Skip to content

DN 22. KINH DÀI VỀ BỐN NƠI CHÚ TÂM

(Mahāsatipaṭṭhānasutta)
Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo".

"Bạch Thế Tôn", các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Này các tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để thanh lọc chúng sinh, để vượt qua sầu bi, để làm tan biến (diệt / atthaṅgama) đau khổ (khổ / dukkha) và ưu phiền (ưu / domanassa), là phương pháp đúng đắn, để chứng ngộ Niết-bàn, đó là chú tâm ở bốn nơi (tứ niệm xứ / cattāro satipaṭṭhānā).

Bốn nơi là gì? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), chú tâm (niệm / satimā) và chế ngự (chế ngự / vineyya) tham lam (tham / abhijjhā) và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát tâm qua tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời.

Phần giới thiệu đã xong.

1. Quan sát cơ thể (Kāyānupassanā)

1.1. Phần về hơi thở

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi xuống xếp chéo chân, giữ cơ thể thẳng đứng, và đặt sự chú tâm ở ngay trước mặt. Vị ấy chú tâm khi thở vào, chú tâm khi thở ra.

Khi thở vào dài, vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti): 'Tôi thở vào dài'; hay khi thở ra dài, vị ấy thấy rõ: 'Tôi thở ra dài'.

Khi thở vào ngắn, vị ấy thấy rõ: 'Tôi thở vào ngắn'; hay khi thở ra ngắn, vị ấy thấy rõ: 'Tôi thở ra ngắn'.

Vị ấy rèn luyện: 'Cảm nhận toàn bộ cơ thể, tôi sẽ thở vào'; vị ấy rèn luyện: 'Cảm nhận toàn bộ cơ thể, tôi sẽ thở ra'.

Vị ấy rèn luyện: 'Làm lắng dịu (an tịnh / passambhayaṁ) hoạt động (hành / saṅkhāra) của cơ thể, tôi sẽ thở vào'; vị ấy rèn luyện: 'Làm lắng dịu hoạt động của cơ thể, tôi sẽ thở ra'.

Này các tỳ kheo, giống như một người thợ tiện khéo léo hay người học việc của thợ tiện, khi kéo dây dài, thấy rõ: 'Tôi kéo dây dài'; hay khi kéo dây ngắn, thấy rõ: 'Tôi kéo dây ngắn'; cũng đúng như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi thở vào dài, thấy rõ: 'Tôi thở vào dài', khi thở ra dài, thấy rõ: 'Tôi thở ra dài', khi thở vào ngắn, thấy rõ: 'Tôi thở vào ngắn', khi thở ra ngắn, thấy rõ: 'Tôi thở ra ngắn'. Vị ấy rèn luyện: 'Cảm nhận toàn bộ cơ thể, tôi sẽ thở vào', vị ấy rèn luyện: 'Cảm nhận toàn bộ cơ thể, tôi sẽ thở ra', vị ấy rèn luyện: 'Làm lắng dịu hoạt động của cơ thể, tôi sẽ thở vào', vị ấy rèn luyện: 'Làm lắng dịu hoạt động của cơ thể, tôi sẽ thở ra'.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là một cơ thể' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về cơ thể của mình]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về hơi thở đã xong.

1.2. Phần về tư thế

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi đang đi, thấy rõ: 'Tôi đang đi'; hay khi đang đứng, thấy rõ: 'Tôi đang đứng'; hay khi đang ngồi, thấy rõ: 'Tôi đang ngồi'; hay khi đang nằm, thấy rõ: 'Tôi đang nằm'; hay cơ thể của vị ấy được đặt để ở tư thế nào, vị ấy thấy rõ nó đúng như thế ấy.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là một cơ thể' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về cơ thể của mình]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về tư thế đã xong.

1.3. Phần về nhận biết rõ ràng

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo thực hành nhận biết rõ ràng khi bước tới bước lui; thực hành nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; thực hành nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay; thực hành nhận biết rõ ràng khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y áo; thực hành nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; thực hành nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; thực hành nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.

Như vậy, vị ấy sống từ bên trong [...lặp lại...]

