Skip to content

MN 44. KINH NGẮN HỎI ĐÁP ​

(Cūḷavedallasutta)Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng sóc.

Khi ấy, cư sĩ Visākha đi đến nơi tỳ-kheo-ni Dhammadinnā ở; sau khi đến, đảnh lễ tỳ-kheo-ni Dhammadinnā rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Visākha thưa với tỳ-kheo-ni Dhammadinnā điều này:

2. "Thưa ni sư, người ta nói 'tự ngã (thân kiến / sakkāya), tự ngã'. Thưa ni sư, Đức Thế Tôn đã gọi cái gì là tự ngã?"

"Này hiền giả Visākha, Năm Uẩn bám giữ (thủ uẩn / upādānakkhandhā) này được Đức Thế Tôn gọi là tự ngã, đó là—bám giữ vào 'Uẩn bám giữ thuộc vật chất' (sắc thủ uẩn / rūpupādānakkhandho), bám giữ vào 'Uẩn bám giữ thuộc Cảm Thọ' (thọ thủ uẩn / vedanupādānakkhandho), bám giữ vào 'Uẩn bám giữ thuộc Nhận Thức' (tưởng thủ uẩn / saññupādānakkhandho), bám giữ vào 'Uẩn bám giữ thuộc Hoạt động' (hành thủ uẩn / saṅkhārupādānakkhandho), bám giữ vào 'Uẩn bám giữ thuộc Nhận Biết' (thức thủ uẩn / viññāṇupādānakkhandho). Này hiền giả Visākha, năm năm uẩn bám giữ này được Đức Thế Tôn gọi là tự ngã."

"Lành thay, thưa ni sư", cư sĩ Visākha vui mừng đón nhận và tán thán lời nói của tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, rồi hỏi thêm câu hỏi khác:

3. "Thưa ni sư, người ta nói 'sự hình thành của tự ngã, sự hình thành của tự ngã'. Thưa ni sư, Đức Thế Tôn đã gọi cái gì là sự hình thành của tự ngã?"

"Này hiền giả Visākha, chính mong muốn (tham ái / taṇhā) này dẫn đến tồn tại trở lại (tái hữu / ponobbhavikā), đi kèm với vui thú và đắm nhiễm (hỷ tham câu hữu / nandīrāgasahagatā), vui thú chạy theo chỗ này chỗ kia (bỉ bỉ hỷ lạc / tatratatrābhinandinī), đó là—mong muốn bản năng (dục ái / kāmataṇhā), mong muốn tồn tại (hữu ái / bhavataṇhā), mong muốn không tồn tại (phi hữu ái / vibhavataṇhā); này hiền giả Visākha, điều này được Đức Thế Tôn gọi là sự hình thành của tự ngã."

4. "Thưa ni sư, người ta nói 'sự chấm dứt (diệt / nirodha) của tự ngã, sự chấm dứt của tự ngã'. Thưa ni sư, Đức Thế Tôn đã gọi cái gì là sự chấm dứt của tự ngã?"

"Này hiền giả Visākha, sự chặn sạch hết đắm nhiễm, sự từ bỏ (xả ly / cāgo), sự từ bỏ hoàn toàn, sự giải thoát, sự không bám víu đối với chính mong muốn ấy; này hiền giả Visākha, điều này được Đức Thế Tôn gọi là sự chấm dứt của tự ngã."

5. "Thưa ni sư, người ta nói 'con đường dẫn đến sự chấm dứt của tự ngã, con đường dẫn đến sự chấm dứt của tự ngã'. Thưa ni sư, Đức Thế Tôn đã gọi cái gì là con đường dẫn đến sự chấm dứt của tự ngã?"

"Này hiền giả Visākha, chính Tám Bước Thiện (bát chánh đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) này được Đức Thế Tôn gọi là con đường dẫn đến sự chấm dứt của tự ngã, đó là—Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā), Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammanto), Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), Chú ý quan sát Thiện (chánh niệm / sammāsati), Định thiện (chánh định / sammāsamādhī)."

