Skip to content

Chương 14

TUỔI GIÀ

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời, khi Đức Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, Vua Pasenadi nước Kosala đến yết kiến ngài vào giữa trưa. Đức Thế Tôn hỏi vua: “Đại vương từ đâu đến vào giữa trưa thế này?”

“Bạch Thế Tôn, con vừa bận rộn lo việc triều chính, những việc mà các vị vua chúa sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say sưa trong quyền lực, đắm chìm trong dục lạc, những người đã bình định xong đất nước và cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn, thường phải làm.”

“Đại vương nghĩ sao? Giả sử có một người đáng tin cậy từ phương đông đến thưa với đại vương rằng: ‘Tâu đại vương, xin ngài hay biết, thần từ phương đông lại. Nơi ấy, thần thấy một ngọn núi khổng lồ cao chạm trời đang di chuyển tới, nghiền nát mọi sinh linh. Xin đại vương hãy làm những gì cần phải làm.’ Rồi một người khác từ phương tây đến, một người từ phương bắc, và một người nữa từ phương nam, tất cả đều báo cùng một tin như vậy. Đứng trước hiểm họa kinh hoàng đang cận kề, trước sự hủy diệt tàn khốc không chừa mạng sống con người, khi kiếp người chẳng còn giữ nổi, đại vương sẽ làm gì?”

“Bạch Thế Tôn, vào lúc như thế, con còn làm gì được khác hơn là sống đúng Chánh pháp, sống theo lẽ phải, vun bồi điều thiện và tạo phước đức?”

“Ta nói cho đại vương biết, Ta tuyên bố cho đại vương hay: tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy đại vương. Khi tuổi già và cái chết đang bủa vây, này đại vương, ngài sẽ làm gì?”

“Bạch Thế Tôn, khi tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy con, con còn làm gì được khác hơn là sống đúng Chánh pháp, sống theo lẽ phải, vun bồi điều thiện và tạo phước đức? Còn về những việc mà các vị vua chúa sát-đế-lỵ say sưa quyền lực và đắm chìm dục lạc thường làm—như đem voi, ngựa, chiến xa và bộ binh đi chinh phạt—chẳng còn đất dụng võ hay có ích gì nữa khi tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy con. Trong triều đình của con có những quan lại giỏi pháp thuật, có tài làm bối rối quân thù đang tiến tới; nhưng những cuộc chiến ấy chẳng còn đất dụng võ hay có ích gì khi tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy con. Trong triều đình của con có vô số vàng thỏi chôn dưới lòng đất và cất giữ trong kho để mua chuộc quân địch; nhưng những cuộc chiến ấy chẳng còn đất dụng võ hay có ích gì khi tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy con. Bạch Thế Tôn, khi tuổi già và cái chết đang bủa vây, con còn làm gì được khác hơn là sống đúng Chánh pháp, sống theo lẽ phải, vun bồi điều thiện và tạo phước đức?”

“Thật đúng như vậy, đại vương, thật đúng như vậy. Khi tuổi già và cái chết đang bủa vây lấy ngài, ngài còn làm gì được khác hơn là sống đúng Chánh pháp, sống theo lẽ phải, vun bồi điều thiện và tạo phước đức?”

S. 3:25

Một thời, khi Đức Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, ở Đông Viên, nơi giảng đường Lộc Mẫu, vào buổi chiều ngài xuất định và ngồi sưởi lưng dưới những tia nắng mặt trời đang lặn. Tôn giả Ānanda đến gần đảnh lễ ngài. Trong khi xoa bóp tay chân cho Đức Thế Tôn, tôn giả bạch: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường! Giờ đây nước da của Đức Thế Tôn không còn sáng ngời và rạng rỡ nữa; tay chân ngài đều nhăn nheo, chùng xuống, lưng ngài còng về phía trước, và dường như có sự suy giảm nơi các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xúc chạm.”

“Đúng vậy, Ānanda, đúng vậy. Tuổi trẻ phải già, sức khỏe phải suy, sự sống phải chết. Giờ đây nước da của Ta không còn sáng ngời và rạng rỡ nữa; tay chân Ta đều nhăn nheo, chùng xuống, thân thể Ta còng về phía trước, và dường như có sự suy giảm nơi các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xúc chạm.”

