Chương 2
HÀNH TRÌNH TÌM CẦU GIÁC NGỘ
NGƯỜI KỂ MỘT. Lời kể về việc Xuất gia trong các tạng kinh (Piṭakas) gây ấn tượng mạnh bởi sự giản dị trần trụi. Những chi tiết phức tạp của các phiên bản sau này đều không có ở đây, giống như trong phiên bản cổ xưa nhất về sự đản sinh và những năm tháng đầu đời. Dưới đây là câu chuyện, được trích từ nhiều bài kinh mà Ngài đã giảng cho những người khác nhau.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Trước khi giác ngộ, khi ta mới chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, bản thân ta còn phải chịu cảnh sinh, già, bệnh, chết, sầu bi và phiền não, ta đã tìm kiếm những gì cũng phải chịu những cảnh ngộ đó. Rồi ta nghĩ: ‘Tại sao, bản thân ta phải chịu cảnh sinh, già, bệnh, chết, sầu bi và phiền não, lại đi tìm kiếm những thứ cũng chung số phận ấy? Giả sử, tuy bản thân phải chịu những điều này, nhưng thấy được sự nguy hiểm của chúng, ta đi tìm kiếm sự giải thoát vô thượng khỏi mọi trói buộc: không sinh, không già, không bệnh, không chết, không sầu bi, không phiền não, tức là Niết Bàn thì sao?’ ”
“Trước khi giác ngộ, khi ta mới chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, ta nghĩ: ‘Đời sống gia đình thật chật chội và đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thì thênh thang rộng mở. Sống trong gia đình, thật không dễ gì để giữ gìn phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh khiết như vỏ ốc được đánh bóng. Giả sử ta cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, và từ bỏ gia đình để sống đời không nhà thì sao?’ ”
MN-36, 100
“Sau này, khi vẫn còn trẻ, một chàng trai tóc đen tràn đầy thanh xuân, ở giai đoạn đầu của cuộc đời, ta đã cạo bỏ râu tóc—mặc cho cha mẹ không mong muốn và khóc lóc thảm thiết—ta khoác lên mình tấm áo cà sa và từ bỏ đời sống gia đình để bước vào chốn không nhà.”
MN-26, 36, 85, 100
NGƯỜI TỤNG KỆ.
Nay ta kể chuyện ngài,
Đấng Đại Tiên xuất gia,
Bị gạn hỏi nguyên do,
Cớ sao lìa nhà thế.
Sống chật chội trong nhà,
Hít thở đầy bụi bặm;
Đời xuất gia rộng mở:
Thấy vậy, ngài xuất gia.
Làm thế ngài chối bỏ,
Mọi ác nghiệp của thân,
Loại trừ lời tà ngữ,
Lại chánh mạng nuôi mình.
Ngài đến Vương Xá thành,
Vương quốc xứ Ma-kiệt;
Nơi đó Phật khất thực,
Vẻ đẹp tỏa tuyệt trần.
Tần-bà-sa-la vương,
Trong điện nhìn ngài bước,
Và khi thấy vẻ đẹp,
Của các tướng tốt ấy,
Vua bảo: "Nhìn kìa khanh;
Người kia sao đẹp thế,
Oai phong và thanh tịnh;
Mắt nhìn xuống chánh niệm,
Nhìn bằng một ách cày;
Không phải dòng dõi thấp.
Mau cử người theo dõi,
Xem vị sư đi đâu."
Sứ giả đi ngay tức,
Bám sát theo bước ngài:
"Vị sư sẽ đi đâu?
Đâu là nơi trú ngụ?
Ngài đi từng nhà một,
Thu thúc các căn môn,
Chánh niệm và tỉnh giác.
Bình bát sớm đã đầy;
Khất thực nay đã xong.
Đạo Sư liền rời thị,
Lên đường đến Bàn-đà;
Hẳn trú đồi Bàn-đà."
Nay về đến trú xứ,
Sứ giả đến gần ngài;
Rồi một người quay lại,
Tâu vua để trả lời:
"Muôn tâu, sư như cọp,
Như bò, hay sư tử,
Đang ngồi trong hang đá,
Triền đông núi Bàn-đà."
Vua nghe lời sứ báo.
Liền cho gọi cữỡi xe,
Nhanh chóng rời khỏi thành,
Tiến ra đồi Bàn-đà.
Vua đi xa hết sức,
Rồi bèn bước xuống xe;
Quãng đường ngắn còn lại,
Đi bộ đến Đạo Sư.Vua ngồi rồi chào hỏi,
Hỏi thăm sức khỏe ngài.
Khi chào hỏi xong xuôi,
Vua ngỏ lời hỏi thăm:
"Ngài thanh niên còn trẻ,
Tuổi đời vẫn thanh xuân.
Vẻ khôi ngô rạng rỡ,
Dòng dõi quý tộc cao,
Xứng đứng trong quân lớn,
Thống lĩnh đàn voi trận.
Xin ban ngài gia tài,
Mời ngài hãy nhận lấy.
Xin hỏi về xuất thân,
Mong ngài hãy nói ra.""Có đất nước thịnh vượng,
Tâu đại vương, hùng mạnh,
Nằm ngay sát dưới chân,
Dãy núi Tuyết Sơn đó,
Dân Kiều-tát-la ở,
Mang tên gọi Mặt Trời,
Dòng dõi là Thích Ca.
Nhưng tôi không xuất gia,
Để tìm thú dục lạc.Tôi ra đi phấn đấu,
Thấy hiểm nguy dục lạc,
Và thấy sự an toàn,
Nơi con đường buông bỏ.
Đó là ước nguyện tôi."
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Khi đó ta từ bỏ đời sống gia đình để sống cảnh không nhà nhằm tìm kiếm điều thiện 1,” tìm kiếm trạng thái tối thượng của sự bình an vĩ đại. Do đó, ta đi đến chỗ của Ālāra Kālāma, và nói với ông ấy: ‘Này hiền giả Kālāma, tôi muốn tu tập phạm hạnh trong Pháp và Luật này.’
“Khi ta nói vậy, Ālāra Kālāma bảo ta: ‘Tôn giả có thể ở lại đây. Giáo pháp này là như vậy, không bao lâu nữa một người trí tuệ có thể tự mình chứng ngộ và an trú trong đó, tự mình thấu hiểu những gì bậc đạo sư của mình đã biết.’
