Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 43. KINH DÀI HỎI ĐÁP

(Mahāvedallasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, ở Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Mahākoṭṭhika vào buổi chiều, sau khi xuất định, đã đi đến nơi Tôn giả Sāriputta ở; sau khi đến, vị ấy nói lời chào hỏi với Tôn giả Sāriputta. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và ôn lại những kỷ niệm, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhika nói với Tôn giả Sāriputta điều này:

MN 43. ÐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG

(Mahàvedalla Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Kotthita (Ðại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Kotthita nói với Tôn giả Sariputta:

2. “Này hiền giả, người ta nói là ‘thiếu trí tuệ, thiếu trí tuệ’ (ác tuệ / duppañño). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là thiếu trí tuệ?”

“Này hiền giả, vì ‘không biết rõ (tuệ tri / pajānāti), không biết rõ’, do đó được gọi là thiếu trí tuệ. Và không biết rõ điều gì? Không biết rõ: ‘Đây là đau khổ (khổ / dukkha)’, không biết rõ: ‘Đây là sự hình thành (tập / samudaya) của đau khổ’, không biết rõ: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ’, không biết rõ: ‘Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ (đạo / dukkhanirodhagāminī paṭipadā)’. Này hiền giả, vì ‘không biết rõ, không biết rõ’, do đó được gọi là thiếu trí tuệ.” nhận biết, phân biệt “Thật tốt đẹp, thưa hiền giả”, Tôn giả Mahākoṭṭhika vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinanditvā) và tán thán lời nói của Tôn giả Sāriputta, rồi hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi tiếp theo:

3. “Này hiền giả, người ta nói là ‘có trí tuệ, có trí tuệ’ (hữu tuệ / paññavā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là có trí tuệ?”

“Này hiền giả, vì ‘biết rõ, biết rõ’, do đó được gọi là có trí tuệ. Và biết rõ điều gì? biết rõ: ‘Đây là đau khổ’, biết rõ: ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’, biết rõ: ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’, biết rõ: ‘Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ’. Này hiền giả, vì ‘biết rõ, biết rõ’, do đó được gọi là có trí tuệ.”

(Tuệ giác)

– Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?

– Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nappajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.

– Lành thay, Hiền giả!

Tôn giả Maha Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sariputta một câu hỏi nữa:

– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?

– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.

4. “Này hiền giả, người ta nói là ‘Nhận Biết, Nhận Biết’ (thức/viññāṇa). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Nhận Biết?”

“Này hiền giả, vì ‘nhận biết [một điều] bằng sự phân biệt [với điều khác] (thức tri / vijānāti (vi=tách ra, phân biệt; jānāti=biết, hiểu)), nhận biết bằng sự phân biệt’, do đó được gọi là Nhận Biết. Và nhận biết bằng phân biệt điều gì? Nhận biết bằng phân biệt cảm thọ dễ chịu (thọ lạc / sukha), nhận biết bằng phân biệt cảm thọ khó chịu (thọ khổ / dukkha), nhận biết bằng phân biệt cảm thọ không dễ chịu không khó chịu (bất lạc bất khổ / adukkhamasukha). Này hiền giả, vì ‘nhận biết bằng phân biệt, nhận biết bằng phân biệt’, do đó được gọi là Nhận Biết.”

5. “Này hiền giả, trí tuệ (paññā) và Nhận Biết—những điều này hòa quyện (câu hữu / saṁsaṭṭhā) hay tách rời (bất câu hữu / visaṁsaṭṭhā)? Và có thể nào bóc tách (phân tích / vinibbhujitvā), bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng không?”

“Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng. Này hiền giả, điều gì người ta biết rõ, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng sự phân biệt; điều gì người ta nhận biết bằng sự phân biệt, điều đó người ta [cần] biết rõ. Do đó, những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng.”

6. “Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện không tách rời, [thì] đâu là sự khác biệt?”

“Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện không tách rời, [thì] trí tuệ cần được luyện tập, Nhận Biết cần được hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññeyya). Đây là sự khác biệt giữa chúng.”

(Thức)

– Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?

– Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.

– Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?

– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.

– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?

– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.

7. “Này hiền giả, người ta nói là ‘Cảm Thọ, Cảm Thọ’ (thọ / vedanā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Cảm Thọ?”

“Này hiền giả, vì ‘cảm nhận (thọ tri / vedeti), cảm nhận’, do đó được gọi là Cảm Thọ. Và cảm nhận điều gì? cảm nhận cảm thọ dễ chịu, cảm nhận cảm thọ khó chịu, cảm nhận cảm thọ không dễ chịu không khó chịu. Này hiền giả, vì ‘cảm nhận, cảm nhận’, do đó được gọi là Cảm Thọ.”

