta.”

Ngay lúc ấy, những vần kệ chưa từng được nghe này bỗng tự nhiên khởi lên trong ngài:

Thôi việc giảng Giáo pháp,
Mà ta khó đạt được;
Bởi pháp chẳng thể hiểu,
Với kẻ sống tham sân.
Người ngập chìm tham ái,
Bị bóng tối bủa vây,
Sẽ không bao giờ thấy,
Pháp đi ngược dòng đời,
Vô cùng vi diệu này,
Sâu thẳm khó nhận ra.

Suy ngẫm như vậy, tâm ngài hướng về sự tĩnh lặng và không muốn thuyết pháp.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati thấu hiểu tâm niệm của Thế Tôn, liền nghĩ rằng: "Thế gian sẽ lụi tàn, thế gian sẽ hoàn toàn lụi tàn mất thôi; vì tâm của Đấng Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang hướng về sự tĩnh lặng và không muốn thuyết pháp."

Rồi nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập hay gập cánh tay đang duỗi, Phạm thiên Sahampati biến mất khỏi Phạm thiên giới và xuất hiện ngay trước mặt Thế Tôn. Vị ấy vắt áo choàng trên một bờ vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy thuyết pháp. Xin Đấng Thiện Thệ hãy thuyết pháp. Có những chúng sinh với đôi mắt vương ít bụi trần đang lụi tàn dần vì không được nghe Giáo pháp. Một số trong số họ sẽ thấu hiểu trọn vẹn Giáo pháp này."

Sau khi thưa điều này, Phạm thiên Sahampati lại thưa thêm:

Tại xứ Ma-kiệt-đà,
Xưa nay từng xuất hiện,
Giáo pháp không thanh tịnh,
Do kẻ ô nhiễm lập:
Xin mở cửa Bất tử,
Để họ được lắng nghe,
Giáo pháp bậc Vô cấu,
Đã chứng ngộ tìm ra.
Lên lầu cao Giáo pháp,
Hỡi Bậc Thánh minh triết;
Như người đứng trên núi,
Đá tảng nhìn muôn dân,
Xin ngài hãy nhìn xuống,
Hỡi bậc thấu vạn vật,
Sinh linh ngập trong sầu,
Bị sinh già chi phối.
Hãy đứng lên Hùng Tôn,
Bậc chiến thắng mang trí,
Không còn vương nợ nần,
Và du hành thế gian.
Xin tuyên giảng Giáo pháp;
Bởi một số chúng sinh,
Hỡi Đức Thế Tôn ơi,
Sẽ thấu hiểu tỏ tường.

Thế Tôn lắng nghe lời thỉnh cầu của Phạm thiên Sahampati. Khởi lòng bi mẫn đối với chúng sinh, ngài quán sát thế gian bằng Phật nhãn. Giống như trong một hồ sen xanh, sen đỏ hay sen trắng, có những đóa sen sinh ra và lớn lên trong nước, phát triển chìm dưới mặt nước mà không vươn lên, có những đóa sen sinh ra và lớn lên nằm ngang mặt nước, và lại có những đóa sen vươn hẳn lên khỏi mặt nước, đứng vươn mình thanh cao không bị nước làm ướt; cũng vậy, ngài nhìn thấy những chúng sinh mắt vương ít bụi trần và những chúng sinh mắt vương nhiều bụi trần, những người có căn cơ nhạy bén và căn cơ đần độn, mang những đức tính tốt và xấu, dễ dạy và khó dạy, cùng một số người sống mà thấy sợ hãi đời sau và lỗi lầm. Sau khi quán sát, ngài đáp lại bằng kệ:

Cửa Bất tử rộng mở.
Ai nghe hãy khởi tín. 7
Nếu ta từng có ý,
Không giảng pháp vi diệu,
Mà ta đã chứng ngộ,
Chỉ vì ngại mệt mỏi,
Khi phải thuyết giảng thôi.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati nghĩ: “Ta đã thỉnh cầu thành công việc Thế Tôn thuyết pháp.” Sau khi đảnh lễ ngài và nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải, vị ấy lập tức biến mất.