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về nhận biết rõ ràng đã xong.

1.4. Phần về suy nghĩ đến sự không sạch sẽ

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh khác nhau: 'Trong cơ thể này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn trong dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu'.

Này các tỳ kheo, giống như một cái bao có hai đầu mở, chứa đầy các loại hạt khác nhau như — gạo lúa mì, lúa tẻ, đậu xanh, đậu đen, mè, gạo trắng. Một người có mắt mở nó ra và quan sát: 'Đây là gạo lúa mì, đây là lúa tẻ, đây là đậu xanh, đây là đậu đen, đây là mè, đây là gạo trắng'.

Cũng đúng như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh khác nhau: 'Trong cơ thể này có tóc, lông [...lặp lại...] nước tiểu'.

Như vậy, vị ấy sống từ bên trong [...lặp lại...]

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về suy nghĩ đến sự không sạch sẽ đã xong.

1.5. Phần về suy nghĩ đến các nguyên tố

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, dù nó đang đứng hay đang được đặt để thế nào, theo các nguyên tố (đại / dhātu): 'Trong cơ thể này có nguyên tố đất, nguyên tố nước, nguyên tố lửa, nguyên tố gió'.

Này các tỳ kheo, giống như một người đồ tể khéo léo hay người học việc của đồ tể, sau khi giết một con bò, cắt nó ra thành từng phần và ngồi tại ngã tư đường; cũng đúng như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát chính cơ thể này, dù nó đang đứng hay đang được đặt để thế nào, theo các nguyên tố: 'Trong cơ thể này có nguyên tố đất, nguyên tố nước, nguyên tố lửa, nguyên tố gió'.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên trong [...lặp lại...]

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về suy nghĩ đến các nguyên tố đã xong.

1.6. Phần về chín giai đoạn nghĩa địa

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo như thể nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, chết được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phồng lên, xanh tím lại, và rỉ mủ. Vị ấy so sánh với chính cơ thể này: 'Cơ thể này cũng có bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó'. Như vậy, vị ấy sống từ bên trong [...lặp lại...]

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo như thể nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, đang bị quạ ăn, hay bị diều hâu ăn, hay bị kền kền ăn, hay bị cò ăn, hay bị chó ăn, hay bị cọp ăn, hay bị báo ăn, hay bị chó rừng ăn, hay bị các loại côn trùng khác nhau ăn. Vị ấy so sánh với chính cơ thể này: 'Cơ thể này cũng có bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó'. Như vậy, vị ấy sống từ bên trong [...lặp lại...]

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo như thể nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn là một bộ xương dính thịt và máu, được nối với nhau bằng các đường gân [...lặp lại...]

Chỉ còn là một bộ xương không còn thịt nhưng dính máu, được nối với nhau bằng các đường gân [...lặp lại...]

Chỉ còn là một bộ xương không còn thịt và máu, được nối với nhau bằng các đường gân [...lặp lại...]

Chỉ còn là những khúc xương rời rạc, văng rải rác khắp các hướng, chỗ này là xương tay, chỗ kia là xương chân, chỗ này là xương mắt cá, chỗ kia là xương ống chân, chỗ này là xương đùi, chỗ kia là xương chậu, chỗ này là xương sườn, chỗ kia là xương sống, chỗ này là xương vai, chỗ kia là xương cổ, chỗ này là xương hàm, chỗ kia là xương răng, chỗ này là hộp sọ. Vị ấy so sánh với chính cơ thể này: 'Cơ thể này cũng có bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó'. Như vậy, vị ấy sống từ bên trong [...lặp lại...]

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo như thể nhìn thấy một thi thể bị vứt bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn là những khúc xương trắng màu vỏ ốc [...lặp lại...]

Chỉ còn là những khúc xương chất thành đống, đã hơn một năm [...lặp lại...]

Chỉ còn là những khúc xương mục nát, vỡ vụn thành bột. Vị ấy so sánh với chính cơ thể này: 'Cơ thể này cũng có bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể tránh khỏi điều đó'. Như vậy, vị ấy sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên trong, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ bên ngoài, hay sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên cơ thể, hay sống quan sát tính hoại diệt trên cơ thể, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên cơ thể. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là một cơ thể' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về cơ thể của mình]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình.