“Ta nhanh chóng học được giáo pháp này. Ta cho rằng nếu chỉ đọc thuộc lòng và diễn đạt lại giáo pháp của ông ấy thì ta có thể nói bằng sự hiểu biết và tự tin, và rằng ta đã biết và thấy—và có những người khác cũng làm được như vậy.
“Ta nghĩ: ‘Không phải chỉ bằng niềm tin đơn thuần mà Ālāra Kālāma tuyên bố giáo pháp của mình; mà chính bởi vì ông ấy đã đắc và an trú trong đó, tự mình chứng ngộ điều đó thông qua trí tuệ trực tiếp. Chắc chắn ông ấy an trú trong giáo pháp này với sự hiểu và thấy rõ.’
“Rồi ta đến chỗ Ālāra Kālāma, và hỏi: ‘Này hiền giả Kālāma, ngài tuyên bố đã đắc giáo pháp này đến mức độ nào, để tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp?’
“Khi nghe hỏi vậy, ông ấy tuyên bố về Vô sở hữu xứ. Ta chợt nghĩ: ‘Không phải chỉ có Ālāra Kālāma mới có tín, tấn, niệm, định và tuệ, mà ta cũng có những căn cơ ấy. Giả sử ta nỗ lực để chứng ngộ giáo pháp mà ông ấy tuyên bố là đã đắc và an trú, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp thì sao?’
“Ta đã sớm thành công. Sau đó, ta đến chỗ Ālāra Kālāma và hỏi: ‘Hiền giả Kālāma, có phải đây là mức độ mà ngài tuyên bố đã đắc và an trú trong giáo pháp này, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp không?’ và ông ấy xác nhận là đúng.
“‘Thưa hiền giả, tôi cũng đã đắc và an trú trong giáo pháp này đến mức độ đó, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp.’
“‘Chúng ta thật may mắn, hiền giả ơi, chúng ta thực sự rất may mắn khi tìm được một bậc đáng kính như vậy làm bạn đồng tu. Vậy là giáo pháp mà tôi tuyên bố đã đắc, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp, cũng là giáo pháp mà ngài đã đắc và an trú, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp. Và giáo pháp ngài đắc và an trú, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp, cũng là giáo pháp tôi tuyên bố đã đắc, tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp. Vậy là ngài biết giáo pháp mà tôi biết; tôi biết giáo pháp mà ngài biết. Tôi như thế nào thì ngài như thế ấy: ngài như thế nào thì tôi như thế ấy. Nào, thưa hiền giả, giờ chúng ta hãy cùng nhau dẫn dắt hội chúng này.’ Như vậy, Ālāra Kālāma, bậc đạo sư của ta, đã đặt ta, một đệ tử của ông, ngang hàng với chính mình, ban cho ta vinh dự cao nhất.
‘Giáo pháp này không dẫn đến sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, trí tuệ trực tiếp, giác ngộ, hay Niết Bàn, mà chỉ dẫn đến Vô sở hữu xứ.’ Ta không hài lòng với giáo pháp đó. Ta đã rời đi để tiếp tục hành trình tìm kiếm.
“Vẫn trên con đường tìm kiếm điều thiện, tìm kiếm trạng thái tối thượng của sự bình an vĩ đại, ta đến chỗ Uddaka Rāmaputta, và nói với ông ấy: ‘Thưa hiền giả, tôi muốn tu tập phạm hạnh trong Pháp và Luật này.’ ”
MN-26, 36, 85, 100
NGƯỜI KỂ MỘT. Trải nghiệm của ngài dưới sự hướng dẫn của Uddaka Rāmaputta được kể lại bằng chính xác những lời lẽ đó, ngoại trừ việc ngài đã học từ ông ấy một mức độ chứng đạt thậm chí còn cao hơn là Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Uddaka Rāmaputta đã trao cho ngài quyền lãnh đạo duy nhất đối với hội chúng đó. Nhưng kết luận vẫn như cũ.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Ta nghĩ: ‘Giáo pháp này không dẫn đến sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, trí tuệ trực tiếp, giác ngộ, hay Niết Bàn, mà chỉ dẫn đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Ta không hài lòng với giáo pháp đó. Ta đã rời đi để tiếp tục hành trình tìm kiếm.
“Vẫn trên con đường tìm kiếm điều thiện, tìm kiếm trạng thái tối thượng của sự bình an vĩ đại, ta lang thang qua nhiều chặng đường quanh xứ Ma-kiệt-đà và cuối cùng đến Senānigāma gần Uruvelā. Nơi đó ta thấy một dải đất dễ chịu, một khu rừng hỉ lạc, một dòng sông nước trong vắt với đôi bờ bằng phẳng êm đềm, và gần đó là một ngôi làng để đi khất thực. Ta nghĩ: ‘Chỗ này rất phù hợp cho sự tu tập của một thiện nam tử đang tìm kiếm con đường tu tập.’
MN-26, 36, 85, 100
“Rồi trước khi giác ngộ, khi ta mới chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, ta nghĩ: ‘Những nơi rừng sâu núi thẳm hẻo lánh thật khó mà chịu đựng, sự biệt lập thật khó mà đạt được, sự cô độc thật khó mà tận hưởng; người ta hẳn sẽ nghĩ rừng sâu sẽ cướp đi tâm trí của một vị tỳ kheo nếu vị ấy không có định lực.’
“Ta nghĩ: ‘Giả sử có vị sa môn hay bà la môn nào có thân, khẩu, ý hoặc sinh kế không thanh tịnh, còn tham lam và đắm nhiễm sắc dục, hay hiểm độc, mang tâm sân hận, hay là nạn nhân của sự hôn trầm và thụy miên, hay tâm dao động và không an tịnh, hay nghi ngờ và không kiên định; hay khoe khoang và hạ thấp người khác, dễ bị hoảng sợ và kinh hãi, ham muốn lợi lộc, danh vọng và tiếng tăm; lười biếng và thiếu tinh tấn, thất niệm và không tỉnh giác, tâm không định và bối rối, thiếu trí tuệ, và nói năng hàm hồ—khi một vị sa môn hay bà la môn như vậy đi vào chốn rừng sâu núi thẳm hẻo lánh, thì do những lỗi lầm đó, vị ấy sẽ sinh ra những sợ hãi và kinh hãi bất thiện 2. Nhưng ta không đi vào chốn rừng rậm hẻo lánh như một trong số họ. Ta không có những khuyết điểm đó. Ta đi vào chốn rừng rậm hẻo lánh như một trong những bậc thánh nhân, những người hoàn toàn không có các khuyết điểm này.’ Nhìn thấy bản thân mình thoát khỏi những khuyết điểm như vậy, ta tìm thấy sự an ủi lớn lao khi sống ở trong rừng.