Vin. Mv. 1:5; cf. MN-26 & 85; S. 6:1

Thế Tôn nghĩ: “Ta sẽ giảng Giáo pháp này cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng thấu hiểu Giáo pháp này?” Rồi ngài nghĩ: “Ālāra Kālāma là người khôn ngoan, uyên bác và sáng suốt. Đã từ lâu mắt ông vương ít bụi trần. Giả sử ta thuyết pháp cho ông ấy trước thì sao? Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.”

Lúc ấy, các vị chư thiên vô hình báo cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Ālāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.” Và tri kiến khởi lên trong ngài: “Ālāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.” Ngài nghĩ: “Sự ra đi của Ālāra Kālāma là một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Giáo pháp này, ông ấy sẽ hiểu thấu ngay.”

Thế Tôn nghĩ: “Uddaka Rāmaputta là người khôn ngoan, uyên bác và sáng suốt. Đã từ lâu mắt ông vương ít bụi trần. Giả sử ta thuyết pháp cho ông ấy trước thì sao? Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.”

Lúc ấy, chư thiên vô hình báo cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Uddaka Rāmaputta đã qua đời đêm qua.” Và tri kiến khởi lên trong ngài: “Uddaka Rāmaputta đã qua đời đêm qua.” Ngài nghĩ: “Sự ra đi của Uddaka

Rāmaputta là một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Giáo pháp này, ông ấy sẽ hiểu thấu ngay.”

Thế Tôn nghĩ: “Ta sẽ giảng Giáo pháp này cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng thấu hiểu Giáo pháp này?” Rồi ngài nghĩ: “Nhóm năm vị tỷ-kheo từng chăm sóc ta khi ta đang nỗ lực tu hành đã giúp đỡ ta rất nhiều. Giả sử ta thuyết pháp cho họ trước tiên thì sao?” Sau đó ngài lại nghĩ: “Nhóm năm tỷ-kheo hiện đang ở đâu?” Bằng thiên nhãn thanh tịnh siêu việt mắt phàm, ngài thấy họ đang ở Ba-la-nại trong Vườn Lộc Uyển tại Isipatana, Nơi Chư Thiên Đọa Xứ.

Thế Tôn nán lại ở Uruvelā bao lâu tùy ý, rồi ngài lên đường, đi theo từng chặng để đến Ba-la-nại.

Trên đoạn đường giữa Nơi Giác Ngộ và Gayā, tu sĩ Upaka nhìn thấy ngài. Ông nói: “Này hiền giả, các căn của ngài thật thanh tịnh; làn da của ngài vô cùng trong sáng. Ngài đã xuất gia dưới sự chỉ giáo của ai? Ai là thầy của ngài? Hoặc ngài đang hành trì Giáo pháp của ai?”

Nghe vậy, Thế Tôn đáp lời tu sĩ Upaka bằng những vần kệ:

Ta vượt lên tất cả, 8
Thấu hiểu mọi ngọn nguồn,
Chẳng vướng bận điều chi,
Xả ly mọi thế sự,
Giải thoát ái diệt tận.
Đạt được nhờ trí tuệ,
Của chính bản thân ta.
Hỏi ta tôn xưng ai?
Ta không có đạo sư,
Trên toàn cõi thế gian,
Cùng với mọi chư thiên,
Chẳng ai sánh bằng ta,
Chẳng có ai tương đương.
Ta là bậc Đạo sư,
Tuyệt luân trên thế gian,
Là bậc đã vẹn toàn,
Là Chánh giác duy nhất,
Mọi phiền não tịch diệt.
Ta đến thành Kāsi,
Để chuyển bánh xe Pháp:
Trong thế gian mù lòa,
Ta gióng trống Bất tử.