Phần về chín giai đoạn nghĩa địa đã xong.

Mười bốn cách quan sát cơ thể đã xong.

2. Quan sát cảm giác (Vedanānupassanā)

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi cảm nhận một cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukha-vedanā), thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác dễ chịu'.

Khi cảm nhận một cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkha-vedanā), thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác khó chịu'.

Khi cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc thọ / adukkhamasukha-vedanā), thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu'.

Khi cảm nhận một cảm giác dễ chịu có dính líu đến vật chất (sāmisa), thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác dễ chịu có dính líu đến vật chất'.

Khi cảm nhận một cảm giác dễ chịu không dính líu đến vật chất (nirāmisa), thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác dễ chịu không dính líu đến vật chất'.

Khi cảm nhận một cảm giác khó chịu có dính líu đến vật chất, thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác khó chịu có dính líu đến vật chất'.

Khi cảm nhận một cảm giác khó chịu không dính líu đến vật chất, thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác khó chịu không dính líu đến vật chất'.

Khi cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu có dính líu đến vật chất, thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu có dính líu đến vật chất'.

Khi cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu không dính líu đến vật chất, thấy rõ: 'Tôi đang cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu không dính líu đến vật chất'.

Như vậy, vị ấy sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình từ bên trong, hay sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình từ bên ngoài, hay sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các cảm giác, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các cảm giác, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các cảm giác. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là cảm gác' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về cảm giác của mình]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình.

Quan sát cảm giác đã xong.

3. Quan sát tâm (Cittānupassanā)

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát tâm qua tâm của mình?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi tâmđắm nhiễm (tham / rāga), thấy rõ: 'Tâmđắm nhiễm'. Khi tâm không có đắm nhiễm, thấy rõ: 'Tâm không có đắm nhiễm'. Khi tâmám ảnh khó chịu (sân / dosa), thấy rõ: 'Tâmám ảnh khó chịu'. Khi tâm không có ám ảnh khó chịu, thấy rõ: 'Tâm không có ám ảnh khó chịu'. Khi tâmsự u mê (si / moha), thấy rõ: 'Tâmsự u mê'. Khi tâm không có sự u mê, thấy rõ: 'Tâm không có sự u mê'. Khi tâm co rút lại, thấy rõ: 'Tâm co rút lại'. Khi tâm phân tán, thấy rõ: 'Tâm phân tán'. Khi tâm trở nên rộng lớn, thấy rõ: 'Tâm trở nên rộng lớn'. Khi tâm không trở nên rộng lớn, thấy rõ: 'Tâm không trở nên rộng lớn'. Khi tâm còn có trạng thái cao hơn, thấy rõ: 'Tâm còn có trạng thái cao hơn'. Khi tâm không còn trạng thái nào cao hơn, thấy rõ: 'Tâm không còn trạng thái nào cao hơn'. Khi tâm được định tĩnh, thấy rõ: 'Tâm được định tĩnh'. Khi tâm không được định tĩnh, thấy rõ: 'Tâm không được định tĩnh'. Khi tâm được giải thoát, thấy rõ: 'Tâm được giải thoát'. Khi tâm không được giải thoát, thấy rõ: 'Tâm không được giải thoát'.

Như vậy, vị ấy sống quan sát tâm qua tâm của mình từ bên trong, hay sống quan sát tâm qua tâm của mình từ bên ngoài, hay sống quan sát tâm qua tâm của mình từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên tâm, hay sống quan sát tính hoại diệt trên tâm, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên tâm. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là tâm' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về tâm của mình]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát tâm qua tâm của mình.

Quan sát tâm đã xong.