“Ta nghĩ: ‘Nhưng có những đêm linh thiêng đặc biệt vào các kỳ trăng khuyết ngày mười bốn, rằm mười lăm, và trăng bán nguyệt mùng tám; giả sử ta dành những đêm đó ở các chốn thiêng liêng đáng sợ như đền miếu trong vườn, đền miếu trong rừng và đền miếu dưới gốc cây, những nơi khiến người ta dựng tóc gáy—biết đâu ta sẽ đối mặt với nỗi sợ hãi và kinh hãi đó chăng?’
“Và sau đó, vào những đêm linh thiêng đặc biệt như kỳ trăng khuyết mười bốn, rằm mười lăm và trăng bán nguyệt mùng tám, ta đã ở trong những nơi đáng sợ như đền miếu trong vườn, đền miếu trong rừng và đền miếu dưới gốc cây, những nơi làm người ta dựng tóc gáy. Và khi ta đang ở đó, có một con hươu tiến lại gần ta, hay một con công làm gãy nhánh cây, hay gió thổi xào xạc qua tán lá. Lúc đó ta nghĩ: ‘Chắc chắn nỗi sợ hãi và kinh hãi đang đến rồi.’
“Ta nghĩ: ‘Tại sao ta cứ phải sống trong sự chờ đợi nỗi sợ hãi và kinh hãi không ngừng? Tại sao không khuất phục nỗi sợ hãi và kinh hãi đó trong khi vẫn giữ nguyên tư thế hiện tại khi nó đến?’
“Và trong khi ta đang đi kinh hành, nỗi sợ hãi và kinh hãi ập đến; nhưng ta không đứng lại, không ngồi xuống cũng không nằm xuống cho đến khi ta khuất phục được nỗi sợ hãi và kinh hãi đó. Khi ta đang đứng, nỗi sợ hãi và kinh hãi ập đến; nhưng ta không bước đi, không ngồi cũng không nằm cho đến khi ta khuất phục được nỗi sợ hãi và kinh hãi đó. Khi ta đang ngồi, nỗi sợ hãi và kinh hãi ập đến; nhưng ta không bước đi, không đứng cũng không nằm cho đến khi ta khuất phục được nỗi sợ hãi và kinh hãi đó. Khi ta đang nằm, nỗi sợ hãi và kinh hãi ập đến; nhưng ta không bước đi, không đứng cũng không ngồi cho đến khi ta khuất phục được nỗi sợ hãi và kinh hãi đó.” MN-4
“Lúc bấy giờ, ba ví dụ bỗng nhiên hiện lên trong ta, những ví dụ ta chưa từng nghe trước đây.
“Giả sử có một khúc gỗ ướt, đầy nhựa đang ngâm trong nước, và có một người mang một thanh củi khô đến để cọ lấy lửa, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ châm lửa, ta sẽ tạo ra nhiệt,’ theo ngươi nghĩ, liệu người đó có thể châm lửa và tạo ra nhiệt bằng cách lấy thanh củi khô cọ xát vào khúc gỗ ướt, đầy nhựa đang ngâm trong nước không?”—“Không, thưa Thế Tôn. Tại sao không? Bởi vì đó là một khúc gỗ ướt, đầy nhựa; và hơn nữa nó lại đang ngâm trong nước. Nên người đó sẽ chỉ rước lấy sự mệt mỏi và thất vọng.”—“Cũng vậy, trong khi một vị sa môn hay bà la môn sống mà thân và tâm vẫn chưa từ bỏ dục lạc, và trong khi sự tham muốn, ái luyến, đắm say, khát khao và khao khát dục lạc của vị ấy vẫn chưa hoàn toàn được dứt bỏ và lắng dịu bên trong, thì dù vị sa môn hay bà la môn tốt lành ấy có cảm thấy những cảm thọ đau đớn, quằn quại, nhói buốt do nỗ lực tu tập mang lại hay không, trong cả hai trường hợp, vị ấy cũng không thể có được tri kiến và sự giác ngộ vô thượng. Đây là ví dụ thứ nhất bỗng nhiên hiện lên trong ta, chưa từng được nghe trước đây.
“Lại nữa, giả sử có một khúc gỗ ướt, đầy nhựa nằm trên cạn xa nguồn nước, và có một người mang thanh củi khô đến để cọ lấy lửa, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ châm lửa, ta sẽ tạo ra nhiệt,’ theo ngươi nghĩ, liệu người đó có thể châm lửa và tạo ra nhiệt bằng cách lấy thanh củi khô cọ xát vào khúc gỗ ướt, đầy nhựa nằm trên cạn xa nguồn nước không?”—“Không, thưa Thế Tôn. Tại sao không? Bởi vì đó là một khúc gỗ ướt, đầy nhựa, dù nó nằm trên cạn xa nguồn nước. Nên người đó sẽ chỉ rước lấy sự mệt mỏi và thất vọng.”—“Cũng vậy, trong khi một vị sa môn hay bà la môn sống mà chỉ mới buông bỏ dục lạc về mặt thể xác, và trong khi sự tham muốn, ái luyến, đắm say, khát khao và khao khát dục lạc vẫn chưa hoàn toàn được dứt bỏ và lắng dịu bên trong, thì dù vị sa môn hay bà la môn tốt lành ấy có cảm thấy những cảm thọ đau đớn, quằn quại, nhói buốt do nỗ lực tu tập mang lại hay không, trong cả hai trường hợp, vị ấy cũng không thể có được tri kiến và sự giác ngộ vô thượng. Đây là ví dụ thứ hai bỗng nhiên hiện lên trong ta, chưa từng được nghe trước đây.