Đức Thế Tôn dạy như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Đạo Sư nói thêm:

Thật xấu hổ tuổi già!
Kẻ tạo ra xấu xí
Tuổi già nay giẫm nát
Thân hình xưa đẹp xinh
Dù sống đến trăm tuổi
Chẳng thoát khỏi suy tàn
Tuổi già không chừa ai
Dập vùi muôn vạn vật

S. 48:41

Một thời, Đức Thế Tôn đang ngự tại Sāmagāma trong xứ Thích-ca, ngay sau khi giáo chủ Nigaṇṭha Nāthaputta qua đời tại Pāvā. Sau cái chết của ông, phái Nigaṇṭha bị chia rẽ thành hai phe, họ cãi cọ, tranh chấp, xích mích và bắn vào nhau những mũi tên miệng lưỡi: “Các người chẳng hiểu gì về Pháp và Luật này. Làm sao các người biết được Pháp và Luật này? Đường lối của các người là sai. Đường lối của tôi mới đúng. Tôi trước sau như một. Các người tiền hậu bất nhất. Điều đáng nói trước thì các người nói sau. Điều đáng nói sau thì các người nói trước. Những gì các người gầy dựng đã bị đảo lộn hết. Thuyết của các người đã bị bác bỏ. Các người đã thua cuộc. Hãy đi học lại cho khá hơn, hoặc tìm cách tự gỡ rối nếu làm nổi.” Cảnh tượng trông như một cuộc tương tàn giữa các môn đồ của Nigaṇṭha Nāthaputta. Và những cư sĩ áo trắng thất vọng, chán chường, ghê tởm đám môn đồ ấy cũng như chán ngấy một Pháp và Luật vụng về, khó thấu triệt, không dẫn tới đâu, chẳng đem lại bình an, do một kẻ chưa giác ngộ hoàn toàn tuyên thuyết, nay ngôi đền đã sụp đổ và không còn chỗ nương tựa.

Bấy giờ, sa-di Cunda, người vừa trải qua mùa an cư kiết hạ tại Pāvā, đến gặp tôn giả Ānanda và thuật lại sự việc. Họ cùng nhau đến yết kiến Đức Thế Tôn, và tôn giả Ānanda thưa lại những lời sa-di Cunda vừa kể, rồi nói thêm: “Bạch Thế Tôn, con nghĩ: ‘Mong sao không có sự tranh chấp nào nảy sinh khi Đức Thế Tôn diệt độ. Những tranh chấp chỉ mang lại bất hạnh và đau khổ cho số đông, đem lại tổn hại, tai ương và sầu muộn cho chư thiên và loài người.’”

“Ānanda, ông nghĩ sao? Những giáo pháp mà Ta đã tự mình chứng ngộ và giảng dạy cho các ông—tức là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ và Bát Chánh Đạo—ông có thấy dù chỉ hai tỳ-kheo nào diễn giải bất đồng với nhau chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không ạ. Nhưng có những người hiện nay quy phục Đức Thế Tôn, khi ngài diệt độ, có thể sẽ gây ra tranh cãi trong Tăng đoàn về vấn đề sinh kế và Giới bổn tu viện. Những tranh cãi như thế sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ cho số đông.”

“Tranh chấp về sinh kế hay về Giới bổn chỉ là chuyện nhỏ nhặt, này Ānanda. Nhưng nếu xảy ra tranh chấp trong Tăng đoàn về con đường hay phương pháp tu tập, những tranh chấp ấy mới thực sự đem lại bất hạnh và đau khổ cho số đông.”

MN-104

Một thời, Đức Thế Tôn đang ngự tại Vesālī, trong khu rừng phía tây bên ngoài thành. Lúc ấy, Sunakkhatta, một người con thuộc dòng dõi Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, và ông ta đi rêu rao giữa các buổi họp ở Vesālī rằng: “Sa-môn Gotama chẳng có pháp thượng nhân nào vượt trội, xứng tầm với tri kiến của bậc thánh. Sa-môn Gotama chỉ giảng dạy một thứ giáo pháp do suy tư mò mẫm ra, dựa theo suy luận tùy hứng nảy ra trong đầu; và ai được dạy giáo pháp ấy vì lợi ích của mình, thì khi thực hành, nó chỉ dẫn đến việc chấm dứt hoàn toàn khổ đau ở người đó, (chứ chẳng có gì khác hơn).”

Tôn giả Sāriputta nghe được điều này liền bạch lại với Đức Thế Tôn. “Này Sāriputta, kẻ lầm lạc Sunakkhatta là kẻ mang lòng sân hận, và những lời hắn nói ra đều xuất phát từ cơn giận. Tưởng rằng chê bai Như Lai, nhưng thực chất hắn lại đang tán thán Như Lai; vì quả là một lời tán thán Như Lai khi nói rằng: ‘Và ai được dạy giáo pháp ấy vì lợi ích của mình, thì khi thực hành, nó chỉ dẫn đến việc chấm dứt hoàn toàn khổ đau ở người đó.’

“Này Sāriputta, với tư cách là người đã sống trọn vẹn, Ta đã đích thân trải nghiệm nếp sống phạm hạnh với bốn yếu tố: Ta đã thực hành đến tột cùng sự khổ hạnh, sự thô ráp, sự cẩn trọng và sự viễn ly.