“Theo những gì ngài nói, này hiền giả, ngài là bậc Thắng Giả Vô Biên.”

Những Thắng giả như ta,
Này ông Upaka,
Là người dứt lậu hoặc;
Ta diệt mọi ác pháp:
Nhờ đó thành Thắng giả.

Nghe vậy, tu sĩ Upaka đáp: “Có thể là vậy, thưa hiền giả”; rồi ông lắc đầu, rẽ sang con đường khác và rời đi.

Rồi thong thả bộ hành qua từng chặng đường, cuối cùng Thế Tôn đã đến Ba-la-nại, tới Vườn Lộc Uyển ở Isipatana, nơi nhóm năm tỷ-kheo đang lưu trú. Họ thấy ngài đang tiến đến từ đằng xa. Thế là họ bảo nhau: “Này các hiền giả, đằng kia là sa-môn Gotama đang đi đến, người đã trở nên buông lung, từ bỏ nỗ lực tu hành và quay về lối sống sung sướng. Chúng ta không nên đảnh lễ, không đứng dậy chào, cũng không đón lấy bình bát và y áo của ông ấy. Nhưng vẫn nên dọn sẵn một chỗ ngồi. Nếu thích thì ông ấy cứ ngồi.”

Nhưng ngay khi Thế Tôn vừa đến gần, họ nhận ra mình không thể giữ đúng giao ước. Một người ra đón ngài và nhận lấy bình bát cùng y áo; người khác soạn chỗ ngồi; người khác nữa chuẩn bị nước, bệ gác chân và khăn lau. Thế Tôn ngồi lên chỗ đã dọn và rửa chân. Họ gọi tên ngài và xưng hô bằng “hiền giả.”

Khi nghe gọi như vậy, ngài nói với họ: “Này các tỷ-kheo, đừng gọi Đấng Như Lai bằng tên hay xưng hô bằng ‘hiền giả’: Đấng Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng nghe, này các tỷ-kheo, Bất tử đã đạt được. Ta sẽ chỉ dạy cho các ông. Ta sẽ giảng Giáo pháp cho các ông. Nhờ thực hành theo đúng lời chỉ dạy, các ông sẽ ngay tại đời này tự mình chứng ngộ qua trực giác, bước vào và an trú trong mục đích tối thượng của phạm hạnh, điều mà các thiện gia nam tử đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không nhà hằng hướng đến.”

Khi ấy, nhóm năm tỷ-kheo nói: “Hiền giả Gotama, ngay cả với những gian khổ, thiếu thốn và sự khổ hạnh mà ngài đã từng thực hành, ngài vẫn chưa đạt được pháp thượng nhân nào xứng tầm với tri kiến của bậc thánh. Bây giờ ngài đã trở nên buông lung, từ bỏ nỗ lực tu hành và quay về lối sống sung sướng, thì làm sao ngài lại đạt được bất kỳ sự chứng đắc nào như vậy chứ?”

Thế Tôn liền đáp lại nhóm năm tỷ-kheo: “Đấng Như Lai không buông lung, ngài không từ bỏ nỗ lực, ngài không quay về lối sống sung sướng. Đấng Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng nghe, này các tỷ-kheo, Bất tử đã đạt được. Ta sẽ chỉ dạy cho các ông. Ta sẽ giảng Giáo pháp cho các ông. Nhờ thực hành theo đúng lời chỉ dạy, các ông sẽ ngay tại đời này tự mình chứng ngộ qua trực giác, bước vào và an trú trong mục đích tối thượng của phạm hạnh, điều mà các thiện gia nam tử đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không nhà hằng hướng đến.”

Lần thứ hai nhóm năm tỷ-kheo nói lại điều tương tự với ngài; và lần thứ hai ngài vẫn đưa ra câu trả lời như cũ. Lần thứ ba họ lại nói điều đó. Khi nghe vậy, ngài hỏi họ: “Này các tỷ-kheo, các ông có bao giờ thấy ta nói như thế này trước đây chưa?” “Bạch Thế Tôn, chưa từng.”

