Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 16. KINH SỰ CHAI SẠN CỦA TÂM

(Cetokhilasutta)
Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ Viên), khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Này các tỳ kheo, đối với bất kỳ tỳ kheo nào mà năm sự chai sạn của tâm (tâm hoang vu / cetokhilā) chưa được loại bỏ (đoạn trừ / appahīnā), năm sự trói buộc của tâm (tâm triền phược / cetasovinibandhā) chưa được cắt đứt, thì vị ấy sẽ đạt đến sự phát triển, lớn mạnh và mở rộng (vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ) trong Quy luật và Kỷ luật (pháp và luật / dhammavinaye) này — điều đó không thể xảy ra.

MN 16. KINH TÂM HOANG VU

(Cetokhila Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Tỷ-kheo”. --“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.

Năm sự chai sạn của tâm chưa được loại bỏ của vị ấy là những gì? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo nghi ngờ (kaṅkhati), do dự (vicikicchati), không tin tưởng (nādhimuccati), không có niềm tin tuyệt đối (tịnh tín / sampasīdati) vào Bậc Đạo Sư. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không có niềm tin tuyệt đối vào Bậc Đạo Sư, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm (ātappāya), nỗ lực (anuyogāya), kiên trì (sātaccāya), siêng năng (padhānāya). Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự chai sạn của tâm thứ nhất chưa được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không có niềm tin tuyệt đối vào Quy luật (pháp / dhamme) […lặp lại…] thì đây là sự chai sạn của tâm thứ hai chưa được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không có niềm tin tuyệt đối vào Tăng chúng (saṅghe) […lặp lại…] thì đây là sự chai sạn của tâm thứ ba chưa được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không có niềm tin tuyệt đối vào sự rèn luyện (sikkhāya). Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không có niềm tin tuyệt đối vào sự rèn luyện, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự chai sạn của tâm thứ tư chưa được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo tức giận (kupito), không hài lòng (anattamano), mang tâm thù hận (āhatacitto), sinh ra sự khô cằn (khilajāto) đối với những người bạn đồng tu (sabrahmacārīsu). Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào tức giận, không hài lòng, mang tâm thù hận, sinh ra sự khô cằn đối với những người bạn đồng tu, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự chai sạn của tâm thứ năm chưa được loại bỏ của vị ấy. Đây là năm sự chai sạn của tâm chưa được loại bỏ của vị ấy.

Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín… (như trên)… Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai chưa được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín… (như trên)… Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba chưa được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín… (như trên)… Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì; tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ.

Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ.

Năm sự trói buộc của tâm chưa được cắt đứt của vị ấy là những gì? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo chưa cạn hết đắm nhiễm (ly tham / avītarāgo), chưa hết ý nguyện (dục / avigatacchando), chưa hết yêu thích (avigatapemo), chưa hết khao khát (avigatapipāso), chưa hết bốc hỏa (avigatapariḷāho), chưa hết mong muốn (tham ái / avigatataṇho) đối với bản năng (dục / kāme). Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào chưa cạn hết đắm nhiễm, chưa hết ý nguyện, chưa hết yêu thích, chưa hết khao khát, chưa hết bốc hỏa, chưa hết mong muốn đối với bản năng, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất chưa được cắt đứt của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo chưa cạn hết đắm nhiễm đối với cơ thể (thân / kāye) […lặp lại…] thì đây là sự trói buộc của tâm thứ hai chưa được cắt đứt của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo chưa cạn hết đắm nhiễm đối với vật chất (sắc / rūpe) […lặp lại…] thì đây là sự trói buộc của tâm thứ ba chưa được cắt đứt của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo ăn no đến mức đầy ứ bụng, rồi sống chạy theo cảm giác dễ chịu (lạc / sukha) của việc nằm nghỉ, cảm giác dễ chịu của việc ngả lưng, cảm giác dễ chịu của sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / middha). Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào ăn no đến mức đầy ứ bụng, rồi sống chạy theo cảm giác dễ chịu của việc nằm nghỉ, cảm giác dễ chịu của việc ngả lưng, cảm giác dễ chịu của sự uể oải, buồn ngủ, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ tư chưa được cắt đứt của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo thực hành đời sống thánh thiện với mục đích hướng đến một cõi chư thiên nào đó, [nghĩ rằng]: ‘Bằng lối sống đạo đức (giới / sīlena) này, hay bằng các nghi thức này, hay bằng sự tu khổ hạnh này, hay bằng đời sống thánh thiện này, ta sẽ trở thành một vị trời, hay một vị trong số chư thiên’. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào thực hành đời sống thánh thiện với mục đích hướng đến một cõi chư thiên nào đó, [nghĩ rằng]: ‘Bằng lối sống đạo đức này, hay bằng các nghi thức này, hay bằng sự tu khổ hạnh này, hay bằng đời sống thánh thiện này, ta sẽ trở thành một vị trời, hay một vị trong số chư thiên’, thì tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm không hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ năm chưa được cắt đứt của vị ấy. Đây là năm sự trói buộc của tâm chưa được cắt đứt của vị ấy.