“Đó là sự khổ hạnh của Ta: 1 Ta sống trần truồng, gạt bỏ mọi lề thói, ăn xong liếm tay; không đến khi được mời, không dừng lại khi được yêu cầu; Ta không nhận thức ăn mang đến tận nơi, không nhận thức ăn nấu riêng cho mình, không nhận lời mời ăn; Ta không nhận thức ăn từ trong nồi, từ trong chảo, ngang qua ngưỡng cửa, qua khúc gậy, qua chày giã, từ hai người đang ăn cùng nhau, từ phụ nữ có thai, từ phụ nữ đang cho con bú, từ nơi người đàn bà đang nằm với đàn ông, từ nơi phát chẩn thức ăn, từ nơi có chó đang chờ chực, từ nơi có ruồi đang bu; Ta không ăn cá hay thịt, không uống rượu cất, rượu lên men hay bất kỳ chất say nào. Ta chỉ nhận thức ăn tại một nhà, ăn một miếng; nhận ở hai nhà, ăn hai miếng... nhận ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Ta sống bằng một đĩa thức ăn nhỏ, hai đĩa nhỏ... bảy đĩa nhỏ mỗi ngày; Ta chỉ ăn một bữa một ngày, hai ngày ăn một lần... bảy ngày ăn một lần; và cứ thế, cho đến nửa tháng mới ăn một bữa, Ta miệt mài theo đuổi hạnh ăn uống cách quãng theo định kỳ. Ta ăn rau cỏ dại, hạt kê, lúa hoang, da vụn, rêu mốc, cám gạo, nước vo gạo, bột mè, cỏ tươi hoặc phân bò; Ta sống nhờ rễ và quả rừng, nhặt những thứ rụng rơi mà ăn. Ta mặc vải gai thô, vải pha gai, vải liệm xác, giẻ rách nhặt ở bãi rác, vỏ cây, da linh dương, cỏ kusa bện lại, vỏ cây đan, gỗ vụn kết thành, áo dệt bằng tóc người, bằng lông thú, bằng cánh cú mèo. Ta là kẻ tự nhổ râu tóc, miệt mài với hạnh nhổ tóc nhổ râu. Ta là kẻ đứng liên tục, từ chối ngồi. Ta là kẻ ngồi xổm liên tục, gắng sức duy trì tư thế ngồi xổm. Ta dùng nệm gai; lấy nệm cắm chông gai làm giường nằm. Ta theo đuổi hạnh ngâm mình dưới nước ba lần mỗi ngày cho đến tận lúc tối mịt. Thật vậy, Ta đã miệt mài theo đuổi việc hành hạ, tra tấn thân xác bằng muôn vàn hình thức. Đó là sự khổ hạnh của Ta.

“Đó là sự thô ráp của Ta: Như thân cây tinduka qua bao năm tháng đóng thành từng lớp dày rồi tự bong tróc, bụi bặm dơ bẩn qua nhiều năm cũng đóng thành từng mảng trên thân thể Ta rồi tự bong ra. Ta chưa từng mảy may nghĩ: ‘Ôi, ước gì mình lấy tay phủi sạch lớp bụi bẩn này, hay có ai đó lấy tay phủi giúp mình’—ý nghĩ ấy chưa từng thoáng qua trong Ta. Đó là sự thô ráp của Ta.

“Đó là sự cẩn trọng của Ta: Ta luôn chánh niệm trong từng bước đi tới bước lui, cẩn thận đến mức rủ lòng thương xót ngay cả một giọt nước: ‘Mong sao ta không làm tổn hại những sinh vật tí hon trong các kẽ đất.’ Đó là sự cẩn trọng của Ta.

“Đó là sự viễn ly của Ta: Ta thường đi sâu vào một khu rừng và lưu lại nơi đó. Như con nai rừng hễ thấy bóng người là chạy tháo thân từ lùm cây này sang lùm cây khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ hốc đất này sang hốc đất khác, từ gò đồi này sang gò đồi khác; cũng vậy, khi thấy một người chăn bò, người chăn cừu, người đi hái cỏ, nhặt củi hay thợ rừng, Ta liền lẩn tránh từ lùm cây này sang lùm cây khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ hốc đất này sang hốc đất khác, từ gò đồi này sang gò đồi khác. Vì sao vậy? Để họ không nhìn thấy Ta và Ta cũng không nhìn thấy họ. Đó là sự viễn ly của Ta.

“Ta bò bằng bốn chân vào các chuồng bò khi đàn gia súc đã đi khỏi và người chăn bò đã rời đi, rồi Ta ăn phân của những con bê non còn đang bú mẹ. Miễn là phân và nước tiểu của chính mình còn thải ra, Ta liền dùng chính phân và nước tiểu của mình để nuôi thân. Đó là sự đảo lộn ghê gớm trong cách ăn uống của Ta.