“Đấng Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng nghe, này các tỷ-kheo, Bất tử đã đạt được. Ta sẽ chỉ dạy cho các ông. Ta sẽ giảng Giáo pháp cho các ông. Nhờ thực hành theo đúng lời chỉ dạy, các ông sẽ ngay tại đời này tự mình chứng ngộ qua trực giác, bước vào và an trú trong mục đích tối thượng của phạm hạnh, điều mà các thiện gia nam tử đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không nhà hằng hướng đến.”

Vin. Mv.1:6; cf. MN-26 & 85

Thế Tôn đã có thể thuyết phục được họ. Họ lắng nghe Thế Tôn; họ lắng nghe và mở rộng tâm hồn đón nhận tri kiến. Rồi Thế Tôn nói với nhóm năm tỷ-kheo như sau:

(Chuyển Pháp Luân)

“Này các tỷ-kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia không nên vướng vào. Hai cực đoan đó là gì? Đó là đắm chìm trong việc chạy theo các dục lạc thế gian, vốn là điều thấp kém, thô thiển, phàm tục, không cao thượng và đầy tai hại; và đắm chìm trong sự khổ hạnh ép xác, vốn đau đớn, không cao thượng và đầy tai hại. Con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ tránh xa cả hai cực đoan này; con đường ấy mang lại nhãn quan, mang lại tri kiến, và dẫn đến sự bình an, trí tuệ trực giác, giác ngộ, và Niết-bàn. Con đường trung đạo đó là gì? Đó chính là Bát Chi Thánh Đạo, bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đó chính là con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ, mang lại nhãn quan, mang lại tri kiến, và dẫn đến sự bình an, trí tuệ trực giác, giác ngộ, và Niết-bàn.

“Đây là thánh đế về khổ: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán táng hội (ghét mà phải gặp) là khổ, ái biệt ly (thương mà phải xa) là khổ, cầu bất đắc (mong cầu không được) là khổ—tóm lại, năm uẩn thủ 9 là khổ.

“Đây là thánh đế về nguồn gốc của khổ: đó chính là khát ái, nguyên nhân dẫn đến sự tái sinh, gắn liền với sự tham đắm và dục vọng, đắm say chỗ này chỗ kia; nói cách khác, là dục ái, hữu ái, và phi hữu ái.

“Đây là thánh đế về sự đoạn diệt của khổ: đó là sự tàn lụi và chấm dứt không còn tàn dư, sự từ bỏ, xả ly, buông bỏ và khước từ chính cái khát ái đó.

“Đây là thánh đế về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ: đó chính là Bát Chi Thánh Đạo, bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

“ 'Đây là thánh đế về khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này cần phải được thấu triệt bằng cách liễu tri trọn vẹn sự khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này đã được thấu triệt bằng cách liễu tri trọn vẹn sự khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó.

“ 'Đây là thánh đế về nguồn gốc của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này cần phải được thấu triệt bằng cách dứt bỏ nguồn gốc của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này đã được thấu triệt bằng cách dứt bỏ nguồn gốc của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó.

“ 'Đây là thánh đế về sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này cần phải được thấu triệt bằng cách chứng ngộ sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này đã được thấu triệt bằng cách chứng ngộ sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó.

“ 'Đây là thánh đế về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này cần phải được thấu triệt bằng cách tu tập 10 con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó. 'Thánh đế này đã được thấu triệt bằng cách tu tập con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ': nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng này đã khởi sinh trong ta về những pháp chưa từng được nghe trước đó.

