Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 15. KINH SUY NGẪM ĐỐI CHIẾU

(Anumānasutta)

Tôi đã nghe như vầy — một thời Tôn giả Mahāmoggallāna đang trú tại vùng Bhagga, ở núi Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, nơi nuôi dưỡng nai. Tại đó, Tôn giả Mahāmoggallāna gọi các tỳ kheo: “Này các hiền giả tỳ kheo”.

“Thưa hiền giả,” các tỳ kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahāmoggallāna. Tôn giả Mahāmoggallāna nói như sau:

"Này các hiền giả, cho dù một tỳ kheo có thỉnh cầu rằng: ‘Xin các tôn giả hãy góp ý cho tôi, tôi cần được các tôn giả góp ý’, nhưng nếu vị ấy là người khó nói (khó dạy / dubbaco), mang trong mình những đặc tính khiến người khác khó góp ý (ác ngữ pháp / dovacassakaraṇehi dhammehi), thiếu kiên nhẫn, không đón nhận lời khuyên bảo một cách đúng đắn, thì các vị đồng tu sẽ nghĩ rằng không nên góp ý cho vị ấy, không nên khuyên bảo vị ấy, và không nên đặt niềm tin vào con người ấy.

Và này các hiền giả, thế nào là những đặc tính khiến người khác khó góp ý? Ở đây, này các hiền giả, tỳ kheo có mong muốn xấu xa (ác dục / pāpiccho), bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa (pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gato). Việc tỳ kheo có mong muốn xấu xa, bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo đề cao bản thân và hạ thấp người khác (tự khen chê người / attukkaṁsako paravambhī). Việc tỳ kheo đề cao bản thân và hạ thấp người khác — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo tức giận và bị cơn giận chi phối (phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối / kodhano kodhābhibhūto). Việc tỳ kheo tức giận và bị cơn giận chi phối — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo tức giận và sinh lòng oán hận (oán hận / upanāhī) vì tức giận. Việc tỳ kheo tức giận và sinh lòng oán hận vì tức giận — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo tức giận và sinh lòng cố chấp (cố chấp / abhisaṅgī) vì tức giận. Việc tỳ kheo tức giận và sinh lòng cố chấp vì tức giận — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ. Việc tỳ kheo tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối (chống đối / paṭippharati) người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc (mắng nhiếc / apasādeti) người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại (bắt bẻ lại / paccāropeti) người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo che giấu lỗi lầm và có ác ý (phỉ báng, não hại / makkhī paḷāsī). Việc tỳ kheo che giấu lỗi lầm và có ác ý — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo ghen tị và keo kiệt (tật đố, xan tham / issukī maccharī). Việc tỳ kheo ghen tị và keo kiệt — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo dối trá và xảo quyệt (lừa đảo, xảo trá / saṭho māyāvī). Việc tỳ kheo dối trá và xảo quyệt — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cứng đầu và ngạo mạn (ngoan cố, ngã mạn / thaddho atimānī). Việc tỳ kheo cứng đầu và ngạo mạn — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ (chấp trước tự kiến, cố chấp, khó từ bỏ / sandiṭṭhiparāmāsī ādhānaggāhī duppaṭinissaggī). Việc tỳ kheo bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ — đây cũng là một đặc tính khiến người khác khó góp ý.

Này các hiền giả, đây được gọi là những đặc tính khiến người khác khó góp ý.

MN 15. KINH TƯ LƯỢNG

(Anumàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Tôn giả Mahamoggallana sống giữa những người thuộc dòng họ Bhagga, tại núi Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Ở đây, Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:

–“Chư Hiền Tỷ-kheo.”

–“Thưa Hiền giả.”

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahamoggallana. Tôn giả Mahamoggallana nói như sau:

– Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo thỉnh nguyện: “Mong rằng chư Tôn giả nói với tôi, mong rằng tôi được chư Tôn giả nói!” Nhưng nếu vị ấy là một người khó nói, đầy đủ những tánh khiến người ấy trở thành khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón nhận khi được giảng dạy thì các vị đồng phạm hạnh nghĩ rằng, Tỷ-kheo ấy không đáng nói đến, nghĩ rằng Tỷ-kheo ấy không đáng được giáo huấn, nghĩ rằng không nên đặt lòng tin vào người ấy.