“Lại nữa, giả sử có một khúc gỗ khô, không còn nhựa nằm trên cạn xa nguồn nước, và có một người mang thanh củi khô đến để cọ lấy lửa, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ châm lửa, ta sẽ tạo ra nhiệt,’ theo ngươi nghĩ, liệu người đó có thể châm lửa và tạo ra nhiệt bằng cách lấy thanh củi khô cọ xát vào khúc gỗ khô, không còn nhựa nằm trên cạn xa nguồn nước không?”—“Thưa có, Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì đó là một khúc gỗ khô, không còn nhựa, và hơn nữa, nó đang nằm trên cạn xa nguồn nước.”—“Cũng vậy, khi một vị sa môn hay bà la môn sống mà cả thân và tâm đều đã xa lìa dục lạc, và khi sự tham muốn, ái luyến, đắm say, khát khao và khao khát dục lạc đã hoàn toàn được dứt bỏ và lắng dịu bên trong, thì dù vị sa môn hay bà la môn tốt lành ấy có cảm thấy những cảm thọ đau đớn, quằn quại, nhói buốt do nỗ lực tu tập mang lại hay không, trong cả hai trường hợp, vị ấy đều có khả năng có được tri kiến và sự giác ngộ vô thượng. Đây là ví dụ thứ ba bỗng nhiên hiện lên trong ta, chưa từng được nghe trước đây.
“Ta nghĩ: ‘Giả sử, ta nghiến chặt răng và uốn lưỡi ép chặt lên vòm họng, ta dùng tâm để kìm hãm, đè nén và bóp nghẹt tâm của mình thì sao?’ Sau đó, giống như một người đàn ông lực lưỡng nắm lấy đầu hoặc vai một kẻ yếu hơn để đè nén, kìm hãm và bóp nghẹt hắn, ta cũng nghiến chặt răng và uốn lưỡi ép chặt lên vòm họng, dùng tâm để kìm hãm, đè nén và bóp nghẹt tâm của mình. Mồ hôi túa ra từ nách ta trong khi làm việc đó.
“Dù cho tinh thần dũng mãnh đã được khơi dậy trong ta, và chánh niệm không ngừng nghỉ được thiết lập, nhưng thân thể ta lại bị căng thẳng và không an tịnh vì ta đã vắt kiệt sức lực bởi nỗ lực đau đớn ấy. Thế nhưng, những cảm thọ đau đớn dấy lên trong ta không mảy may xâm chiếm được tâm trí ta.
“Ta nghĩ: ‘Giả sử ta thực hành pháp thiền nín thở?’ Ta bèn ngưng hít vào và thở ra qua miệng và mũi. Khi ta làm vậy, có tiếng gió rít ầm ĩ thoát ra từ hai lỗ tai ta, giống như tiếng gầm rú khi ống bễ của người thợ rèn đang được thổi.
“Ta ngưng hít vào và thở ra qua cả miệng, mũi và tai. Khi ta làm vậy, những luồng gió dữ dội giật tung đầu ta, như thể có một người đàn ông lực lưỡng đang chẻ đôi đầu ta bằng một thanh kiếm sắc bén. Và sau đó là những cơn đau dữ dội ở trên đầu, như thể một người đàn ông lực lưỡng đang siết chặt một vòng da cứng quanh đầu ta như một chiếc vòng kim cô.
Cùng với đó là những cơn gió dữ dội xé toạc bụng ta, hệt như một gã đồ tể điêu luyện hay thợ học việc của hắn rạch bụng một con bò bằng một con dao sắc nhọn. Và rồi có một sự rát bỏng dữ dội trong bụng ta, như thể hai người đàn ông lực lưỡng đang giữ chặt hai tay một người yếu hơn và nướng hắn trên một hố than hồng.
“Và mỗi lần như thế, dù cho tinh thần dũng mãnh đã được khơi dậy trong ta và chánh niệm không ngừng nghỉ được thiết lập, nhưng thân thể ta lại bị căng thẳng và không an tịnh vì bị kiệt sức bởi nỗ lực đau đớn ấy. Thế nhưng, những cảm thọ đau đớn dấy lên trong ta không mảy may xâm chiếm được tâm trí ta.
“Lúc bấy giờ, khi chư thiên nhìn thấy ta, họ nói: ‘Sa môn Gotama đã chết.’ Các vị chư thiên khác lại bảo: ‘Sa môn Gotama chưa chết, ngài ấy đang hấp hối.’ Các chư thiên khác nữa lại bảo: ‘Sa môn Gotama không chết cũng không phải đang hấp hối; sa môn Gotama là một bậc A La Hán, một bậc thánh; vì đó là con đường của các bậc thánh nhân.’
“Ta nghĩ: ‘Giả sử ta nhịn ăn hoàn toàn thì sao?’ Thế rồi chư thiên đến gặp ta và nói: ‘Thưa ngài, xin đừng cắt đứt hoàn toàn nguồn thức ăn. Nếu ngài làm thế, chúng tôi sẽ truyền thiên thực qua các lỗ chân lông của ngài và ngài sẽ sống nhờ vào đó.’ Ta nghĩ: ‘Nếu ta tuyên bố mình tuyệt thực hoàn toàn, mà các vị chư thiên này lại truyền thiên thực qua lỗ chân lông và ta sống nhờ vào đó, thì ta đang nói dối.’ Ta từ chối họ, nói rằng: ‘Không cần đâu.’
“Ta nghĩ: ‘Giả sử ta chỉ ăn một lượng thức ăn rất nhỏ, chẳng hạn như một vốc tay mỗi bữa, cho dù đó là súp đậu sáp, súp đậu lăng hay súp đậu ván?’ Ta đã làm như vậy. Và khi làm thế, cơ thể ta đạt đến trạng thái gầy mòn cùng cực; tay chân ta trở nên giống như những lóng dây leo hay lóng tre, vì ăn quá ít. Mông của ta trở nên giống như móng lạc đà; các gai cột sống nhô ra như chuỗi hạt thô ráp; xương sườn của ta nhô ra gầy guộc như những thanh xà nhà xiêu vẹo của một nhà kho cũ không mái; ánh mắt ta thụt sâu dưới hốc mắt trông giống như ánh nước lấp lánh chìm sâu dưới một cái giếng khơi; da đầu ta quắt lại và nhăn nheo như một quả bầu xanh héo quắt và nhăn nheo trước gió nắng. Nếu ta sờ vào da bụng, ta đụng ngay xương sống; và nếu ta sờ xương sống, ta đụng ngay da bụng; vì da bụng của ta đã bám dính lấy xương sống. Nếu ta đi tiểu hay đại tiện, ta ngã sấp mặt xuống đất. Nếu ta cố gắng xoa dịu cơ thể bằng cách dùng tay xoa bóp chân tay, lông tước đi từ gốc rễ rụng tả tơi khỏi cơ thể khi ta xoa xát, chỉ vì ăn quá ít.