(Thọ)

– Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?

– Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.

8. “Này hiền giả, người ta nói là ‘Nhận Thức, Nhận Thức’ (tưởng / saññā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Nhận Thức?”

“Này hiền giả, vì ‘nhận biết bằng liên hệ tổng thể (tưởng tri / sañjānāti (sañ=cùng nhau; jānāti=biết, hiểu / gộp các đặc điểm của một ‘điều gì đó’ lại để NHẬN RA nó là gì và GỌI TÊN nó)), nhận biết bằng liên hệ tổng thể’, do đó được gọi là Nhận Thức. Và nhận biết bằng liên hệ tổng thể điều gì? nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu xanh, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu vàng, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu đỏ, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu trắng. Này hiền giả, vì ‘nhận biết bằng liên hệ tổng thể, nhận biết bằng liên hệ tổng thể’, do đó được gọi là Nhận Thức.”

9. “Này hiền giả, Cảm Thọ, Nhận Thức và Nhận Biết (thọ, tưởng, thức) —những điều này hòa quyện hay tách rời? Và có thể nào bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng không?”

“Này hiền giả, Cảm Thọ, Nhận Thức và Nhận Biết—những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng. Này hiền giả, điều gì người ta cảm nhận, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng liên hệ tổng thể; điều gì người ta nhận biết bằng liên hệ tổng thể, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng phân biệt. Do đó, những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng.”

(Tưởng)

– Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?

– Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.

– Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?

– Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.

10. “Này hiền giả, bằng sự nhận biết ở trí não (ý thức / manoviññāṇa) [đã] hoàn toàn trong sạch, thoát khỏi (xuất ly / nissaṭṭhena) năm giác quan (ngũ căn / pañcahi indriyehi), thì có thể nhận biết được điều gì?”

“Này hiền giả, sự nhận biết ở trí não hoàn toàn trong sạch, thoát khỏi năm giác quan, có thể biết tầng thiền Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana) với suy nghĩ ‘không gian là vô tận’, có thể biết tầng thiền Nhận Biết là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana) với suy nghĩ ‘Nhận Biết là vô tận’, có thể biết tầng thiền Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana) với suy nghĩ ‘không có vật gì’.”

11. “Này hiền giả, muốn biết một điều thì dùng gì để người ta biết rõ (tuệ tri)?”

“Này hiền giả, người ta dùng con mắt trí tuệ để biết rõ một điều.”

12. “Này hiền giả, trí tuệ có mục đích gì?”

“Này hiền giả, trí tuệ có mục đích là để hiểu hết toàn bộ (thắng tri / abhiññā), để hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññā), để từ bỏ (đoạn trừ / pahāna).”

(Thắng tri)

– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?

– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.

– Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được?

– Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.

– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?

– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).

13. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ (duyên / paccayā) cho sự phát sinh của Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi)?”

“Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ cho sự phát sinh của Thấy Thiện lời nói từ người khác và [tìm] hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasikāro). Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ cho sự phát sinh của Thấy Thiện.”

14. “Này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi bao nhiêu yếu tố thì mang lại kết quả là tâm được giải thoát (tâm giải thoát / cetovimutti) và lợi ích của tâm được giải thoát; mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti) và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ?”

“Này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi năm yếu tố thì mang lại kết quả là tâm được giải thoát và lợi ích của tâm được giải thoát; mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ. Ở đây, này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi lối sống đạo đức (giới / sīla), được hỗ trợ bởi việc học hỏi, được hỗ trợ bởi sự thảo luận, được hỗ trợ bởi sự tĩnh lặng, được hỗ trợ bởi sự quan sát (quán / vipassanā). Này hiền giả, được hỗ trợ bởi năm yếu tố này, Thấy Thiện mang lại kết quả là tâm được giải thoát và lợi ích của tâm được giải thoát, mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ.”

(Chánh kiến)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?

– Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.

– Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?

– Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.

15. “Này hiền giả, có bao nhiêu cõi tồn tại (hữu / bhavā)?”

“Này hiền giả, có ba cõi tồn tại này—tồn tại cõi dục (dục hữu / kāmabhavo), tồn tại cõi vật chất (sắc hữu / rūpabhavo), tồn tại cõi phi vật chất (vô sắc hữu / arūpabhavo).”

16. “Này hiền giả, làm thế nào lại có sự Tái sinh (sinh / punabbhavābhinibbatti) trong tương lai?”

“Này hiền giả, đối với những chúng sinh bị che mờ bởi không hiểu biết (vô minh / avijjā), bị trói buộc bởi mong muốn (tham ái / taṇhā), có sự chạy theo vui thú (dục hỷ / abhinandanā) chỗ này chỗ kia—như vậy là có sự Tái sinh trong tương lai.”