Thế nào là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào đối với những dục, không phải không tham ái… không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái … (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê cho đến bụng chứa đầy… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được đoạn tận.

Như vậy là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận.

Này các tỳ kheo, đối với bất kỳ tỳ kheo nào mà năm sự chai sạn của tâm này chưa được loại bỏ, năm sự trói buộc của tâm này chưa được cắt đứt, thì vị ấy sẽ đạt đến sự phát triển, lớn mạnh và mở rộng trong Quy luật và Kỷ luật này — điều đó không thể xảy ra.

Này các tỳ kheo, đối với bất kỳ tỳ kheo nào mà năm sự chai sạn của tâm đã được loại bỏ, năm sự trói buộc của tâm đã được cắt đứt hoàn toàn, thì vị ấy sẽ đạt đến sự phát triển, lớn mạnh và mở rộng trong Quy luật và Kỷ luật này — điều đó có thể xảy ra.

Năm sự chai sạn của tâm đã được loại bỏ của vị ấy là những gì? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo không nghi ngờ, không do dự, tin tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào Bậc Đạo Sư. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào không nghi ngờ, không do dự, tin tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào Bậc Đạo Sư, thì tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự chai sạn của tâm thứ nhất đã được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo không nghi ngờ, không do dự, tin tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào Quy luật […lặp lại…] thì đây là sự chai sạn của tâm thứ hai đã được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo không nghi ngờ, không do dự, tin tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào Tăng chúng […lặp lại…] thì đây là sự chai sạn của tâm thứ ba đã được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo không nghi ngờ, không do dự, tin tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào sự rèn luyện […lặp lại…] thì đây là sự chai sạn của tâm thứ tư đã được loại bỏ của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo không tức giận, không không hài lòng, không mang tâm thù hận, không sinh ra sự khô cằn đối với những người bạn đồng tu. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào không tức giận, không không hài lòng, không mang tâm thù hận, không sinh ra sự khô cằn đối với những người bạn đồng tu, thì tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự chai sạn của tâm thứ năm đã được loại bỏ của vị ấy. Đây là năm sự chai sạn của tâm đã được loại bỏ của vị ấy.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu này, chưa đoạn tận năm tâm triền phược này, vị ấy có thể lớn mạnh trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã diệt trừ năm tâm hoang vu, đã đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này có xảy ra.

Thế nào là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất đã được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín… (như trên)… Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai đã được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Tăng, không do dự, quyết đoán, tịnh tín… (như trên)… Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba đã được diệt trừ.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ học pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư đã được diệt trừ.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được diệt trừ.

Như vậy là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ.

Năm sự trói buộc của tâm đã được cắt đứt hoàn toàn của vị ấy là những gì? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo đã cạn hết đắm nhiễm, đã hết ý nguyện, đã hết yêu thích, đã hết khao khát, đã hết bốc hỏa, đã hết mong muốn đối với bản năng. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào đã cạn hết đắm nhiễm, đã hết ý nguyện, đã hết yêu thích, đã hết khao khát, đã hết bốc hỏa, đã hết mong muốn đối với bản năng, thì tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất đã được cắt đứt hoàn toàn của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo đã cạn hết đắm nhiễm đối với cơ thể […lặp lại…]

đã cạn hết đắm nhiễm đối với vật chất […lặp lại…]