“Ta thường tìm đến những khu rừng hoang rùng rợn để trú ngụ—những khu rừng đáng sợ đến mức một người bình thường chưa dứt lòng dục nếu bước vào ắt sẽ dựng tóc gáy. Vào những đêm đông giá rét trong ‘tám ngày băng giá’, ban đêm Ta ở ngoài trời trống trải, ban ngày Ta vào trong rừng rậm. Đến tháng cuối cùng của mùa nóng nực, ban ngày Ta ở ngoài trời nắng cháy, ban đêm Ta lại vào rừng. Và khi ấy, một bài kệ chưa từng được nghe trước đây bỗng tự nhiên khởi lên trong Ta:

Đêm lạnh ngày nắng cháy
Một mình chốn rừng hoang
Trần truồng không sưởi ấm
Ẩn sĩ quyết tìm cầu

“Ta lấy bãi tha ma làm giường, gối đầu lên đống xương người chết. Những đứa trẻ chăn bò kéo đến nhổ nước bọt vào Ta, tiểu tiện lên người Ta, ném đất cát vào Ta và thọc que vào tai Ta. Nhưng Ta chưa từng khởi một niệm oán ghét chúng. Đó là tâm xả của Ta.

“Này Sāriputta, có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng sự thanh tịnh đạt được nhờ thức ăn; họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng quả táo rừng (kola).’ Họ ăn quả táo rừng, ăn bột quả táo rừng, uống nước quả táo rừng và chế biến đủ món từ quả táo rừng. Này Sāriputta, Ta đã từng nếm trải việc chỉ ăn duy nhất một quả táo rừng mỗi ngày. Có thể ông nghĩ rằng quả táo rừng thời đó to hơn chăng; chớ nên nghĩ như vậy. Quả táo rừng khi ấy cùng lắm cũng chỉ bằng kích thước bây giờ. Do chỉ ăn mỗi ngày một quả táo rừng, thân thể Ta gầy mòn đến mức cực độ... Lại có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng sự thanh tịnh đạt được nhờ thức ăn, họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng hạt đậu.’ ... Họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng hạt mè.’ ... Họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng hạt gạo.’ ... Ta đã từng trải nghiệm ăn một hạt đậu duy nhất... một hạt mè duy nhất... một hạt gạo duy nhất mỗi ngày... Nhưng bằng những nghi thức ấy, bằng sự hành trì ấy, bằng việc khổ luyện những điều gian khó ấy, Ta chẳng đạt được pháp thượng nhân nào vượt trội, xứng tầm với tri kiến của bậc thánh. Vì sao vậy? Vì Ta đã không đạt được chánh trí của bậc thánh, thứ hiểu biết mà một khi chứng đắc sẽ giúp người thực hành dứt sạch mọi khổ đau, bởi nó thuộc về cảnh giới cao thượng và giúp xuất ly (khỏi thế gian).

“Có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng sự thanh tịnh đến từ việc trải qua một vòng luân hồi cụ thể nào đó. ‘Nhưng không thể tìm thấy một vòng tái sinh nào mà Ta chưa từng trải qua trong suốt cuộc hành trình dài dằng dặc này—ngoại trừ các cõi Tịnh Cư Thiên;’ vì nếu Ta từng sinh vào các cõi Tịnh Cư Thiên, Ta sẽ chẳng bao giờ trở lại thế gian này nữa.

“Có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng sự thanh tịnh đạt được nhờ tế lễ. Nhưng không thể tìm thấy một hình thức tế lễ nào mà Ta chưa từng dâng hiến trong cuộc hành trình dài dằng dặc này, khi làm một vị vua sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh hay một người giàu có thuộc giai cấp bà-la-môn.

“Có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng sự thanh tịnh đạt được nhờ thờ thần lửa. Nhưng không thể tìm thấy ngọn lửa nào mà Ta chưa từng cúng bái trong cuộc hành trình dài dằng dặc này, khi làm một vị vua sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh hay một người giàu có thuộc giai cấp bà-la-môn.