4. Quan sát Điều dạy (Dhammānupassanā)

4.1. Phần về các điều làm mờ yếu

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua các Điều?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇāni). Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm điều làm mờ yếu?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi có muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchanda) từ bên trong, tỳ kheo thấy rõ: 'Có muốn thỏa mãn bản năng từ bên trong tôi'; hay khi không có muốn thỏa mãn bản năng từ bên trong, thấy rõ: 'Không có muốn thỏa mãn bản năng từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào muốn thỏa mãn bản năng chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào muốn thỏa mãn bản năng đã sinh ra bị từ bỏ (đoạn trừ / pahāna), và vị ấy thấy rõ bằng cách nào muốn thỏa mãn bản năng đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Khi có ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda) từ bên trong, thấy rõ: 'Có ác ý hãm hại từ bên trong tôi'; hay khi không có ác ý hãm hại từ bên trong, thấy rõ: 'Không có ác ý hãm hại từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào ác ý hãm hại chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào ác ý hãm hại đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào ác ý hãm hại đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Khi có uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha) từ bên trong, thấy rõ: 'Có uể oải, buồn ngủ từ bên trong tôi'; hay khi không có uể oải, buồn ngủ từ bên trong, thấy rõ: 'Không có uể oải, buồn ngủ từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào uể oải, buồn ngủ chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào uể oải, buồn ngủ đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào uể oải, buồn ngủ đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Khi có bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca) từ bên trong, thấy rõ: 'Có bồn chồn, hối hận từ bên trong tôi'; hay khi không có bồn chồn, hối hận từ bên trong, thấy rõ: 'Không có bồn chồn, hối hận từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào bồn chồn, hối hận chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào bồn chồn, hối hận đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào bồn chồn, hối hận đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Khi có nghi ngờ (nghi / vicikicchā) từ bên trong, thấy rõ: 'Có nghi ngờ từ bên trong tôi'; hay khi không có nghi ngờ từ bên trong, thấy rõ: 'Không có nghi ngờ từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào nghi ngờ chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào nghi ngờ đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào nghi ngờ đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều dạy, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều dạy, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các Điều dạy. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là các Quy luật' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về các quy luật]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm điều làm mờ yếu.

Phần về các điều làm mờ yếu đã xong.

4.2. Phần về các tập hợp

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm tập hợp bị bám giữ (thủ uẩn / upādānakkhandhā). Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm tập hợp bị bám giữ?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo [thấy rõ]: 'Đây là vật chất (sắc / rūpa), đây là sự hình thành (sinh / samudaya) của vật chất, đây là sự tan biến của vật chất; đây là cảm giác, đây là sự hình thành của cảm giác, đây là sự tan biến của cảm giác; đây là nhận thức (tưởng / saññā), đây là sự hình thành của nhận thức, đây là sự tan biến của nhận thức; đây là các hoạt động (hành / saṅkhārā), đây là sự hình thành của các hoạt động, đây là sự tan biến của các hoạt động; đây là 'cái biết' (thức / viññāṇa), đây là sự hình thành của 'cái biết', đây là sự tan biến của 'cái biết''. Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều dạy, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều dạy, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các Điều dạy. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là các Quy luật' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về các quy luật]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về năm tập hợp bị bám giữ.

Phần về các tập hợp đã xong.

4.3. Phần về các xứ

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về sáu xứ (āyatana) bên trong và bên ngoài. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về sáu xứ bên trong và bên ngoài?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thấy rõ con mắt, và thấy rõ các hình ảnh (sắc / rūpa), và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc (duyên / paṭicca) vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Vị ấy thấy rõ tai, và thấy rõ các âm thanh, và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Vị ấy thấy rõ mũi, và thấy rõ các mùi hương, và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Vị ấy thấy rõ lưỡi, và thấy rõ các vị, và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Vị ấy thấy rõ cơ thể, và thấy rõ các xúc chạm, và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Vị ấy thấy rõ ý, và thấy rõ các Điều dạy, và vị ấy thấy rõ sợi dây trói buộc sinh ra phụ thuộc vào cả hai thứ đó; vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc chưa sinh ra được sinh ra, vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã sinh ra bị từ bỏ, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào sợi dây trói buộc đã bị từ bỏ sẽ không sinh ra trong tương lai.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều dạy, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều dạy, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các Điều dạy. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là các Quy luật' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về các quy luật]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về sáu xứ bên trong và bên ngoài.

