25. “Thưa ni sư, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm (tùy miên / anusayo) nào nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm nào nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm nào nằm ẩn chứa?”
“Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm (tham / rāga) nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của chảy ngầm sự chống đối (sân tùy miên/ paṭighānusayo); đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết (vô minh / avijjānusayo).”
26. “Thưa ni sư, có phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, đêu có sự chảy ngầm của đắm nhiễm nằm ẩn chứa; đối với tất cả cảm thọ khó chịu, đều có sự chảy ngầm của ẩn chứa chống đối; đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, đều có sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết?”
“Này hiền giả Visākha, không phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều nằm ẩn chứa; không phải đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa chống đối; không phải đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết.”
27. “Thưa ni sư, đối với cảm thọ dễ chịu, điều gì cần được từ bỏ; đối với cảm thọ khó chịu, điều gì cần được từ bỏ; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, điều gì cần được từ bỏ?”
“Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm cần được từ bỏ; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù cần được từ bỏ; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết cần được từ bỏ.”
28. “Thưa ni sư, có phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều cần được từ bỏ; đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù đều cần được từ bỏ; đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết đều cần được từ bỏ?”
"Này hiền giả Visākha, không phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều cần được từ bỏ; không phải đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù đều cần được từ bỏ; không phải đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết đều cần được từ bỏ. [Ví dụ] Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ đắm nhiễm và không có sự chảy ngầm của đắm nhiễm nằm ẩn chứa.
Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo suy tư như vầy: ‘khi nào ta mới đạt đến và an trú trong xứ (āyatana) ấy, nơi mà các bậc thánh hiện đang chứng và an trú?’ Do lòng khởi lên sự khao khát hướng đến sự giải thoát vô thượng như vậy, do Điều kiện (duyên / paccaya) ấy mà ưu phiền (ưu / domanassa) sinh ra. [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ ghét bỏ và hận thù, chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù nằm ẩn chứa.
Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo do từ bỏ hạnh phúc và từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất từ trước của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, một trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình (xả / upekkhā) và tập trung chú ý (niệm / sati). [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ không hiểu biết, chảy ngầm của không hiểu biết nằm ẩn chứa." [^2]