“Có những sa-môn, bà-la-môn chủ trương và tin rằng: ‘Chừng nào bậc thiện nhân này còn trẻ trung, một chàng trai tóc đen óng ả, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân trong chặng đầu đời, chừng ấy trí tuệ của ngài mới sáng suốt vẹn toàn. Nhưng khi bậc thiện nhân ấy đã già nua, tuổi cao tác lớn, năm tháng đè nặng, đi đến chặng cuối của cuộc đời, ở tuổi tám mươi, chín mươi hay một trăm, thì trí tuệ sáng suốt của ngài sẽ suy giảm.’ Nhưng chớ nên nhìn nhận như vậy. Giờ đây Ta đã già nua, tuổi cao tác lớn, năm tháng đè nặng, đi đến chặng cuối của đời người: tuổi Ta đã tròn tám mươi. Nay giả sử Ta có bốn người đệ tử sống thọ một trăm năm, tuổi thọ trọn một thế kỷ, hoàn hảo về chánh niệm, tỉnh giác, trí nhớ và trí tuệ sáng suốt—như một thiện xạ tài ba, được huấn luyện chu đáo, thiện chiến và dày dạn, có thể dễ dàng bắn một mũi tên nhẹ xuyên qua bóng cây thốt nốt; giả sử họ hoàn hảo về chánh niệm, tỉnh giác, trí nhớ và trí tuệ sáng suốt đến mức độ ấy—và giả sử họ liên tục hỏi Ta về bốn niệm xứ, Ta trả lời mỗi khi được hỏi, họ ghi nhớ từng câu trả lời, không bao giờ hỏi thêm những câu phụ, và không hề nghỉ ngơi ngoại trừ lúc ăn, uống, nhai, nếm, đại tiểu tiện và nghỉ ngơi chốc lát để xua tan mệt mỏi: thì sự thuyết giảng Chánh pháp của Như Lai, những lời giải thích về các yếu tố của Pháp, và những câu trả lời của ngài vẫn chẳng hề cạn kiệt. Trong khi đó, bốn người đệ tử ấy với tuổi thọ một trăm năm sẽ chết đi khi tròn trăm tuổi. Này Sāriputta, dẫu cho các ông có phải khiêng Ta đi trên một chiếc cáng, thì trí tuệ sáng suốt của Như Lai vẫn không hề suy chuyển.”

MN-12

NGƯỜI KỂ MỘT. Vào những năm tháng cuối đời của Đức Phật, một loạt sự việc phiền toái đã xảy ra—những sự việc mà theo cách nhìn thông thường sẽ bị coi là phiền toái. Vừa kể trên là việc một cựu tỳ-kheo tên là Sunakkhatta (từng có thời làm thị giả của Đức Phật) đã từ bỏ ngài và công khai nói xấu ngài trước công chúng, coi thường những năng lực thần thông của ngài, khiến Đức Phật phải cất lên tiếng “rống sư tử”, lời tuyên bố rằng chẳng có lối khổ hạnh ép xác nào mà ngài chưa từng kinh qua, chẳng có phương pháp thanh lọc bản thân nào mà ngài chưa từng thử nghiệm. Rồi ngài cũng sắp sửa mất đi hai vị đại đệ tử thượng thủ. Trong khi đó, Vua Pasenadi nước Kosala, người hộ trì hết lòng cho ngài trong suốt hơn bốn mươi năm, giờ đây ngày càng bị bủa vây bởi những biến động chính trị rối ren.

NGƯỜI KỂ HAI. Vua Pasenadi bằng tuổi Đức Phật và lúc này cũng đang ở tuổi tám mươi. Vua bị phiền não bởi những cuộc chiến tranh dai dẳng và vô ích với người cháu gọi bằng bác là Vua Ajātasattu nước Magadha, cũng như những vụ biến loạn định kỳ ngay trong vương quốc của mình. Do hậu quả của một âm mưu trong cung đình, vị đại tướng quân của ông là Bandhula bị vu cáo mưu phản và bị xử tử. Tuy nhiên, sau đó vua biết rằng viên tướng này vô tội. Nỗi ân hận giày vò tâm can ông. Để chuộc lại phần nào lỗi lầm, có lẽ vì thế mà ông đã phong cháu trai của tướng Bandhula là Dīgha Kārāyaṇa lên thay chức vụ đó.

Chú giải MN-89D. 16

NGƯỜI KỂ MỘT. Vua Pasenadi tìm đến Đức Phật để xin lời khuyên. Khi người bạn đời hết mực yêu thương của ông là Hoàng hậu Mallikā qua đời, ông rơi vào nỗi đau buồn sâu sắc và đã đến tìm Đức Phật, lúc đó đang ở Sāvatthī, để tìm kiếm sự an ủi.

Xem A. 5:49

NGƯỜI KỂ HAI. Cung điện nguy nga và kinh đô rực rỡ không còn mang lại niềm vui cho nhà vua nữa. Ông rời kinh thành một thời gian để ngao du từ nơi này sang nơi khác cùng một đoàn tùy tùng đông đúc, nhưng không có kế hoạch cụ thể nào.

NGƯỜI KỂ MỘT. Trong những chuyến đi đầy hoài niệm và bồn chồn ấy, con đường của vị vua già đôi khi tình cờ giao nhau với lộ trình của Đức Phật, và những lúc đó ông đều đến yết kiến ngài. Cái chết của vua không được ghi lại trong Tam Tạng kinh điển; nhưng Chú giải đã xếp một bài kinh vào số những sự kiện diễn ra ngay trước khi ông băng hà. Dưới đây là lời thuật lại cuộc hạnh ngộ cuối cùng giữa hai người.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn đang ngự tại xứ Thích-ca, ở một thị trấn của người Thích-ca tên là Medalumpa.