6. "Thưa ni sư, sự bám giữ (thủ / upādāna) ấy có phải là năm Năm Uẩn bám giữ không, hay sự bám giữ nằm ngoài năm Năm Uẩn bám giữ?"

"Này hiền giả Visākha, sự bám giữ ấy không phải là năm Năm Uẩn bám giữ, sự bám giữ cũng không nằm ngoài năm Năm Uẩn bám giữ. Này hiền giả Visākha, sự tham đắm (dục tham / chandarāgo) nào đối với năm Năm Uẩn bám giữ, đó chính là sự bám giữ ở trong ấy." [^1]

7. "Thưa ni sư, thế nào là Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāyadiṭṭhi)?"

"Ở đây, này hiền giả Visākha, người thường không học (vô văn phàm phu / assutavā puthujjano), không thấy rõ các bậc thánh, không am hiểu Giáo pháp (pháp / dhamma) của các bậc thánh, không được rèn luyện trong Giáo pháp của các bậc thánh, không thấy rõ các chân nhân, không am hiểu Giáo pháp của các chân nhân, không được rèn luyện trong Giáo pháp của các chân nhân, quan sát vật chất (sắc / rūpa) như là chính mình, hoặc chính mình sở hữu vật chất, hoặc vật chất nằm trong chính mình, hoặc chính mình nằm trong vật chất. Quan sát Cảm Thọ (thọ / vedanā) [...lặp lại...] quan sát Nhận Thức (tưởng / saññā) ... quan sát hoạt động (hành / saṅkhāre) ... quan sát Nhận Biết (thức / viññāṇa) như là chính mình, hoặc chính mình sở hữu Nhận Biết, hoặc Nhận Biết nằm trong chính mình, hoặc chính mình nằm trong Nhận Biết. Này hiền giả Visākha, như vậy là có Thấy mình là thật."

8. "Thưa ni sư, thế nào là không Thấy mình là thật?"

"Ở đây, này hiền giả Visākha, đệ tử bậc thánh có học (hữu học / sutavā), thấy rõ các bậc thánh, am hiểu Giáo pháp của các bậc thánh, được rèn luyện tốt trong Giáo pháp của các bậc thánh, thấy rõ các bậc chân nhân, am hiểu Giáo pháp của các bậc chân nhân, được rèn luyện tốt trong Giáo pháp của các chân nhân, không quan sát thấy vật chất như là chính mình, không quan sát thấy chính mình sở hữu vật chất, không quan sát thấy vật chất nằm trong chính mình, không quan sát thấy chính mình nằm trong vật chất. Không quan sát Cảm Thọ [...lặp lại...] không quan sát Nhận Thức ... không quan sát hoạt động [...lặp lại...] không quan sát Nhận Biết như là chính mình, không quan sát chính mình sở hữu Nhận Biết, không quan sát Nhận Biết nằm trong chính mình, không quan sát chính mình nằm trong Nhận Biết. Này hiền giả Visākha, như vậy là không Thấy mình là thật."

9. "Thưa ni sư, thế nào là Tám Bước Thiện?"

"Này hiền giả Visākha, đây chính là Tám Bước Thiện, đó là—Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, Hành động Thiện, Đời sống Thiện, Nỗ lực Thiện, Chú ý quan sát Thiện, Định thiện."

10. "Thưa ni sư, Tám Bước Thiện là thứ hình thành từ lắp ghép (hữu vi / saṅkhato) hay thứ hình thành không từ lắp ghép (vô vi / asaṅkhato)?"

"Này hiền giả Visākha, Tám Bước Thiện là thứ hình thành từ lắp ghép."

11. "Thưa ni sư, Tám Bước Thiện chứa đựng ba tập hợp [giới, định tuệ](uẩn / khandhā), hay ba tập hợp chứa đựng Tám Bước Thiện?"

"Này hiền giả Visākha, Tám Bước Thiện không chứa đựng ba tập hợp; mà này hiền giả Visākha, ba tập hợp chứa đựng Tám Bước Thiện. Này hiền giả Visākha, Lời nói Thiện, Hành động Thiện và Đời sống Thiện, những Điều (pháp / dhammā) này được bao gồm trong tập hợp giới. Nỗ lực Thiện, Chú ý quan sát Thiện và Định thiện, những Điều này được bao gồm trong tập hợp định. Thấy Thiện và Suy nghĩ Thiện, những Điều này được bao gồm trong tập hợp tuệ."