“Lúc này, khi con người nhìn thấy ta, họ bảo: ‘Sa môn Gotama là một người da đen.’ Những người khác lại nói: ‘Sa môn Gotama không phải là người da đen, ông ấy là người da nâu.’ Những người khác lại bảo: ‘Sa môn Gotama không đen cũng chẳng nâu; da ông ấy sáng màu.’ Màu da tươi sáng trong trẻo của ta đã tàn tạ đến nhường ấy vì ăn quá ít.”
MN-36, 85, 100
NGƯỜI TỤNG KỆ.
"Khi ta gắng phục mình,
Cạnh sông Ni-liên-thiền,
Tâm kiên định mong cầu,
Sự giải thoát trói buộc,
Ác ma bèn bước đến,
Nói lời giả xót thương:
'Ngài nay gầy xanh xao,
Đang kề cận cửa tử;
Ngàn phần đều thuộc chết,
Sống chỉ còn một phần.
Sống đi ngài, tốt hơn!
Sống để tạo công đức;
Lại đây, sống phạm hạnh,
Tưới hiến tế thiêng liêng,
Công đức sẽ đong đầy.
Phấn đấu nay làm gì?
Đường chông gai trắc trở,
Gian nan thật khó lường.' "
Ác ma vừa nói xong,
Liền bước đến thật gần.
Đức Thế Tôn đáp lại,
Khi ma đang đứng đó:
"Hỡi Ác Ma cẩu thả,
Ngươi đến vì tư lợi.
Ta không cần công đức;
Ác ma hãy đi nói,
Với những ai đang cần.
Vì ta có niềm tin,
Tinh tấn và tuệ giác.
Khi ta đang thu thúc,
Sao lại nói đến sống?
Có cơn gió thổi qua,\
Làm cạn dòng sông chảy;
Vậy khi ta thu thúc,
Sao máu chẳng cạn khô?
Khi máu đã cạn kiệt,
Mật và đờm cũng cạn,
Xác thịt dần héo mòn,
Tâm trí lại an định:
Ta sẽ có nhiều hơn,
Chánh niệm và tuệ giác,
Định lực càng thêm sâu.
Nhờ sống như vậy đó,
Thọ uẩn ta thấu tường.
Tâm không màng dục lạc:
Người thấy ta thanh tịnh.
Đội quân đầu: Dục Lạc,
Đội quân hai: Chán Nản,
Ba là Đói và Khát,
Tư: Khát Khao Ái Dục,
Năm: Hôn Trầm Thụy Miên,
Sáu chính là Hèn Nhát,
Bảy: Hoài Nghi Do Dự,
Tám: Ác Ý Ngoan Cố;
Lợi lộc cùng danh vọng,
Tiếng tăm do ác nghiệp,
Tự cao và khinh người—
Là quân ngươi, Ác Ma;
Đây là quân Đen Tối;
Chỉ dũng nhân chiến thắng,
Hưởng an lạc khải hoàn.
Ta phất cờ quyết tử,
Chẳng lui. Sống nhục nhã!
Thà chết vinh trên trận,
Hơn sống kiếp bại vong.
Có sa môn, giáo sĩ,
Đầu hàng ngay tại đây,
Đều không còn bóng dáng:
Họ không biết đường lối,
Khách hành hương đi qua.
Nên, thấy quân Ác Ma,
Dàn trận cùng voi lính,
Ta xông pha chiến đấu,
Chẳng để bị đẩy lùi.
Đội quân lớn của ngươi,
Thế giới cùng chư thiên,
Đều không thể đánh bại,
Ta dùng tuệ phá vỡ,
Hệt như đá ném vỡ,
Một chiếc bình đất sét.” 3
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Ta nghĩ: ‘Bất kỳ một vị sa môn hay bà la môn nào trong quá khứ đã trải qua, hoặc trong tương lai sẽ trải qua, hoặc trong hiện tại đang trải qua cảm thọ đau đớn, quằn quại, nhói buốt do nỗ lực tu tập mang lại, thì cảm thọ ấy chỉ có thể bằng thế này chứ không thể vượt quá mức này. Nhưng qua sự khổ hạnh khốc liệt này, ta đã không đạt được một trạng thái đặc biệt nào cao hơn trạng thái của con người, xứng đáng với tri kiến của bậc thánh nhân. Có thể có một con đường khác để đạt đến giác ngộ chăng?’
“Ta nhớ lại một lần khi phụ vương Thích Ca của ta đang làm việc và ta đang ngồi dưới bóng râm mát mẻ của một cây trâm: hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện ta đã chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với niềm hỷ lạc do ly dục sinh ra. Ta nghĩ: ‘Đó có thể là con đường dẫn đến giác ngộ chăng?’ Sau đó, tiếp nối theo ký ức ấy, một nhận thức dấy lên rằng đây chính là con đường dẫn đến giác ngộ.
“Rồi ta nghĩ: ‘Tại sao ta lại sợ hãi sự hỷ lạc này? Đây là hỷ lạc hoàn toàn không liên quan đến dục lạc và các pháp bất thiện.’ Sau đó ta lại nghĩ: ‘Ta không sợ sự hỷ lạc này vì nó không liên quan đến dục lạc và các pháp bất thiện.’
“Ta nghĩ: ‘Không thể đạt được sự hỷ lạc đó với một thân thể quá đỗi gầy mòn nhường này. Giả sử ta ăn một ít thức ăn đặc, một ít cơm và bánh mì thì sao?’ 4
“Lúc bấy giờ, có năm vị tỳ kheo đang hầu hạ ta, nghĩ rằng: ‘Nếu sa môn Gotama đạt được điều gì đó, ngài ấy sẽ nói cho chúng ta.’ Ngay khi ta ăn thức ăn đặc, cơm và bánh mì, năm vị tỳ kheo đã phẫn nộ và rời bỏ ta, nghĩ rằng: ‘Sa môn Gotama đã trở nên buông thả, ông ấy đã từ bỏ sự nỗ lực và quay trở lại cuộc sống xa hoa.’
MN-36, 85, 100
NGƯỜI KỂ MỘT. Lúc này, năm giấc mộng hiện đến với vị Bồ Tát.