Lúc bấy giờ, Vua Pasenadi nước Kosala đến Nāgaraka vì một công việc nào đó. Vua bảo Dīgha Kārāyaṇa: “Này bạn, hãy chuẩn bị xe ngự. Chúng ta hãy đến ngự uyển để ngắm cảnh đẹp.”

“Xin vâng lệnh, tâu đại vương,” Dīgha Kārāyaṇa đáp. Khi xe đã chuẩn bị xong, viên tướng tâu với vua: “Tâu đại vương, xe ngự đã sẵn sàng. Giờ là lúc đại vương tùy nghi hành động.”

Vua Pasenadi bước lên xe ngự, xa giá với đầy đủ uy nghi của bậc đế vương hướng về phía công viên. Vua đi đến nơi mà cỗ xe còn có thể đi được; rồi xuống xe và đi bộ tiếp. Trong khi tản bộ thư giãn, vua nhìn thấy những gốc cây gợi lên niềm tin và sự thanh tịnh; nơi ấy tĩnh mịch, không bị tiếng ồn quấy rầy, toát lên vẻ thanh thoát, vắng bóng bóng người, rất thích hợp cho việc thiền định ẩn cư. Cảnh tượng ấy khiến vua nhớ đến Đức Thế Tôn. Vua liền nói: “Này bạn Dīgha Kārāyaṇa, những gốc cây này thật giống như những nơi... mà trước đây chúng ta từng đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hiện giờ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự ở đâu?”

“Tâu đại vương, có một thị trấn của người Thích-ca tên là Medalumpa. Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hiện đang ngự tại đó.”

“Từ Nāgaraka đến Medalumpa bao xa?”

“Không xa lắm, tâu đại vương; chừng ba do-tuần. Trời vẫn còn đủ sáng để đến đó.”

“Vậy hãy chuẩn bị xe đi, này bạn. Chúng ta hãy đi chiêm bái Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

“Xin vâng lệnh, tâu đại vương,” Dīgha Kārāyaṇa đáp. Vậy là vua lên xe đi từ Nāgaraka đến thị trấn Medalumpa của người Thích-ca, đến nơi khi trời vẫn còn sáng. Vua hướng về phía công viên, đi xe cho đến đoạn đường xe không đi được nữa. Sau đó ngài xuống xe và đi bộ.

Lúc ấy, có vài vị tỳ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Nhà vua tiến đến gần và hỏi: “Kính bạch các ngài, hiện giờ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

“Thưa đại vương, kia là tịnh thất của ngài, cửa đang đóng. Đại vương hãy nhẹ nhàng bước lên hàng hiên, chớ vội vã; rồi hắng giọng và gõ nhẹ lên cánh cửa. Đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho đại vương.”

Ngay tại chỗ đó, Vua Pasenadi tháo gươm và vương miện trao cho Dīgha Kārāyaṇa. Dīgha Kārāyaṇa nghĩ thầm: “Nhà vua lại vào mật đàm riêng; chẳng lẽ mình phải đứng chờ một mình ở đây sao?”

Nhà vua tiến đến trước cửa theo lời hướng dẫn. Khi vua gõ cửa, Đức Thế Tôn mở cửa. Nhà vua bước vào tịnh thất, sụp lạy dưới chân Đức Thế Tôn. Vua hôn lên chân Đức Thế Tôn, lấy tay xoa bóp chân ngài và xưng danh: “Bạch Thế Tôn, con là Vua Pasenadi nước Kosala; bạch Thế Tôn, con là Vua Pasenadi nước Kosala.”

“Này đại vương, ngài thấy điều lợi lạc gì mà lại bày tỏ sự tôn kính tột bậc và tình cảm sâu đậm đến thế với thân xác này?”