17. “Này hiền giả, làm thế nào lại không có sự Tái sinh trong tương lai?”

“Này hiền giả, do sự phai nhạt của không hiểu biết, do sự phát sinh của hiểu biết (minh / vijjā), do sự chấm dứt (diệt / nirodhā) của mong muốn—như vậy là không có sự Tái sinh trong tương lai.”

(Hữu)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?

– Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.

– Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?

– Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.

– Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?

– Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.

18. “Này hiền giả, thế nào là Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất?”

“Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) bản năng (dục / kāma), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusala dhamma), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có sự chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ—này hiền giả, đây được gọi là Thiền-na thứ nhất.”

19. “Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có bao nhiêu yếu tố?”

“Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm yếu tố. Ở đây, này hiền giả, đối với tỳ kheo đã nhập vào Thiền-na thứ nhất, có sự chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka), có sự nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), có hân hoan, có hạnh phúc, và có tâm hợp thành một (nhất tâm / cittekaggatā). Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm yếu tố như vậy.”

20. “Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ (đoạn trừ / pahīna) bao nhiêu yếu tố và được trang bị bao nhiêu yếu tố?”

“Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ năm yếu tố và được trang bị năm yếu tố. Ở đây, này hiền giả, đối với tỳ kheo đã nhập vào Thiền-na thứ nhất, muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchando) đã được từ bỏ, ác ý hãm hại (sân hận / byāpādo) đã được từ bỏ, uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddhaṁ) đã được từ bỏ, bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkuccaṁ) đã được từ bỏ, nghi ngờ (nghi / vicikicchā) đã được từ bỏ; và có sự chủ động hướng sự chú ý, có sự nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan, có hạnh phúc, và có tâm hợp thành một. Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ năm yếu tố và được trang bị năm yếu tố như vậy.”

(Thiền-na thứ nhất)

– Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?

– Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.

21. “Này hiền giả, có năm giác quan (ngũ căn / pañcindriyāni) này với các phạm vi khác nhau, các đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau, đó là—giác quan mắt (nhãn căn / cakkhundriyaṁ), giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, đối với năm giác quan có phạm vi khác nhau, đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau này, cái gì là nơi nương tựa, và cái gì trải nghiệm phạm vi và đối tượng của chúng?”

“Này hiền giả, có năm giác quan này với các phạm vi khác nhau, các đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, đối với năm giác quan có phạm vi khác nhau, đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau này, trí não (ý / mano) là nơi nương tựa, và trí não trải nghiệm phạm vi và đối tượng của chúng.”

22. “Này hiền giả, có năm giác quan này, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, năm giác quan này dựa vào (duyên / paṭicca) cái gì để tồn tại?”

“Này hiền giả, có năm giác quan này, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, năm giác quan này dựa vào mạng sống (thọ mạng / āyu) để tồn tại.”

“Này hiền giả, mạng sống dựa vào cái gì để tồn tại?”

“Mạng sống dựa vào hơi ấm (noãn / usmaṁ) để tồn tại.”

“Này hiền giả, hơi ấm dựa vào cái gì để tồn tại?”

“hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại.”

“Ngay bây giờ, này hiền giả, chúng tôi hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như thế này: ‘mạng sống dựa vào hơi ấm để tồn tại’. Và ngay bây giờ, này hiền giả, chúng tôi hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như thế này: ‘hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại’. Này hiền giả, ý nghĩa của lời nói này nên được nhìn nhận như thế nào?”

“Vậy thì này hiền giả, tôi sẽ đưa ra cho hiền giả một ví dụ; vì nhờ ví dụ mà một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này hiền giả, giống như một ngọn đèn dầu đang cháy, dựa vào ngọn lửa mà ánh sáng xuất hiện, dựa vào ánh sáng mà ngọn lửa xuất hiện; cũng vậy, này hiền giả, mạng sống dựa vào hơi ấm để tồn tại, hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại.”

(Năm căn)

– Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?

– Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.

– Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?

– Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.

– Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?

– Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.

– Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?

– Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.

– Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?

– Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.

23. “Này hiền giả, các hoạt động duy trì mạng sống (pháp thọ hành /āyusaṅkhārā) có phải chính là những điều cảm nhận (thọ pháp/vedaniyā dhammā), hay các hoạt động duy trì mạng sống là khác và những điều cảm nhận được là khác?”

“Này hiền giả, các hoạt động duy trì mạng sống không phải là những điều cảm nhận được. Này hiền giả, nếu các hoạt động duy trì mạng sống là những điều cảm nhận được, thì sẽ không thể thấy sự xuất ra của một tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha). Nhưng này hiền giả, vì hoạt động duy trì mạng sống và những Điều cảm nhận được là khác, do đó mới có thể thấy sự xuất ra của một tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ.”