Chư Hiền, thế nào là những tánh khiến người ấy trở thành khó nói?

(1) Chư Hiền, ở đây, vị Tỷ-kheo có ác dục bị ác dục chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo có ác dục, bị ác dục chi phối, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo khen mình chê người; chư Hiền, Tỷ-kheo khen mình chê người, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận, như vậy là… khó nói.

(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp, như vậy là… khó nói.

(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ… khó nói.

(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chống đối vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chỉ trích vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo hư ngụy và não hại; chư Hiền, Tỷ-kheo hư ngụy và não hại… khó nói.

(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo tật đố và xan tham; chư Hiền, Tỷ-kheo tật đố và xan tham… khó nói.

(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo lừa đảo và lường gạt; chư Hiền, Tỷ-kheo lừa đảo và lường gạt… khó nói.

(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo ngoan mê và quá mạn; chư Hiền, Tỷ-kheo ngoan mê và quá mạn… khó nói.

(16) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả; chư Hiền, Tỷ- kheo chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, như vậy là một tánh trở thành khó nói.

Chư Hiền, như vậy được gọi là những tánh khiến trở thành khó nói.

Này các hiền giả, cho dù một tỳ kheo không thỉnh cầu rằng: ‘Xin các tôn giả hãy góp ý cho tôi, tôi cần được các tôn giả góp ý’, nhưng nếu vị ấy là người dễ nói, mang trong mình những đặc tính dễ tiếp thu góp ý (thiện ngữ pháp / sovacassakaraṇehi dhammehi), kiên nhẫn, đón nhận lời khuyên bảo một cách đúng đắn, thì các vị đồng tu sẽ nghĩ rằng nên góp ý cho vị ấy, nên khuyên bảo vị ấy, và nên đặt niềm tin vào con người ấy.

Và này các hiền giả, thế nào là những đặc tính dễ tiếp thu góp ý? Ở đây, này các hiền giả, tỳ kheo không có mong muốn xấu xa, không bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa. Việc tỳ kheo không có mong muốn xấu xa, không bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không đề cao bản thân và hạ thấp người khác. Việc tỳ kheo không đề cao bản thân và hạ thấp người khác — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không tức giận và bị cơn giận chi phối. Việc tỳ kheo không tức giận và bị cơn giận chi phối — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không tức giận và không sinh lòng oán hận vì tức giận. Việc tỳ kheo không tức giận và không sinh lòng oán hận vì tức giận — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không tức giận và không sinh lòng cố chấp vì tức giận. Việc tỳ kheo không tức giận và không sinh lòng cố chấp vì tức giận — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không tức giận và không thốt ra những lời nói giận dữ. Việc tỳ kheo không tức giận và không thốt ra những lời nói giận dữ — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, không phản ứng chống đối người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, không phản ứng chống đối người góp ý — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, không mắng nhiếc người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, không mắng nhiếc người góp ý — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, không bắt bẻ ngược lại người góp ý. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, không bắt bẻ ngược lại người góp ý — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, không lảng tránh sang chuyện khác, không đánh trống lảng, và không bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, không lảng tránh sang chuyện khác, không đánh trống lảng, và không bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo khi được người khác góp ý, chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình. Việc tỳ kheo khi được người khác góp ý, chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không che giấu lỗi lầm và có ác ý. Việc tỳ kheo không che giấu lỗi lầm và có ác ý — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không ghen tị và keo kiệt. Việc tỳ kheo không ghen tị và keo kiệt — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không dối trá và xảo quyệt. Việc tỳ kheo không dối trá và xảo quyệt — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không cứng đầu và ngạo mạn. Việc tỳ kheo không cứng đầu và ngạo mạn — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo không bám chặt vào quan điểm cá nhân, không cố chấp và dễ dàng buông bỏ. Việc tỳ kheo không bám chặt vào quan điểm cá nhân, không cố chấp và dễ dàng buông bỏ — đây cũng là một đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Này các hiền giả, đây được gọi là những đặc tính dễ tiếp thu góp ý.

Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo không thỉnh nguyện: “Mong rằng chư Tôn giả nói với tôi, mong rằng tôi được chư Tôn giả nói!”; Và nếu vị ấy là một người dễ nói, đầy đủ những đức tánh khiến người ấy trở thành dễ nói, kham nhẫn, cung kính đón nhận khi được nghe giảng dạy, thì các vị đồng phạm hạnh nghĩ rằng, Tỷ- kheo ấy đáng được nói đến, nghĩ rằng Tỷ-kheo ấy đáng được giáo huấn, nghĩ rằng nên đặt lòng tin vào người ấy.

Chư Hiền, thế nào là những đức tánh khiến người ấy trở thành dễ nói?

(1) Chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo không có ác dục, không bị ác dục chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo không có ác dục, không bị ác dục chi phối, như vậy là một đức tánh khiến trở thành dễ nói.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khen mình chê người; chư Hiền, Tỷ-kheo không khen mình chê người… dễ nói.

(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ,… trở thành dễ nói.

(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không trở lại chống đối vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chỉ trích vị đã khiển trách mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội … trở thành dễ nói.

(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không hư ngụy và não hại, chư Hiền, Tỷ-kheo không hư ngụy và não hại… trở thành dễ nói.

(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không tật đố và xan tham, chư Hiền, Tỷ-kheo không tật đố và xan tham … trở thành dễ nói.

(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khi cuống và lường gạt. Chư Hiền, Tỷ-kheo không khi cuống và lường gạt… trở thành dễ nói.

(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không ngoan mê và quá mạn, chư Hiền, Tỷ-kheo không ngoan mê và quá mạn… trở thành dễ nói.

(16) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, chư Hiền, Tỷ-kheo không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, như vậy là một đức tánh trở thành dễ nói.

Chư Hiền, như vậy được gọi là những đức tánh khiến trở thành dễ nói.

Ở đây, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình suy ngẫm đối chiếu (suy diễn / anuminitabbaṁ) với chính mình như sau: ‘Người nào có mong muốn xấu xa, bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi có mong muốn xấu xa, bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không có mong muốn xấu xa, không bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa’.

‘Người nào đề cao bản thân và hạ thấp người khác, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi đề cao bản thân và hạ thấp người khác, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không đề cao bản thân và hạ thấp người khác’.

‘Người nào tức giận và bị cơn giận chi phối, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi tức giận và bị cơn giận chi phối, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không tức giận và bị cơn giận chi phối’.

‘Người nào tức giận và sinh lòng oán hận vì tức giận, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi tức giận và sinh lòng oán hận vì tức giận, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không tức giận và không sinh lòng oán hận vì tức giận’.

‘Người nào tức giận và sinh lòng cố chấp vì tức giận, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi tức giận và sinh lòng cố chấp vì tức giận, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không tức giận và không sinh lòng cố chấp vì tức giận’.

‘Người nào tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không tức giận và không thốt ra những lời nói giận dữ’.

‘Người nào khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Khi được người khác góp ý, tôi sẽ không phản ứng chống đối người góp ý’.

‘Người nào khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Khi được người khác góp ý, tôi sẽ không mắng nhiếc người góp ý’.

‘Người nào khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Khi được người khác góp ý, tôi sẽ không bắt bẻ ngược lại người góp ý’.

‘Người nào khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Khi được người khác góp ý, tôi sẽ không lảng tránh sang chuyện khác, không đánh trống lảng, và không bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối’.

‘Người nào khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Khi được người khác góp ý, tôi sẽ chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình’.

‘Người nào che giấu lỗi lầm và có ác ý, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi che giấu lỗi lầm và có ác ý, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không che giấu lỗi lầm và có ác ý’.

‘Người nào ghen tị và keo kiệt, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi ghen tị và keo kiệt, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không ghen tị và keo kiệt’.

‘Người nào dối trá và xảo quyệt, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi dối trá và xảo quyệt, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không dối trá và xảo quyệt’.

‘Người nào cứng đầu và ngạo mạn, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi cứng đầu và ngạo mạn, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không cứng đầu và ngạo mạn’.

‘Người nào bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ, người đó không đáng yêu, không làm tôi vừa ý; và nếu tôi bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ, tôi cũng sẽ không đáng yêu, không làm người khác vừa ý’. Khi biết rõ như vậy, này các hiền giả, tỳ kheo cần khởi lên tâm niệm: ‘Tôi sẽ không bám chặt vào quan điểm cá nhân, không cố chấp và dễ dàng buông bỏ’.