12. "Thưa ni sư, thế nào là Định, những Điều nào là dấu hiệu của Định (định tướng / samādhinimittā), những Điều nào là yếu tố hỗ trợ Định (định tư cụ / samādhiparikkhārā), thế nào là sự rèn luyện Định (định tu tập / samādhibhāvanā)?"

"Này hiền giả Visākha, tâm hợp thành một (nhất tâm / cittassa ekaggatā) chính là Định; bốn nơi chú tâm (tứ niệm xứ / cattāro satipaṭṭhānā) là dấu hiệu của Định; bốn Siêng năng thiện (tứ chánh cần / cattāro sammappadhānā) là yếu tố hỗ trợ Định. Sự thực hành, sự rèn luyện, sự làm cho sung mãn chính những Điều này [bốn Siêng năng thiện ], ở đây gọi là sự rèn luyện Định."

13. "Thưa ni sư, có bao nhiêu hoạt động (hành / saṅkhārā)?"

"Này hiền giả Visākha, có ba hoạt động này—hoạt động của thân (thân hành / kāyasaṅkhāro), hoạt động của ngôn ngữ (khẩu hành / vacīsaṅkhāro), hoạt động của tâm (tâm hành / cittasaṅkhāro)."

14. "Thưa ni sư, thế nào là hoạt động của thân, thế nào là hoạt động của ngôn ngữ, thế nào là hoạt động của tâm?"

"Này hiền giả Visākha, hơi thở ra hơi thở vào là hoạt động của thân, chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm và tứ / vitakkavicārā) là hoạt động của ngôn ngữ, Nhận Thức và Cảm Thọ là hoạt động của tâm."

15. "Thưa ni sư, vì sao hơi thở ra hơi thở vào là hoạt động của thân, vì sao chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý là hoạt động của ngôn ngữ, vì sao Nhận Thức và Cảm Thọ là hoạt động của tâm?"

"Này hiền giả Visākha, hơi thở ra hơi thở vào thuộc về thân, những Điều này gắn liền với thân, do đó hơi thở ra hơi thở vào là hoạt động của thân. Này hiền giả Visākha, trước tiên người ta chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, sau đó mới phát ra lời nói, do đó chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý là hoạt động của ngôn ngữ. Nhận Thức (tưởng) và Cảm Thọ (Thọ) thuộc về tâm, những Điều này gắn liền với tâm, do đó Nhận Thức và Cảm Thọ là hoạt động của tâm."

16. "Thưa ni sư, làm thế nào để đạt được định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhasamāpatti)?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đang đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, vị ấy không có suy nghĩ: 'Tôi sẽ đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ', hoặc 'Tôi đang đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ', hoặc 'Tôi đã đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ'. Thay vào đó, tâm của vị ấy đã được rèn luyện từ trước theo cách dẫn dắt đến trạng thái như vậy."

17. "Thưa ni sư, đối với tỳ kheo đang đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, những Điều nào chấm dứt trước tiên—hoạt động của thân, hoạt động của ngôn ngữ hay hoạt động của tâm?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đang đi vào định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, hoạt động của ngôn ngữ chấm dứt trước tiên, sau đó là hoạt động của thân, sau đó là hoạt động của tâm."

18. "Thưa ni sư, làm thế nào để xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đang xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, vị ấy không có suy nghĩ: 'Tôi sẽ xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ', hoặc 'Tôi đang xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ', hoặc 'Tôi đã xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ'. Thay vào đó, tâm của vị ấy đã được rèn luyện từ trước theo cách dẫn dắt đến trạng thái như vậy."

19. "Thưa ni sư, đối với tỳ kheo đang xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, những Điều nào sinh khởi trước tiên—hoạt động của thân, hoạt động của ngôn ngữ hay hoạt động của tâm?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đang xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, hoạt động của tâm sinh khởi trước tiên, sau đó là hoạt động của thân, sau đó là hoạt động của ngôn ngữ."