“Bạch Thế Tôn, con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn: Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác; Chánh pháp được Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng; Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn đã bước đi trên con đường chân chánh. Bạch Thế Tôn, con thấy có những sa-môn, bà-la-môn sống đời phạm hạnh có chừng mực trong mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm; nhưng sau đó con lại thấy họ hưởng thụ đầy đủ năm món dục lạc và đắm chìm trong đó. Tuy nhiên ở đây, con thấy các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh thanh tịnh trọn vẹn cho đến hơi thở cuối cùng. Thật vậy, bạch Thế Tôn, con chưa từng thấy ở nơi nào khác một đời sống phạm hạnh toàn hảo như ở nơi này. Đó là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn: Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác; Chánh pháp được Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng; Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn đã bước đi trên con đường chân chánh.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, vua chúa tranh giành với vua chúa, sát-đế-lỵ xích mích với sát-đế-lỵ, bà-la-môn tranh cãi với bà-la-môn, gia chủ bất hòa với gia chủ, mẹ bất hòa với con, con với mẹ, cha với con, con với cha, anh với em, anh với chị, chị với em, bạn bè với bạn bè. Nhưng ở đây, con thấy các tỳ-kheo sống hòa hợp, chan hòa như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến yêu thương. Thật vậy, bạch Thế Tôn, con chưa từng thấy hội chúng nào hòa hợp đến thế. Đó cũng là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã đi dạo qua hết ngự uyển này đến hoa viên khác, và con từng thấy một số sa-môn, bà-la-môn gầy gò, tiều tụy, xấu xí, da vàng vọt, gân cốt nổi chằng chịt trên chân tay, trông chẳng ai muốn nhìn lại lần thứ hai. Con nghĩ: ‘Chắc hẳn các vị tôn giả này sống đời phạm hạnh trong sự bất mãn, hoặc họ đã phạm tội gì đó nên phải lẩn trốn, nên mới có hình dung tiều tụy như vậy.’ Con đến hỏi vì sao lại ra nông nỗi ấy, họ đáp: ‘Thưa đại vương, chúng tôi mắc bệnh di truyền của gia đình.’ Nhưng ở đây, con thấy các tỳ-kheo luôn tươi cười, hân hoan, tràn đầy niềm an lạc chân thật, lộ rõ vẻ hoan hỷ, các giác quan tươi sáng, không kích động, không bồn chồn, sống nhờ vào những gì người khác cúng dường, an trú với tâm hồn thanh thản như loài hươu rừng. Con thầm nghĩ: ‘Chắc chắn các vị tôn giả này đã chứng đạt những phẩm hạnh phi thường trong giáo pháp của Đức Thế Tôn nên mới được an lạc như vậy.’ Đó cũng là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, là một vị vua sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, con có quyền xử tử kẻ đáng tội chết, phạt vạ kẻ đáng phạt và lưu đày kẻ đáng lưu đày. Vậy mà khi con ngồi giữa triều đình nghị án, họ vẫn ngắt lời con. Dẫu con có bảo: ‘Này các khanh, chớ có ngắt lời trẫm khi trẫm đang bàn việc triều chính, hãy đợi trẫm nói xong đã,’ họ vẫn cứ ngắt lời con. Nhưng ở đây, con thấy một hội chúng gồm hàng trăm tỳ-kheo, và trong khi Đức Thế Tôn đang thuyết giảng Chánh pháp, thậm chí không có lấy một tiếng ho hay tiếng đằng hắng nào giữa các đệ tử của ngài. Có lần, khi Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho một hội chúng hàng trăm người, một đệ tử của ngài vô tình đằng hắng một tiếng. Ngay lập tức, một bạn đồng tu dùng đầu gối huých nhẹ vào người ấy và nhắc: ‘Khẽ chứ, thưa đại đức, đừng làm ồn. Bậc Đạo Sư đang thuyết Pháp.’ Con nghĩ: ‘Thật kỳ diệu, thật phi thường! Một hội chúng có thể kỷ luật nghiêm minh đến thế mà chẳng cần dùng đến hình phạt hay gươm giáo.’ Quả thật, bạch Thế Tôn, con chưa từng thấy nơi đâu có một hội chúng kỷ luật đến như vậy. Đó cũng là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con từng thấy ở đời có những học giả thuộc dòng sát-đế-lỵ, những học giả bà-la-môn, những học giả cư sĩ thông thái, và những học giả sa-môn thông minh xuất chúng, họ nắm rõ các học thuyết của người khác như một thiện xạ bắn tỉa am tường cung thuật: người ta ngỡ rằng với trí tuệ ấy, họ chắc chắn sẽ đập tan mọi tà kiến. Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama sắp đến thăm làng này hay thị trấn nọ.’ Họ chuẩn bị sẵn câu hỏi: ‘Nếu ông ta trả lời thế này, ta sẽ vặn lại thế này, và thế là ta sẽ bẻ gãy học thuyết của ông ta; nếu ông ta trả lời thế kia, ta sẽ vặn lại thế kia, và thế là ta sẽ bẻ gãy học thuyết của ông ta.’ Rồi họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama đã đến thăm làng ấy, thị trấn ấy.’ Họ đến gặp Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama chỉ dạy, khích lệ, sách tấn và làm cho họ phấn khởi bằng một thời Pháp thoại. Sau đó, họ thậm chí chẳng buồn hỏi câu hỏi đã chuẩn bị, nói gì đến chuyện bẻ gãy học thuyết của ngài? Thực tế là họ đều xin quy y làm đệ tử của ngài. Đó cũng là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, có hai người thợ mộc của con tên là Isidatta và Purāṇa, họ ăn bổng lộc của con, nhờ con mà có sinh kế và danh tiếng. Thế nhưng họ tôn kính con còn kém xa sự tôn kính mà họ dành cho Đức Thế Tôn. Có lần, khi con xuất quân đi diễn tập quân sự và muốn thử lòng hai người thợ mộc này, con tình cờ phải nghỉ lại trong một căn lều rất chật chội. Suốt đêm hôm ấy, hai người thợ mộc dành phần lớn thời gian đàm luận về Chánh pháp, sau đó họ nằm ngủ, hướng đầu về nơi họ nghe tin Đức Thế Tôn đang ngự, và quay chân về phía con. Con nghĩ: ‘Thật kỳ diệu, thật phi thường! Chắc hẳn những người này đã chứng đạt những phẩm hạnh phi thường trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.’ Đó cũng là lý do vì sao con tin chắc chắn điều này về Đức Thế Tôn: Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác; Chánh pháp được Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng; Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn đã bước đi trên con đường chân chánh.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn thuộc dòng dõi sát-đế-lỵ, con cũng thuộc dòng dõi sát-đế-lỵ; Đức Thế Tôn là người Kosala, con cũng là người Kosala; Đức Thế Tôn thọ tám mươi tuổi, con cũng thọ tám mươi tuổi. Đó là những lý do khiến con thấy mình cần phải bày tỏ sự tôn kính tột bậc và tình cảm sâu đậm này đối với Đức Thế Tôn. Giờ đây, bạch Thế Tôn, chúng con xin phép cáo từ. Chúng con còn nhiều việc phải giải quyết.”