(1) Chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải tư lượng tự ngã với tự ngã như sau: “Người này có ác dục, bị ác dục chi phối nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta có ác dục, bị ác dục chi phối, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không có ác dục, sẽ không bị ác dục chi phối.”

(2) “Người này khen mình chê người, nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta khen mình chê người, các người khác sẽ không ưa ta, sẽ không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không khen mình chê người.”

(3) “Người này có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối, nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối”;

(4) “Người này phẫn nộ, vì vị phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận”;

(5) “Người này phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp”;

(6) “Người này phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ nên Ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ”;

(7) “Người này bị buộc tội, trở lại chống đối vị đã buộc tội mình, nên Ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chống đối vị buộc tội mình”;

(8) “Người này bị buộc tội trở lại chỉ trích vị đã khiển trách mình, nên Ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chỉ trích vị buộc tội mình”;

(9) “Người này bị buộc tội, trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình, nên ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình”;

(10) “Người này bị buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của mình, nên ta không ưa người ấy… Ta bị buộc tội sẽ không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ra ngoài vấn đề, và không để lộ phẫn nộ, sân hận bất mãn của mình”;

(11) “Người này bị buộc tội, không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết nên ta không ưa người ấy… Ta bị buộc tội, sẽ giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết”;

(12) “Người này hư ngụy và não hại nên Ta không ưa người ấy… Ta sẽ không hư ngụy và não hại”;

(13) “Người này tật đố và xan tham nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không tật đố và xan tham”;

(14) “Người này khi cuống và lường gạt nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không khi cuống và lường gạt”;

(15) “Người này ngoan mê và quá mạn nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không ngoan mê và quá mạn”;

(16) “Người này chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”.

Tiếp theo, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình (quán sát / paccavekkhitabbaṁ) như sau: ‘Ta có đang có mong muốn xấu xa, bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang có mong muốn xấu xa, bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ (đoạn trừ / pahānāya) chính những điều xấu xa và không thiện (ác, bất thiện pháp / pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ) đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không có mong muốn xấu xa, không bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoan (hỷ / pīti) và thanh thản (duyệt / pāmojja) đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện (thiện pháp / kusalesu dhammesu).

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang đề cao bản thân và hạ thấp người khác hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang đề cao bản thân và hạ thấp người khác’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không đề cao bản thân và hạ thấp người khác’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang tức giận và bị cơn giận chi phối hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang tức giận và bị cơn giận chi phối’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không tức giận và bị cơn giận chi phối’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang tức giận và sinh lòng oán hận vì tức giận hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang tức giận và sinh lòng oán hận vì tức giận’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không tức giận và không sinh lòng oán hận vì tức giận’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang tức giận và sinh lòng cố chấp vì tức giận hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang tức giận và sinh lòng cố chấp vì tức giận’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không tức giận và không sinh lòng cố chấp vì tức giận’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang tức giận và thốt ra những lời nói giận dữ’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không tức giận và không thốt ra những lời nói giận dữ’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không khi được người khác góp ý, lại phản ứng chống đối người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không khi được người khác góp ý, lại mắng nhiếc người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không khi được người khác góp ý, lại bắt bẻ ngược lại người góp ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, đánh trống lảng, và bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không khi được người khác góp ý, lại lảng tránh sang chuyện khác, không đánh trống lảng, và không bộc lộ sự tức giận, bất mãn cùng thái độ chống đối’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang khi được người khác góp ý, lại không chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta khi được người khác góp ý, chịu giải thích rõ ràng hành vi của mình’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang che giấu lỗi lầm và có ác ý hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang che giấu lỗi lầm và có ác ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không che giấu lỗi lầm và có ác ý’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang ghen tị và keo kiệt hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang ghen tị và keo kiệt’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không ghen tị và keo kiệt’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang dối trá và xảo quyệt hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang dối trá và xảo quyệt’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không dối trá và xảo quyệt’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang cứng đầu và ngạo mạn hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang cứng đầu và ngạo mạn’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không cứng đầu và ngạo mạn’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, tỳ kheo cần tự mình tự quan sát lại mình như sau: ‘Ta có đang bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ hay không?’. Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta đang bám chặt vào quan điểm cá nhân, cố chấp và khó buông bỏ’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ chính những điều xấu xa và không thiện đó. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình biết rõ rằng: ‘Ta không bám chặt vào quan điểm cá nhân, không cố chấp và dễ dàng buông bỏ’, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình nhận thấy tất cả những điều xấu xa và không thiện này vẫn chưa được từ bỏ trong chính mình, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ tất cả những điều xấu xa và không thiện này. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình nhận thấy tất cả những điều xấu xa và không thiện này đã được từ bỏ trong chính mình, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện.