24. “Này hiền giả, khi bao nhiêu điều rời bỏ thân này, thì thân này bị vứt bỏ, quăng đi, nằm đó như một khúc gỗ vô tri?”

“Này hiền giả, khi ba Điều rời bỏ thân này: mạng sống, hơi ấm và Nhận Biết; thì thân này bị vứt bỏ, quăng đi, nằm đó như một khúc gỗ vô tri.”

25. “Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, và tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ—giữa họ có sự khác biệt gì?”

“Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, các hoạt động của thân đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của ngôn ngữ đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của tâm đã chấm dứt, đã lắng dịu; mạng sống đã cạn kiệt, hơi ấm đã tiêu tan, các giác quan đã bị phá vỡ. Còn đối với tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ, các hoạt động của thân đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của ngôn ngữ đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của tâm đã chấm dứt, đã lắng dịu; nhưng mạng sống chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tiêu tan, các giác quan vô cùng trong trẻo. Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, và tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ—đây là sự khác biệt giữa họ.”

(Pháp thọ hành)

– Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?

– Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.

– Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?

– Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ như một khúc gỗ vô tri.

– Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?

– Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.

26. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu?”

“Này hiền giả, có bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu. Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo với sự từ bỏ hạnh phúc và sự từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình (xả / upekkhā) và tập trung chú ý (niệm / sati). Này hiền giả, đây là bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu.”

27. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng (vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)?” [‘tướng’: không riêng ‘hình dáng’ của mắt, tướng là các đối tượng của 5 giác quan]

“Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý (tác ý / manasikāro) đến tướng (tướng / nimitta) và suy nghĩ đến tính không tướng (vô tướng giới/animittā dhātu). Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng.”

“Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng?”

28. “Này hiền giả, có ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý đến tướng, suy nghĩ, chú ý đến tính không tướng và ý định từ trước. Này hiền giả, đây là ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng.”

29. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng?”

“Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng—suy nghĩ đến tướng, và không suy nghĩ đến tính không tướng. Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng.”

“Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng (vô lượng tâm giải thoát/ appamāṇā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì (vô sở hữu tâm giải thoát / ākiñcaññā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng (không tâm giải thoát/ suññatā cetovimutti), và giải thoát qua tâm không tướng ((vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)—những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt hay chúng có cùng nghĩa và khác về cách diễn đạt?”

30. "Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng, giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì, giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng, và giải thoát qua tâm không tướng—này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều này có khác nghĩa và khác cách diễn đạt; và này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt.

31. Này hiền giả, cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt?

Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm yêu thương (từ / mettā), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm yêu thương, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Với tâm đi cùng Tâm thông cảm (bi / karuṇā) […lặp lại…] với tâm đi cùng Tâm cùng vui (hỷ / muditā) […lặp lại…] vị ấy an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm quân bình, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm quân bình, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Này hiền giả, đây được gọi là giả thoát qua tâm vô lượng.

32. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn xứ Nhận biết là Vô Tận (thức vô biên xứ), đạt đến và an trú trong xứ Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ) với suy nghĩ ‘không có vật gì’. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì.

33. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, vị ấy suy xét như sau: ‘Trống rỗng là cái này, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã’. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng.

34. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm không tướng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo do không suy nghĩ đến mọi tướng, đạt đến và an trú trong định của tâm không tướng. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm không tướng.

Này hiền giả, đây là cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt.

35. Này hiền giả, cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt

Này hiền giả, đắm nhiễm (tham / rāgo) là thứ tạo ra giới hạn (tác lượng / pamāṇakaraṇo), ám ảnh khó chịu (sân / doso) là thứ tạo ra giới hạn, sự u mê (si / moho) là thứ tạo ra giới hạn. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava), những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại (vô sanh / anuppādadhammā) trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giả thoát qua tâm vô lượng, tâm giải thoát bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động (akuppā cetovimutti) đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

36. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra sự vướng bận (tác vô sở hữu / kiñcano), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra sự vướng bận, sự u mê là thứ tạo ra sự vướng bận. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các tâm được giải thoát không có vật gì, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

37. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra tướng (tác tướng / nimittakaraṇo), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra tướng, sự u mê là thứ tạo ra tướng. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giải thoát qua tâm không tướng, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

Này hiền giả, đây là cách giải thích mà theo đó những điều này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về cách diễn đạt."

Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Tôn giả Mahākoṭṭhika hài lòng, vui mừng đón nhận lời nói của Tôn giả Sāriputta.

Kinh Đại Phương Quảng thứ ba kết thúc.

(Tâm giải thoát)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?

– Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ- kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.

– Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: “Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở”. Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.

Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.

Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.

Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.

-ooOoo-