không ăn no đến mức đầy ứ bụng, rồi sống chạy theo cảm giác dễ chịu của việc nằm nghỉ, cảm giác dễ chịu của việc ngả lưng, cảm giác dễ chịu của sự uể oải, buồn ngủ. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào không ăn no đến mức đầy ứ bụng, rồi sống chạy theo cảm giác dễ chịu của việc nằm nghỉ, cảm giác dễ chịu của việc ngả lưng, cảm giác dễ chịu của sự uể oải, buồn ngủ, thì tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ tư đã được cắt đứt hoàn toàn của vị ấy.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo không thực hành đời sống thánh thiện với mục đích hướng đến một cõi chư thiên nào đó, [nghĩ rằng]: ‘Bằng lối sống đạo đức này, hay bằng các nghi thức này, hay bằng sự tu khổ hạnh này, hay bằng đời sống thánh thiện này, ta sẽ trở thành một vị trời, hay một vị trong số chư thiên’. Này các tỳ kheo, tỳ kheo nào không thực hành đời sống thánh thiện với mục đích hướng đến một cõi chư thiên nào đó, [nghĩ rằng]: ‘Bằng lối sống đạo đức này, hay bằng các nghi thức này, hay bằng sự tu khổ hạnh này, hay bằng đời sống thánh thiện này, ta sẽ trở thành một vị trời, hay một vị trong số chư thiên’, thì tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng. Bất cứ ai mà tâm hướng đến nhiệt tâm, nỗ lực, kiên trì, siêng năng, thì đây là sự trói buộc của tâm thứ năm đã được cắt đứt hoàn toàn của vị ấy. Đây là năm sự trói buộc của tâm đã được cắt đứt hoàn toàn của vị ấy.

Thế nào là năm tâm triền phược đã được đoạn tận?

Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không có tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không có tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghĩ, khoái lạc về thụy miên… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được đoạn tận.

Như vậy là năm tâm triền phược đã được đoạn tận.

Này các tỳ kheo, đối với bất kỳ tỳ kheo nào mà năm sự chai sạn của tâm này đã được loại bỏ, năm sự trói buộc của tâm này đã được cắt đứt hoàn toàn, thì vị ấy sẽ đạt đến sự phát triển, lớn mạnh và mở rộng trong Quy luật và Kỷ luật này — điều đó có thể xảy ra.

Vị ấy phát triển cổng thần thông (thần túc / iddhipāda) được hình thành bởi Định sinh ra từ ý nguyệncác hoạt động nỗ lực (tinh cần hành / padhānasaṅkhāra), phát triển cổng thần thông được hình thành bởi Định sinh ra từ nỗ lực và các hoạt động nỗ lực, phát triển cổng thần thông được hình thành bởi Định sinh ra từ tâm và các hoạt động nỗ lực, phát triển cổng thần thông được hình thành bởi Định sinh ra từ sự tìm hiểu-phân tích và các hoạt động nỗ lực, và sự nhiệt huyết (hăng hái / ussoḷhī) là yếu tố thứ năm. Này các tỳ kheo, tỳ kheo được trang bị bởi mười lăm yếu tố cùng với sự nhiệt huyết (thành tựu mười lăm chi phần hăng hái / ussoḷhipannarasaṅgasamannāgato) như vậy, có khả năng đạt đến sự chán ngán [những điều trói buộc] (yếm ly / abhinibbidāya), có khả năng đạt đến sự tỉnh thức (giác ngộ / sambodhāya), có khả năng đạt được sự an toàn tuyệt đối khỏi các ách trói buộc (vô thượng an ổn khỏi các khổ ách / anuttarassa yogakkhemassa).

Này các tỳ kheo, giống như một con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Những quả trứng đó được con gà mái ấp ủ đúng cách, sưởi ấm đúng cách, chăm sóc đúng cách. Cho dù con gà mái ấy không khởi lên mong muốn: ‘Ôi, mong sao những con gà con này dùng móng vuốt hay mỏ đục thủng vỏ trứng và nở ra một cách an toàn!’ Thì những con gà con ấy vẫn có khả năng dùng móng vuốt hay mỏ đục thủng vỏ trứng và nở ra một cách an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo được hình thành bởi mười lăm yếu tố cùng với sự nhiệt huyết như vậy, có khả năng đạt đến sự chán ngán [những điều trói buộc], có khả năng đạt đến sự tỉnh thức, có khả năng đạt được sự an toàn tuyệt đối khỏi các ách trói buộc."

Thế Tôn nói điều này. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Sự Chai sạn của tâm, bài kinh thứ sáu.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã đoạn tận năm tâm triền phược này, thời vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này có xảy ra.

Vị này tu tập như ý túc câu hữu với dục Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tâm Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tư duy Thiền định; và tinh cần hành với nỗ lực là thứ năm.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười lăm pháp kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.

Chư Tỷ-kheo, như có khoảng tám, mười hay mười hai cái trứng của con gà mái, những trứng này được con gà mái khéo ấp, ngồi lên trên, khéo ấp nóng, khéo ấp dưỡng, thời dầu cho con gà mái không khởi lên sự mong ước: “Mong rằng những con gà con của ta, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng, hay với mỏ của chúng, có thể thoát ra một cách yên ổn”, những con gà con ấy, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng hay với mỏ của chúng, có khả năng thoát ra một cách yên ổn. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Tỷ-kheo đầy đủ mười lăm pháp, kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn.

-ooOoo-