Này các hiền giả, giống như một người phụ nữ hay người đàn ông, trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang điểm, đang tự quan sát lại mình qua hình ảnh khuôn mặt mình trong một tấm gương sạch sẽ, sáng bóng, hoặc trong một bát nước trong vắt. Nếu người ấy thấy ở đó có bụi bẩn hay vết nhơ, người ấy sẽ nỗ lực để lau sạch chính bụi bẩn hay vết nhơ đó; nhưng nếu người ấy không thấy ở đó có bụi bẩn hay vết nhơ, người ấy sẽ hài lòng với điều đó: ‘Thật là lợi ích cho ta, ta thật sạch sẽ’.

Cũng y như vậy, này các hiền giả, nếu tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình nhận thấy tất cả những điều xấu xa và không thiện này vẫn chưa được từ bỏ trong chính mình, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần nỗ lực để từ bỏ tất cả những điều xấu xa và không thiện này. Nhưng nếu, này các hiền giả, tỳ kheo trong khi tự quan sát lại mình nhận thấy tất cả những điều xấu xa và không thiện này đã được từ bỏ trong chính mình, thì này các hiền giả, tỳ kheo ấy cần sống với niềm hân hoanthanh thản đó, ngày đêm rèn luyện trong những điều thiện."

Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời dạy của Tôn giả Mahāmoggallāna.

Kinh Suy Lượng thứ năm đã kết thúc.

Chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau:

(1) “Không biết ta có ác dục, có bị ác dục chi phối không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có ác dục và bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có ác dục, không bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau: "Không biết ta có khen mình chê người hay không? Ta không khen mình chê người… các thiện pháp.

(3) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối không…? Ta không có phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối… các thiện pháp.

(4) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân, trở thành có hiềm hận không…? Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người hiềm hận… các thiện pháp.

(5) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp…? Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp… các thiện pháp.

(6) Lại nữa,… không biết ta có phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ…? Ta không có phẫn nộ,

không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ… các thiện pháp.

(7) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chống đối vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chống vị đã buộc tội ta… các thiện pháp.

(8) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta … các thiện pháp.

(9) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta … các thiện pháp.

(10) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của ta…? Ta bị buộc tội, ta không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ngoài vấn đề, và ta không để lộ sự phẫn nộ, sân hận và bất mãn của ta… các thiện pháp.

(11) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết… Ta bị buộc tội, Ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết… các thiện pháp.

(12) Lại nữa, không biết ta có hư ngụy và não hại…? Ta không có hư ngụy và não hại… các thiện pháp.

(13) Lại nữa, không biết ta có tật đố và xan tham…? Ta không có tật đố và xan tham… các thiện pháp.

(14) Lại nữa, không biết ta có khi cuống và lường gạt…? Ta không có khi cuống và lường gạt… các thiện pháp.

(15) Lại nữa… không biết ta có ngoan mê và quá mạn…? Ta không có ngoan mê và quá mạn… các thiện pháp".

(16) Lại nữa, chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã như sau: “Không biết ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ những ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp đã được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Chư Hiền, ví như một phụ nữ hay một đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang điểm, tự quán sát mặt mày của mình trong một tấm kính sạch sẽ và trong suốt, hay trong một bát nước trong sáng. Nếu người ấy thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy tinh tấn đoạn trừ bụi bặm hay cấu uế ấy. Nếu người ấy không thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy sẽ hoan hỷ nghĩ rằng: “Thật sự ta được điều tốt đẹp; thật sự ta được thanh tịnh”. Cũng vậy chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng các ác, bất thiện pháp đã đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Tôn giả Mahamoggallana thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Mahamoggallana.

-ooOoo-