“Chừng nào mà tri kiến chân thật của ta về mười hai khía cạnh này—trong ba giai đoạn quán sát đối với từng chân lý trong Tứ Thánh Đế—chưa thực sự thanh tịnh, ta vẫn chưa tuyên bố rằng ta đã đạt được vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trên toàn thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, hay giữa dòng dõi sa-môn và bà-la-môn, vua chúa và loài người. Nhưng khi tri kiến chân thật của ta về mười hai khía cạnh này—trong ba giai đoạn của Tứ Thánh Đế—đã hoàn toàn thanh tịnh, khi ấy ta mới tuyên bố rằng ta đã đạt được vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trên toàn thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, hay giữa dòng dõi sa-môn và bà-la-môn, vua chúa và loài người.

“Tri kiến và nhãn quan khởi sinh trong ta: 'Sự giải thoát của tâm ta là bất động; đây là kiếp sống cuối cùng; sẽ không còn sự tái sinh nào nữa.' ”

Vin. Mv. 1:6; S. 56:11

Ngay khi bài pháp này đang được thuyết giảng, nhãn quan vô cấu, thanh tịnh về Pháp đã khởi sinh trong tôn giả Kondañña như sau: Phàm pháp nào có tính sinh khởi, pháp đó đều có tính đoạn diệt.

Và khi Bánh Xe Pháp được Thế Tôn vận chuyển, các vị thần đất liền lớn tiếng xướng lên: “Tại Ba-la-nại, trong Vườn Lộc Uyển ở Isipatana, Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã vận chuyển Bánh Xe Pháp vô thượng mà không một sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai trên đời có thể ngăn cản được.” Nghe thấy tiếng xướng của thần đất, chư thiên cõi Tứ Thiên Vương xướng lên: “Tại Ba-la-nại ...” Chư thiên cõi Đao Lợi ... chư thiên cõi Đâu Suất ... chư thiên cõi Dạ Ma ... chư thiên cõi Hóa Lạc ... chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại ... và chư thiên thuộc quyến thuộc của Phạm thiên cũng xướng lên: “Tại Ba-la-nại ...”

Như vậy trong khoảnh khắc ấy, trong phút giây ấy, tin tức này đã truyền thẳng lên tận cõi Phạm thiên. Toàn bộ mười ngàn thế giới này đều rung chuyển, chấn động, run rẩy, trong khi một thứ ánh sáng rực rỡ vô lượng vượt xa cả hào quang của chư thiên hiện ra trên thế gian.

Khi ấy Thế Tôn thốt lên: “Kondañña đã hiểu rồi, Kondañña đã hiểu rồi!” Và đó là cách vị tôn giả ấy có được cái tên Aññāta Kondañña—Kondañña người đã tỏ ngộ.

Lúc bấy giờ, Aññāta Kondañña, người đã thấy, đã chạm đến, đã tìm ra và thấu triệt Giáo pháp, người đã gạt bỏ những hoang mang, xóa tan mọi nghi ngờ, đạt được sự tự tin trọn vẹn và không còn phải phụ thuộc vào ai khác trong Giáo pháp của bậc Đạo sư, đã thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con nguyện được xuất gia theo Thế Tôn và thọ nhận giới tu sĩ đầy đủ.”

“Hãy đến đây, tỷ-kheo,” Thế Tôn nói: “Giáo pháp đã được tuyên thuyết rõ ràng. Hãy sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn đau khổ.” Và đó chính là lễ thọ giới đầy đủ của ông.

Sau đó, Thế Tôn tiếp tục giảng dạy và hướng dẫn các tỷ-kheo còn lại bằng những lời thuyết pháp. Khi ngài làm vậy, nhãn quan vô cấu, thanh tịnh về Pháp đã khởi sinh trong tôn giả Vappa và tôn giả Bhaddiya: Phàm pháp nào có tính sinh khởi, pháp đó đều có tính đoạn diệt. Họ cũng xin và được thọ nhận giới tu sĩ đầy đủ.