20. "Thưa ni sư, đối với tỳ kheo đã xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, có bao nhiêu loại Xúc (xúc / phassā) chạm đến vị ấy?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đã xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, có ba loại Xúc chạm đến vị ấy—Xúc trống rỗng (không xúc / suññato phasso), Xúc không tướng (vô tướng xúc / animitto phasso), Xúc không mong cầu (vô tác xúc / appaṇihito phasso)."

21. "Thưa ni sư, đối với tỳ kheo đã xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, tâm của vị ấy hướng về đâu, nghiêng về đâu, dốc về đâu?"

"Này hiền giả Visākha, đối với tỳ kheo đã xuất ra khỏi định ngưng Nhận Thức và Cảm Thọ, tâm của vị ấy hướng về sự rời bỏ (viễn ly / viveka), nghiêng về sự rời bỏ, dốc về sự rời bỏ."

22. "Thưa ni sư, có bao nhiêu loại Cảm Thọ?"

"Này hiền giả Visākha, có ba loại Cảm Thọ này—cảm thọ dễ chịu (thọ lạc / sukhā vedanā), cảm thọ khó chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā), cảm thọ không dễ chịu không khó chịu (thọ bất khổ bất lạc / adukkhamasukhā vedanā)."

23. "Thưa ni sư, thế nào là cảm thọ dễ chịu, thế nào là cảm thọ khó chịu, thế nào là cảm thọ không dễ chịu không khó chịu?"

"Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm nhận nào thuộc về thân hay thuộc về tâm mà hạnh phúc, vừa ý—đây là cảm thọ dễ chịu. Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm nhận nào thuộc về thân hay thuộc về tâm mà đau khổ (khổ / dukkha), không vừa ý—đây là cảm thọ khó chịu. Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm nhận nào thuộc về thân hay thuộc về tâm mà không vừa ý cũng không không vừa ý—đây là cảm thọ không dễ chịu không khó chịu."

24. "Thưa ni sư, cảm thọ dễ chịu mang lại hạnh phúc trong điều kiện nào và mang lại đau khổ trong điều kiện nào; cảm thọ khó chịu mang lại hạnh phúc trong điều kiện nào và mang lại đau khổ trong điều kiện nào; cảm thọ không dễ chịu không khó chịu mang lại hạnh phúc trong điều kiện nào và mang lại đau khổ trong điều kiện nào?"

"Này hiền giả Visākha, cảm thọ dễ chịu mang lại hạnh phúc khi tồn tại, mang lại đau khổ khi biến đổi; cảm thọ khó chịu mang lại đau khổ khi tồn tại, mang lại hạnh phúc khi biến đổi; cảm thọ không dễ chịu không khó chịu mang lại hạnh phúc khi được nhận biết, mang lại đau khổ khi không được nhận biết."

25. "Thưa ni sư, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm (tùy miên / anusayo) nào nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm nào nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm nào nằm ẩn chứa?"

"Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm (tham / rāga) nằm ẩn chứa; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của chảy ngầm sự chống đối (sân tùy miên/ paṭighānusayo); đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết (vô minh / avijjānusayo)."

26. "Thưa ni sư, có phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, đêu có sự chảy ngầm của đắm nhiễm nằm ẩn chứa; đối với tất cả cảm thọ khó chịu, đều có sự chảy ngầm của ẩn chứa chống đối; đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, đều có sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết?"

"Này hiền giả Visākha, không phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều nằm ẩn chứa; không phải đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa chống đối; không phải đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của ẩn chứa không hiểu biết."

27. "Thưa ni sư, đối với cảm thọ dễ chịu, điều gì cần được từ bỏ; đối với cảm thọ khó chịu, điều gì cần được từ bỏ; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, điều gì cần được từ bỏ?"

"Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm cần được từ bỏ; đối với cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù cần được từ bỏ; đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết cần được từ bỏ."

28. "Thưa ni sư, có phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều cần được từ bỏ; đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù đều cần được từ bỏ; đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết đều cần được từ bỏ?"