Phần về các xứ đã xong.

4.4. Phần về các Dấu hiệu Của Giác Ngộ

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ (giác chi / bojjhaṅgā). Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ?

Ở đây, này các tỳ kheo, khi có Dấu hiệu sự chú tâm (niệm giác chi / satisambojjhaṅga) từ bên trong, tỳ kheo thấy rõ: 'Có Dấu hiệu sự chú tâm từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu sự chú tâm từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu sự chú tâm từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu sự chú tâm chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu sự chú tâm đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích (trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu Nỗ Lực từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu Nỗ Lực từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu Nỗ Lực từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Nỗ Lực chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Nỗ Lực đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu sự hân hoan (hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu sự hân hoan từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu sự hân hoan từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu sự hân hoan từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu sự hân hoan chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu sự hân hoan đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu (khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu cơ thể lắng dịu từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu cơ thể lắng dịu chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu cơ thể lắng dịu đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu Định (định giác chi / samādhisambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu Định từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu Định từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu Định từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Định chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Định đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Khi có Dấu hiệu Tâm cân bằng (xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga) từ bên trong, thấy rõ: 'Có Dấu hiệu Tâm cân bằng từ bên trong tôi'; hay khi không có Dấu hiệu Tâm cân bằng từ bên trong, thấy rõ: 'Không có Dấu hiệu Tâm cân bằng từ bên trong tôi'; và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Tâm cân bằng chưa sinh ra được sinh ra, và vị ấy thấy rõ bằng cách nào Dấu hiệu Tâm cân bằng đã sinh ra được tu tập đến mức hoàn mãn.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều dạy, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều dạy, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các Điều dạy. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là các Quy luật' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về các quy luật]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ.

Phần về các Dấu hiệu Của Giác Ngộ đã xong.

4.5. Phần về các Thánh Đế

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về Bốn Thánh Đế (catūsu ariyasaccesu). Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về Bốn Thánh Đế?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thấy rõ đúng như thật: 'Đây là đau khổ'; thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự hình thành của đau khổ'; thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ'; thấy rõ đúng như thật: 'Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ'.

Tụng phẩm thứ nhất đã xong.

4.5.1. Thế nào là Thánh đế về đau khổ

Và này các tỳ kheo, thế nào là Thánh đế về đau khổ (dukkha ariyasacca)?

Sự Tái sinh (sinh / jāti) là đau khổ, già là đau khổ, chết là đau khổ, sầu thảm, khóc lóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng (não / upāyāsa) là đau khổ, phải chung đụng với những gì không ưa thích là đau khổ, phải xa lìa những gì ưa thích là đau khổ, mong muốn mà không đạt được là đau khổ, tóm lại, năm tập hợp bị bám giữđau khổ.

Và này các tỳ kheo, thế nào là sự Tái sinh? Sự sinh ra, sự xuất hiện, sự đi vào thai tạng, sự nảy nở, sự hiện ra của các tập hợp, sự có được các xứ của các chúng sinh khác nhau trong từng nhóm chúng sinh khác nhau, này các tỳ kheo, đây gọi là sự Tái sinh.

Và này các tỳ kheo, thế nào là già? Sự già yếu, sự suy tàn, răng rụng, tóc bạc, da nhăn nheo, tuổi thọ suy giảm, các giác quan (căn / indriya) chín muồi của các chúng sinh khác nhau trong từng nhóm chúng sinh khác nhau, này các tỳ kheo, đây gọi là già.

Và này các tỳ kheo, thế nào là chết? Sự rơi rụng, sự biến mất, sự tan rã, sự tiêu mất, sự chết chóc, tử vong, sự qua đời, sự tan rã của các tập hợp, sự vứt bỏ thi thể, sự cắt đứt mạng sống của các chúng sinh khác nhau từ từng nhóm chúng sinh khác nhau, này các tỳ kheo, đây gọi là chết.