NGƯỜI KỂ HAI. Đó là đêm ngay trước khi ngài chứng ngộ; và những giấc mộng này là điềm báo rằng ngài sắp sửa đạt được mục tiêu của mình.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Ngay trước khi Đấng Hoàn Thiện, bậc đã thành tựu và hoàn toàn giác ngộ, đạt được sự giác ngộ, có năm giấc mộng trọng đại đã hiện đến với ngài. Năm giấc mộng đó là gì? Khi ngài vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, quả đất lớn là chiếc giường của ngài; Tuyết Sơn, vua của các ngọn núi, là gối của ngài; tay trái của ngài đặt ở Biển Đông, tay phải của ngài đặt ở Biển Tây, đôi chân của ngài đặt ở Biển Nam. Đây là giấc mộng thứ nhất hiện đến với ngài, và nó báo trước việc ngài sẽ khám phá ra sự chánh đẳng chánh giác vô thượng. Khi ngài vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, một loài dây leo mọc lên từ rốn ngài và vươn lên chạm đến mây trời. Đây là giấc mộng thứ hai hiện đến với ngài, và nó báo trước việc ngài sẽ khám phá ra Bát Thánh Đạo. Khi ngài vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, những con giun trắng đầu đen bò từ bàn chân lên đến đầu gối ngài và che phủ cả đầu gối. Đây là giấc mộng thứ ba hiện đến với ngài, và nó báo trước rằng sẽ có rất nhiều cư sĩ mặc áo trắng đến nương tựa vào Đấng Hoàn Thiện trong thời gian ngài tại thế. Khi ngài chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, bốn con chim với những màu sắc khác nhau bay đến từ bốn phương, và khi chúng đậu xuống chân ngài, chúng đều biến thành màu trắng. Đây là giấc mộng thứ tư hiện đến với ngài, và nó báo trước rằng bốn giai cấp: sát đế lỵ (quý tộc chiến binh), bà la môn (tu sĩ), phệ xá (thương gia), và thủ đà la (dân thường) sẽ nhận ra sự giải thoát vô thượng khi Pháp và Luật đã được Đấng Hoàn Thiện tuyên thuyết. Khi ngài vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, ngài bước đi trên một núi phân khổng lồ mà không hề bị vấy bẩn bởi đống phân đó. Đây là giấc mộng thứ năm hiện đến với ngài, và nó báo trước rằng mặc dù Đấng Hoàn Thiện sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y phục, thức ăn khất thực, chỗ ở, và thuốc men, nhưng ngài sẽ sử dụng chúng mà không có sự tham lam, si mê hay chấp thủ, luôn nhận thức rõ sự nguy hiểm của chúng và hiểu rõ mục đích của chúng.
NGƯỜI KỂ MỘT. Sự giác ngộ tự thân nó được mô tả trong nhiều bài kinh và từ nhiều góc độ khác nhau, giống như khi ta mô tả một cái cây từ trên xuống, từ dưới lên và từ nhiều phía khác nhau, hoặc mô tả một cuộc hành trình bằng đường bộ, đường thủy và đường hàng không. 5
NGƯỜI KỂ HAI. Có cách mô tả quá trình ấy như là sự đạt được Tam Minh (ba sự hiểu biết chân thật) tiếp nối sau sự phát triển của thiền định. Lại có những mô tả về nó dưới dạng sự khám phá ra cấu trúc của lý duyên khởi trong quá trình vô thường của hiện hữu, và dưới dạng sự tìm kiếm sự diễn giải không dối gạt, thước đo chân giá trị thực sự, trong thế giới đầy những vấn đề của ý tưởng, hành động và sự vật, xác suất và sự chắc chắn. Sau đây là lời mô tả dưới góc độ thiền định dẫn đến việc khám phá ra Tứ Diệu Đế.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Lúc bấy giờ, khi ta đã ăn thức ăn đặc và phục hồi sinh lực, hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện ta đã chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm và tứ, với niềm hỷ lạc do ly dục sinh ra. Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình. Khi tầm và tứ được dập tắt, ta chứng và an trú trong thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm không có tầm và tứ, với niềm hỷ lạc do định sinh ra. Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình. Với sự phai nhạt dần của hỷ, ta an trú trong trạng thái xả, chánh niệm và tỉnh giác; thân vẫn cảm nhận sự lạc thọ, ta chứng và an trú trong thiền thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh nhân tuyên bố: ‘Vị ấy có một sự an trú hỷ lạc, người có tâm xả và chánh niệm.’ Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình. Với sự buông bỏ lạc và khổ và sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, ta chứng và an trú trong thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc và có chánh niệm thanh tịnh nhờ xả. Nhưng ta không để cho sự hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình.
“Khi tâm định của ta đã được thanh tịnh như vậy, trong sáng, không tì vết và thoát khỏi mọi cấu uế, khi tâm trở nên nhu nhuyễn, dễ sử dụng, kiên định và đạt đến sự bất động, ta hướng tâm, ta nghiêng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của ta, đó là: một đời, hai, ba, bốn, năm đời, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành, nhiều kiếp thế giới thành và hoại: ‘Tại nơi đó ta có tên như thế này, thuộc dòng dõi như thế này, với ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm khổ vui như thế này, tuổi thọ như thế này; và khi chết đi từ đó, ta lại tái sinh ở nơi khác, và tại đó ta cũng có tên như thế này, thuộc dòng dõi như thế này, với ngoại hình như thế này, trải nghiệm khổ vui như thế này, tuổi thọ như thế này; chết đi từ đó ta lại tái sinh ở đây’—như vậy, với các chi tiết và đặc điểm cụ thể, ta nhớ lại nhiều kiếp sống trong quá khứ của mình. Đây là sự thật thứ nhất được ta chứng ngộ trong canh đầu của đêm. Vô minh bị xua tan và minh (trí tuệ) khởi lên, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi lên, như điều xảy ra ở một người tinh tấn, dũng mãnh và tự chủ. Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình.
"Khi tâm định của ta đã được thanh tịnh như vậy... ta hướng tâm, ta nghiêng tâm đến Sinh tử minh. Với thiên nhãn, được thanh tịnh và siêu việt hơn nhãn quan của con người, ta thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp hèn và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, hạnh phúc và bất hạnh theo nghiệp quả của họ. Ta hiểu cách chúng sinh luân hồi theo hành động của mình: 'Những chúng sinh này có hành động ác qua thân, khẩu, ý, phỉ báng các bậc thánh nhân, theo tà kiến, hành động theo tà kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào đọa xứ, thậm chí vào địa ngục; nhưng những chúng sinh này, có hành động thiện qua thân, khẩu, ý, không phỉ báng các bậc thánh nhân, theo chánh kiến, hành động theo chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cảnh giới an lành, thậm chí vào cõi trời.' Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu việt hơn con người, ta thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp hèn và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, hạnh phúc và bất hạnh trong các cảnh giới. Ta hiểu cách chúng sinh luân hồi theo hành động của họ. Đây là sự thật thứ hai được ta chứng ngộ trong canh giữa của đêm. Vô minh bị xua tan và minh khởi lên, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi lên, như điều xảy ra ở một người tinh tấn, dũng mãnh và tự chủ. Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình.