"Này hiền giả Visākha, không phải đối với tất cả cảm thọ dễ chịu, sự chảy ngầm của đắm nhiễm đều cần được từ bỏ; không phải đối với tất cả cảm thọ khó chịu, sự chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù đều cần được từ bỏ; không phải đối với tất cả cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, sự chảy ngầm của không hiểu biết đều cần được từ bỏ. [Ví dụ] Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ đắm nhiễm và không có sự chảy ngầm của đắm nhiễm nằm ẩn chứa.

Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo suy tư như vầy: 'khi nào ta mới đạt đến và an trú trong xứ (āyatana) ấy, nơi mà các bậc thánh hiện đang chứng và an trú?' Do lòng khởi lên sự khao khát hướng đến sự giải thoát vô thượng như vậy, do Điều kiện (duyên / paccaya) ấy mà ưu phiền (ưu / domanassa) sinh ra. [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ ghét bỏ và hận thù, chảy ngầm của ghét bỏ và hận thù nằm ẩn chứa.

Ở đây, này hiền giả Visākha, tỳ kheo do từ bỏ hạnh phúc và từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất từ trước của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, một trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình (xả / upekkhā) và tập trung chú ý (niệm / sati). [Nhưng] nhờ đó vị ấy từ bỏ không hiểu biết, chảy ngầm của không hiểu biết nằm ẩn chứa." [^2]

29. "Thưa ni sư, đối với cảm thọ dễ chịu, cái gì là phần đối lập (đối phần / paṭibhāgo)?" "Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu là phần đối lập."

"Thưa ni sư, đối với cảm thọ khó chịu, cái gì là phần đối lập?" "Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ khó chịu, cảm thọ dễ chịu là phần đối lập."

"Thưa ni sư, đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, cái gì là phần đối lập?" "Này hiền giả Visākha, đối với cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, không hiểu biết là phần đối lập."

"Thưa ni sư, đối với không hiểu biết, cái gì là phần đối lập?" "Này hiền giả Visākha, đối với không hiểu biết, hiểu biết (minh / vijjā) là phần đối lập."

"Thưa ni sư, đối với hiểu biết, cái gì là phần tương đương (đối phần / paṭibhāgo)?" "Này hiền giả Visākha, đối với hiểu biết, giải thoát là phần tương đương."

"Thưa ni sư, đối với giải thoát, cái gì là phần tương đương?" "Này hiền giả Visākha, đối với giải thoát, Niết-bàn là phần tương đương."

"Thưa ni sư, đối với Niết-bàn, cái gì là phần tương đương?" "Hiền giả Visākha, ông đi quá xa với câu hỏi, ông không thể nắm bắt được giới hạn của các câu hỏi. Này hiền giả Visākha, đời sống thánh thiện đắm mình trong Niết-bàn, có Niết-bàn là đích đến, có Niết-bàn là điểm kết thúc. Này hiền giả Visākha, nếu ông muốn, hãy đi đến Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về ý nghĩa này, Đức Thế Tôn trả lời cho ông như thế nào, hãy ghi nhớ như thế ấy."

30. Khi ấy, cư sĩ Visākha vui mừng đón nhận và tán thán lời nói của tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, đi nhiễu quanh bên phải rồi đi đến nơi Đức Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Visākha kể lại toàn bộ cuộc trò chuyện đã diễn ra với tỳ-kheo-ni Dhammadinnā cho Đức Thế Tôn nghe.

Khi được nói như vậy, Đức Thế Tôn bảo cư sĩ Visākha điều này: "Này Visākha, tỳ-kheo-ni Dhammadinnā là người trí; này Visākha, tỳ-kheo-ni Dhammadinnā là người có trí tuệ lớn. Này Visākha, nếu ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ trả lời ông y như cách tỳ-kheo-ni Dhammadinnā đã trả lời. Đó chính là ý nghĩa của điều này. Ông hãy ghi nhớ như vậy."

Đức Thế Tôn đã nói điều này. Cư sĩ Visākha hài lòng, vui mừng đón nhận lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Tiểu Phương Quảng kết thúc, là bài kinh thứ tư.