Và này các tỳ kheo, thế nào là sầu thảm? Sự sầu não, sự buồn bã, tình trạng sầu muộn, nỗi sầu bên trong, nỗi sầu thiêu đốt bên trong của một người gặp phải tai ương này hay tai ương khác, bị chạm trán bởi đau khổ này hay đau khổ khác, này các tỳ kheo, đây gọi là sầu thảm.

Và này các tỳ kheo, thế nào là khóc lóc? Sự than vãn, sự khóc lóc, hành động than vãn, hành động khóc lóc, tình trạng than vãn, tình trạng khóc lóc của một người gặp phải tai ương này hay tai ương khác, bị chạm trán bởi đau khổ này hay đau khổ khác, này các tỳ kheo, đây gọi là khóc lóc.

Và này các tỳ kheo, thế nào là đau khổ? Sự đau khổ thuộc về cơ thể, sự không thoải mái thuộc về cơ thể, sự đau khổ sinh ra từ Xúc (phassa) của cơ thể, cảm giác không thoải mái, này các tỳ kheo, đây gọi là đau khổ.

Và này các tỳ kheo, thế nào là ưu phiền? Sự đau khổ thuộc về tâm trí, sự không thoải mái thuộc về tâm trí, sự đau khổ sinh ra từ Xúc của ý, cảm giác không thoải mái, này các tỳ kheo, đây gọi là ưu phiền.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tuyệt vọng? Sự khốn đốn, sự tuyệt vọng, tình trạng khốn đốn, tình trạng tuyệt vọng của một người gặp phải tai ương này hay tai ương khác, bị chạm trán bởi đau khổ này hay đau khổ khác, này các tỳ kheo, đây gọi là tuyệt vọng.

Và này các tỳ kheo, thế nào là phải chung đụng với những gì không ưa thích là đau khổ? Ở đây, đối với ai có những hình ảnh, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, Điều dạy không mong muốn, không dễ chịu, không vừa ý; hay đối với ai có những người mong muốn điều bất lợi, mong muốn điều không tốt đẹp, mong muốn sự bất an, mong muốn sự mất an toàn cho mình; sự gặp gỡ, sự hội họp, sự kết hợp, sự chung đụng với những thứ ấy hay những người ấy, này các tỳ kheo, đây gọi là phải chung đụng với những gì không ưa thích là đau khổ.

Và này các tỳ kheo, thế nào là phải xa lìa những gì ưa thích là đau khổ? Ở đây, đối với ai có những hình ảnh, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, Điều dạy mong muốn, dễ chịu, vừa ý; hay đối với ai có những người mong muốn điều lợi ích, mong muốn điều tốt đẹp, mong muốn sự an ổn, mong muốn sự an toàn cho mình, như mẹ, cha, anh, chị, bạn bè, đồng sự, hay bà con huyết thống; sự không gặp gỡ, sự không hội họp, sự không kết hợp, sự không chung đụng với những thứ ấy hay những người ấy, này các tỳ kheo, đây gọi là phải xa lìa những gì ưa thích là đau khổ.

Và này các tỳ kheo, thế nào là mong muốn mà không đạt được là đau khổ? Này các tỳ kheo, đối với những chúng sinh chịu sự Tái sinh, mong muốn này khởi lên: 'Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự Tái sinh, mong sao sự Tái sinh đừng đến với chúng ta'. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng mong muốn, đây chính là mong muốn mà không đạt được là đau khổ. Này các tỳ kheo, đối với những chúng sinh chịu sự già yếu, mong muốn này khởi lên: 'Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự già yếu, mong sao sự già yếu đừng đến với chúng ta'. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng mong muốn, đây chính là mong muốn mà không đạt được là đau khổ. Này các tỳ kheo, đối với những chúng sinh chịu sự bệnh tật, mong muốn này khởi lên: 'Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự bệnh tật, mong sao sự bệnh tật đừng đến với chúng ta'. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng mong muốn, đây chính là mong muốn mà không đạt được là đau khổ. Này các tỳ kheo, đối với những chúng sinh chịu sự chết chóc, mong muốn này khởi lên: 'Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự chết chóc, mong sao sự chết chóc đừng đến với chúng ta'. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng mong muốn, đây chính là mong muốn mà không đạt được là đau khổ. Này các tỳ kheo, đối với những chúng sinh chịu sự sầu thảm, khóc lóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng, mong muốn này khởi lên: 'Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự sầu thảm, khóc lóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng, mong sao sự sầu thảm, khóc lóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng đừng đến với chúng ta'. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng mong muốn, đây chính là mong muốn mà không đạt được là đau khổ.