Rồi nhờ dùng bữa bằng thức ăn mà họ mang đến, Thế Tôn tiếp tục giảng dạy và hướng dẫn các tỷ-kheo còn lại. Cả sáu người cùng chung sống dựa vào số thức ăn mà ba người trong nhóm mang về. Sau đó, nhãn quan vô cấu, thanh tịnh về Pháp đã khởi sinh trong tôn giả Mahānāma và tôn giả Assaji, và họ cũng xin và được thọ nhận giới tu sĩ đầy đủ.

Khi ấy, Thế Tôn dạy các tỷ-kheo như sau:

Vin. Mv. 1:6

(Kinh Vô Ngã Tướng)

“Này các tỷ-kheo, sắc (thân thể) không phải là ngã. Nếu sắc là ngã, thì sắc này sẽ không dẫn đến sự khổ não, và người ta có thể mong cầu về sắc rằng: ‘Mong sao sắc của ta như thế này; mong sao sắc của ta đừng như thế kia.’ Nhưng chính vì sắc không phải là ngã nên nó dẫn đến sự khổ não, và người ta không thể mong cầu về sắc rằng: ‘Mong sao sắc của ta như thế này; mong sao sắc của ta đừng như thế kia.’

“Thọ không phải là ngã...

“Tưởng không phải là ngã...

“Hành không phải là ngã...

“Thức không phải là ngã. Nếu thức là ngã, thì thức này sẽ không dẫn đến sự khổ não, và người ta có thể mong cầu về thức rằng: ‘Mong sao thức của ta như thế này; mong sao thức của ta đừng như thế kia.’ Nhưng chính vì thức không phải là ngã nên nó dẫn đến sự khổ não, và người ta không thể mong cầu về thức rằng: ‘Mong sao thức của ta như thế này; mong sao thức của ta đừng như thế kia.’

“Các ông nghĩ thế nào, này các tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?”—“Bạch Thế Tôn, vô thường.”—“Nhưng cái gì vô thường là khổ hay vui?”—“Bạch Thế Tôn, là khổ.”—“Vậy có hợp lý chăng khi xem cái gì vô thường, khổ và chịu sự biến hoại là: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?’”—“Bạch Thế Tôn, không.”

“Các ông nghĩ thế nào, thọ là thường ... “Các ông nghĩ thế nào, tưởng là thường ... “Các ông nghĩ thế nào, hành là thường ...

“Các ông nghĩ thế nào, thức là thường hay vô thường?”—“Bạch Thế Tôn, vô thường.”—“Nhưng cái gì vô thường là khổ hay vui?”—“Bạch Thế Tôn, là khổ.”—“Vậy có hợp lý chăng khi xem cái gì vô thường, khổ và chịu sự biến hoại là: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?’”—“Bạch Thế Tôn, không.”

“Do đó, này các tỷ-kheo, bất kỳ sắc nào, dù ở quá khứ, vị lai hay hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả đều phải được nhìn nhận đúng như thật bằng chánh trí như sau: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’

“Bất kỳ thọ nào ...

“Bất kỳ tưởng nào...

“Bất kỳ hành nào...

“Bất kỳ thức nào, dù ở quá khứ, vị lai hay hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả đều phải được nhìn nhận đúng như thật bằng chánh trí như sau: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’

“Thấy được như vậy, này các tỷ-kheo, bậc hiền thánh đệ tử sinh lòng yếm ly (chán bỏ) đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly nên dục vọng phai nhạt; nhờ dục vọng phai nhạt nên tâm được giải thoát; khi được giải thoát, tri kiến sinh khởi: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ ”

Đó là những lời Thế Tôn dạy. Nhóm năm vị tỷ-kheo vui mừng và hoan hỷ trước những lời của ngài. Và ngay khi bài pháp này đang được thuyết giảng, tâm của nhóm năm vị tỷ-kheo đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không còn bám chấp.

Và lúc bấy giờ có sáu bậc A-la-hán, sáu bậc đã trọn vẹn ở trên thế gian.

Vin. Mv. 1:6; cf. S. 22:59