"Khi tâm định của ta đã được thanh tịnh như vậy... ta hướng tâm, ta nghiêng tâm đến Lậu tận minh. Ta biết rõ, đúng như sự thật, rằng 'Đây là khổ,' rằng 'Đây là nguyên nhân của khổ,' rằng 'Đây là sự diệt khổ,' và rằng 'Đây là con đường dẫn đến sự diệt khổ'; ta biết rõ, đúng như sự thật, rằng 'Đây là các lậu hoặc,' rằng 'Đây là nguyên nhân của lậu hoặc,' rằng 'Đây là sự diệt lậu hoặc,' và rằng 'Đây là con đường dẫn đến sự diệt lậu hoặc.' Biết như vậy và thấy như vậy, tâm ta được giải thoát khỏi dục lậu, khỏi hữu lậu, và khỏi vô minh lậu. Khi được giải thoát, liền sinh ra trí tuệ: 'Tâm đã được giải thoát.' Ta trực tiếp thấu hiểu: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh trở lại trạng thái này nữa.' Đây là sự thật thứ ba được ta chứng ngộ trong canh cuối của đêm. Vô minh bị xua tan và minh khởi lên, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi lên, như điều xảy ra ở một người tinh tấn, dũng mãnh và tự chủ. Nhưng ta không để cho hỷ lạc dấy lên trong ta xâm chiếm tâm trí mình."
NGƯỜI KỂ HAI. Giờ đây là mô tả dưới dạng cấu trúc của lý duyên khởi 6, nói cách khác, là sự phát sinh phụ thuộc lẫn nhau.⁶ Chúng ta sẽ quay lại chủ đề này sau.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. "Trước khi giác ngộ, khi ta vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, ta nghĩ: 'Thế giới này đã rơi vào một vũng bùn; vì nó sinh ra, già đi và chết, nó hoại diệt rồi tái sinh, vậy mà nó lại không biết cách thoát khỏi nỗi khổ này. Khi nào thì sự giải thoát khỏi nỗi khổ này mới được chỉ ra?''
"Ta nghĩ: 'Cái gì có mặt thì già và chết có mặt? Điều kiện tất yếu của chúng là gì?' Rồi với sự chú ý có trật tự 7, ta hiểu ra: 'Sinh có mặt thì già và chết có mặt; sinh là điều kiện tất yếu cho chúng.''
"Ta nghĩ: 'Cái gì có mặt thì sinh có mặt? Điều kiện tất yếu của nó là gì?' Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: 'Hữu có mặt thì sinh có mặt; hữu là điều kiện tất yếu cho sinh.''
"Ta nghĩ: 'Cái gì có mặt thì hữu có mặt? Điều kiện tất yếu của nó là gì?' Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: 'Thủ có mặt thì hữu có mặt; thủ là điều kiện tất yếu cho hữu.''
"... Ái có mặt thì thủ có mặt ...
"... Thọ (lạc, khổ, hoặc bất khổ bất lạc) có mặt thì ái có mặt ...
"... Xúc có mặt thì thọ có mặt...
"... Lục nhập có mặt thì xúc có mặt ...
“Ta nghĩ: ‘Cái gì có mặt thì lục nhập có mặt? Điều kiện tất yếu của nó là gì?’ Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: ‘Danh sắc có mặt thì lục nhập có mặt; danh sắc là điều kiện tất yếu cho lục nhập.’
“Ta nghĩ: ‘Cái gì có mặt thì danh sắc có mặt? Điều kiện tất yếu của nó là gì?’ Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: ‘Thức có mặt thì danh sắc có mặt; thức là điều kiện tất yếu cho danh sắc.’
“Ta nghĩ: ‘Cái gì có mặt thì thức có mặt? Điều kiện tất yếu của nó là gì?’ Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: ‘Danh sắc có mặt thì thức có mặt; danh sắc là điều kiện tất yếu cho thức.’
“Ta nghĩ: ‘Thức này tự quay trở lại chính nó; nó không vươn ra khỏi danh sắc. Và đây là điều xảy ra dù ta đang sinh ra, già đi hay chết, hoại diệt hay tái sinh. Nói cách khác: Với danh sắc làm duyên, thức có mặt; với thức làm duyên, danh sắc có mặt; với danh sắc làm duyên, lục nhập có mặt; với lục nhập làm duyên, xúc có mặt; với xúc làm duyên, thọ có mặt; với thọ làm duyên, ái có mặt; với ái làm duyên, thủ có mặt; với thủ làm duyên, hữu có mặt; với hữu làm duyên, sinh có mặt; với sinh làm duyên, già và chết có mặt, và kéo theo đó là sầu, bi, khổ, ưu và não; đó là cách mà toàn bộ khối đau khổ này khởi lên.’ Sự khởi sinh, sự khởi sinh: đó là tuệ minh, là kiến thức, là sự thấu hiểu, là tầm nhìn, là ánh sáng đã khởi lên trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây.
“Ta nghĩ: ‘Cái gì không có mặt thì già và chết không có mặt? Cái gì diệt thì già và chết diệt?’ Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: ‘Khi không có sinh, già và chết không có mặt; sinh diệt thì già và chết diệt.’
“... Khi không có hữu, sinh không có mặt ...
“... Khi không có thủ, hữu không có mặt ...
“... Khi không có ái, thủ không có mặt ...
“... Khi không có thọ, ái không có mặt ...
“... Khi không có xúc, thọ không có mặt ...
“... Khi không có lục nhập, xúc không có mặt ...
“... Khi không có danh sắc, lục nhập không có mặt ...
“... Khi không có thức, danh sắc không có mặt ...
“Ta nghĩ: ‘Cái gì không có mặt thì thức không có mặt? Cái gì diệt thì thức diệt?’ Rồi với sự chú ý có trật tự, ta hiểu ra: ‘Khi không có danh sắc, thức không có mặt; danh sắc diệt thì thức diệt.’