“Này đại vương, đã đến lúc ngài làm những gì thấy là thích hợp.”

Khi ấy, Vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi đi vòng quanh ngài về phía bên phải trước khi rời đi.

Không lâu sau khi vua rời đi, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, Vua Pasenadi trước khi đứng dậy ra về đã nói lên những đài tưởng niệm Chánh pháp. Hãy học lấy những đài tưởng niệm Chánh pháp ấy. Hãy ghi nhớ chúng, vì chúng mang lại lợi ích và thuộc về nền tảng căn bản của đời sống phạm hạnh.”

Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Các tỳ-kheo hoan hỷ và tín thọ lời ngài.

MN-89

NGƯỜI KỂ MỘT. Những gì xảy ra với nhà vua sau khi rời khỏi cuộc hội kiến ấy chỉ được ghi lại trong phần Chú giải.

NGƯỜI KỂ HAI. Khi vua bước vào tịnh thất của Đức Phật và để lại các vương hiệu cho Dīgha Kārāyaṇa, viên tướng này đâm ra ấm ức và nghi ngờ. Hắn bắt đầu mường tượng rằng trước đây nhà vua từng xử tử bác mình là vị đại tướng quân sau một buổi mật đàm riêng với Đức Phật, và giờ hắn tự hỏi liệu có phải sắp đến lượt mình hay không. Ngay khi vua vừa bước vào trong tịnh thất, Dīgha Kārāyaṇa liền bỏ đi, mang theo các vương hiệu về lại doanh trại. Tại đó, hắn xúi giục con trai của vua là Thái tử Viḍuḍabha lập tức chiếm lấy ngai vàng, đe dọa rằng nếu thái tử không nghe theo thì chính hắn sẽ tiếm quyền. Thái tử đồng ý. Sau đó, chỉ để lại một con ngựa, một thanh gươm và một tỳ nữ trong hậu cung, Dīgha Kārāyaṇa cùng toàn bộ đoàn tùy tùng hối hả trở về Sāvatthī, sau khi dặn người tỳ nữ cảnh báo vua đừng đuổi theo nếu còn muốn giữ mạng sống. Khi vua từ tịnh thất của Đức Phật bước ra và thấy chẳng còn ai, ngài đi về phía doanh trại. Tại đó, người tỳ nữ đã kể lại cho ngài toàn bộ sự tình.

Vua quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ từ người cháu là Vua Ajātasattu. Trên chặng đường dài đến Rājagaha, ngài phải ăn thức ăn thô sơ mà ngài chưa từng quen dùng và uống rất nhiều nước. Khi đến được Rājagaha thì trời đã khuya và cổng thành đã đóng, vì thế ngài đành phải qua đêm trong một nhà nghỉ chân công cộng dành cho dân nghèo. Suốt đêm hôm ấy, một cơn bạo bệnh ập đến; gần sáng thì ngài trút hơi thở cuối cùng. Người tỳ nữ ôm ngài trong tay òa lên khóc than thảm thiết: “Vị chúa tể nước Kosala, người từng trị vì hai quốc độ, nay đã chết như một kẻ bần hàn và đang nằm trong một trạm nghỉ nghèo nàn bên ngoài thành lũy xứ người!” Tin tức được báo đến Vua Ajātasattu, ngài lập tức hạ lệnh tổ chức một lễ quốc táng long trọng. Sau đó, Ajātasattu tỏ vẻ căm phẫn thích đáng bằng cách hạ lệnh mở một cuộc tấn công trừng phạt người anh em họ của mình, nay là Vua Viḍuḍabha; nhưng triều thần đã nhanh chóng thuyết phục ngài rằng khi vị vua già đã qua đời, một mưu toan như vậy vừa vô ích lại vừa bất lợi, và ngài đã chính thức công nhận sự kế vị của người anh em họ.