“Ta nghĩ: ‘Đây là con đường dẫn đến giác ngộ mà ta đã đạt tới, đó là: Danh sắc diệt thì thức diệt; thức diệt thì danh sắc diệt; danh sắc diệt thì lục nhập diệt; lục nhập diệt thì xúc diệt; xúc diệt thì thọ diệt; thọ diệt thì ái diệt; ái diệt thì thủ diệt; thủ diệt thì hữu diệt; hữu diệt thì sinh diệt; sinh diệt thì già chết diệt, và sầu, bi, khổ, ưu, não cũng diệt; đó là cách mà toàn bộ khối đau khổ này hoại diệt.’ Sự diệt, sự diệt: đó là tuệ minh, là kiến thức, là sự thấu hiểu, là tầm nhìn, là ánh sáng đã khởi lên trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây.
“Giả sử một người đi lang thang trong khu rừng hoang dã tìm thấy một con đường cổ xưa, một lối mòn cổ xưa, do những người thời xưa đã đi, và người đó đi theo nó, nhờ vậy người đó khám phá ra một đô thành cổ kính, một kinh đô hoàng gia cổ đại, nơi người xưa từng sinh sống, với những công viên, khu rừng và hồ nước, được bao bọc bởi những bức tường và trông thật lộng lẫy, cũng như vậy, ta đã tìm thấy con đường cổ xưa, lối mòn cổ xưa, đã được các vị Chánh Đẳng Chánh Giác thời xưa bước qua.
“Và con đường cổ xưa, lối mòn cổ xưa đó là gì? Đó chính là Bát Thánh Đạo này, cụ thể là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
“Ta đã đi theo con đường đó. Nhờ vậy, ta đã trực tiếp biết rõ già chết, nguyên nhân của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường dẫn đến sự đoạn diệt của nó. Ta đã trực tiếp biết rõ sự sinh, nguyên nhân của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường dẫn đến sự đoạn diệt của nó. Ta đã trực tiếp biết rõ hữu... thủ... ái... thọ... xúc... lục nhập... danh sắc... thức... Ta đã trực tiếp thấu hiểu các hành, nguyên nhân của chúng, sự đoạn diệt của chúng, và con đường dẫn đến sự đoạn diệt của chúng.”
NGƯỜI KỂ HAI. Cuối cùng, đây là mô tả về sự giác ngộ dưới góc độ thẩm định đúng đắn về thế giới của những hành vi và khái niệm có điều kiện, được phân loại trong bài kinh này thành ngũ uẩn, trong đó mọi kinh nghiệm hữu vi, khi được phân tích, đều có thể được xếp vào.
GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. “Trước khi giác ngộ, khi ta vẫn chỉ là một vị Bồ Tát chưa giác ngộ, ta nghĩ: ‘Đối với sắc, thọ (lạc, khổ hay bất khổ bất lạc), tưởng, hành, thức, đâu là vị ngọt, đâu là sự nguy hiểm, đâu là sự giải thoát?’ Sau đó ta nghĩ: ‘Đối với từng uẩn, sự hỷ lạc của thân và tâm khởi lên phụ thuộc vào những thứ này (ngũ uẩn) chính là vị ngọt; sự thật là những thứ này đều vô thường, đau khổ và chịu sự biến hoại, đó là sự nguy hiểm; việc điều phục và từ bỏ dục và tham ái đối với chúng chính là sự giải thoát.’
“Chừng nào ta chưa hiểu bằng trí tuệ trực tiếp, đúng như thật, rằng đây là vị ngọt, đây là sự nguy hiểm, và đây là sự giải thoát, đối với ngũ uẩn thủ này, thì ta vẫn chưa tuyên bố rằng mình đã khám phá ra sự chánh đẳng chánh giác vô thượng trong thế giới với chư thiên, ma vương và các vị Phạm thiên, trong thế hệ này với các sa môn, bà la môn, với các vương tôn và loài người. Nhưng ngay khi ta đã hiểu bằng trí tuệ trực tiếp, đúng như thật, rằng đây là vị ngọt, đây là sự nguy hiểm, và đây là sự giải thoát, đối với ngũ uẩn thủ này, thì ta tuyên bố rằng mình đã khám phá ra sự chánh đẳng chánh giác vô thượng trong thế giới với chư thiên, ma vương và các vị Phạm thiên, trong thế hệ này với các sa môn, bà la môn, với các vương tôn và loài người.”
“Vì bản thân phải chịu cảnh sinh, già, bệnh, chết, sầu bi và phiền não, nhìn thấy sự nguy hiểm trong những gì phải chịu những cảnh ngộ ấy và đi tìm sự giải thoát vô thượng khỏi mọi trói buộc: không sinh, không già, không bệnh, không chết, không sầu bi, không phiền não, Niết Bàn, ta đã đạt được nó. Trí tuệ và tầm nhìn khởi lên trong ta: ‘Sự giải thoát của ta là bất thối chuyển; đây là kiếp sống cuối cùng của ta; nay không còn tái sinh nữa.’”
NGƯỜI KỂ HAI. Giờ đây sự giác ngộ đã viên thành. Và theo truyền thống, những lời đầu tiên hiện lên trong Đức Phật—ngài giờ đây không còn là vị Bồ Tát nữa—là như sau.
NGƯỜI TỤNG KỆ.
Tìm mà không thấy được,
Kẻ dựng xây ngôi nhà,
Ta lang thang luân hồi,
Qua vô lượng kiếp sống:
Sanh đi rồi sanh lại,
Thật đau khổ vô cùng.Này kẻ xây dựng nhà,
Nay ta đã thấy ngươi;
Ngươi sẽ không thể nào,
Cất nhà thêm lần nữa.
Kèo đòn tay gãy vụn;
Cột đống đã nát tan.Tâm ta nay đã đạt,
Vô vi cảnh Niết Bàn,
Và đến điểm tận cùng,
Của mọi loại khát ái.
Dh. 153-54
NGƯỜI KỂ HAI. Đó là những lời đầu tiên của Đấng Tân Giác Ngộ, mặc dù theo truyền thống những lời này không được nói thành tiếng; những lời đầu tiên được nói thành tiếng là những lời trong khổ thơ thứ nhất của ba khổ thơ bắt đầu bằng "Khi vạn pháp hiển lộ rõ ràng..." (xem phần đầu của chương tiếp theo).