Và này các tỳ kheo, như thế nào năm tập hợp bị bám giữđau khổ? — tập hợp vật chất bị bám giữ, tập hợp cảm giác bị bám giữ, tập hợp nhận thức bị bám giữ, tập hợp hoạt động bị bám giữ, tập hợp 'cái biết' bị bám giữ. Này các tỳ kheo, tóm lại gọi đây là năm tập hợp bị bám giữđau khổ.

Này các tỳ kheo, đây gọi là Thánh đế về đau khổ.

4.5.2. Thế nào là Thánh đế về sự hình thành

Và này các tỳ kheo, thế nào là Thánh đế về sự hình thành của đau khổ (dukkhasamudaya ariyasacca)?

Đó chính là sự thèm khát (tham ái / taṇhā) này, thứ dẫn đến tái sinh, đi kèm với sự vui thú chạy theo (hỷ lạc / nandī) và đắm nhiễm, tìm kiếm sự thỏa mãn chỗ này chỗ kia, cụ thể là — thèm khát sự dễ chịu giác quan (dục ái / kāmataṇhā), thèm khát cõi tồn tại (hữu ái / bhavataṇhā), thèm khát sự không tồn tại (phi hữu ái / vibhavataṇhā).

Và này các tỳ kheo, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Bất cứ thứ gì ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, thì thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Và cái gì ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu? Con mắt ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Tai ở đời [...lặp lại...] mũi ở đời... lưỡi ở đời... cơ thể ở đời... ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Các hình ảnh ở đời... các âm thanh ở đời... các mùi hương ở đời... các vị ở đời... các xúc chạm ở đời... các Điều (pháp) ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

'Cái biết' ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇa) ở đời... 'cái biết' ở tai ở đời... 'cái biết' ở mũi ở đời... 'cái biết' ở lưỡi ở đời... 'cái biết' ở cơ thể ở đời... 'Cái Biết' ở trí não (ý thức / manoviññāṇa) ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Xúc ở mắt ở đời... Xúc ở tai ở đời... Xúc ở mũi ở đời... Xúc ở lưỡi ở đời... Xúccơ thể ở đời... Xúc ở ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Cảm giác sinh ra từ Xúc ở mắt ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở tai ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở mũi ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở lưỡi ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúccơ thể ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Nhận thức về hình ảnh ở đời... nhận thức về âm thanh ở đời... nhận thức về mùi hương ở đời... nhận thức về vị ở đời... nhận thức về xúc chạm ở đời... nhận thức về Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Ý chí đối với hình ảnh ở đời... ý chí đối với âm thanh ở đời... ý chí đối với mùi hương ở đời... ý chí đối với vị ở đời... ý chí đối với xúc chạm ở đời... ý chí đối với Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Sự thèm khát hình ảnh ở đời... sự thèm khát âm thanh ở đời... sự thèm khát mùi hương ở đời... sự thèm khát vị ở đời... sự thèm khát xúc chạm ở đời... sự thèm khát Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka) đến hình ảnh ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến âm thanh ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến mùi hương ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến vị ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến xúc chạm ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra) đến hình ảnh ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến âm thanh ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến mùi hương ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến vị ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến xúc chạm ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi sinh ra thì sinh ra ở đó, khi an trú thì an trú ở đó.

Này các tỳ kheo, đây gọi là Thánh đế về sự hình thành của đau khổ.

4.5.3. Thế nào là Thánh đế về sự chấm dứt

Và này các tỳ kheo, thế nào là Thánh đế về sự chấm dứt đau khổ (dukkhanirodha ariyasacca)?

Đó là sự chặn sạch hết đắm nhiễm (asesavirāganirodho), sự cho đi (xả ly / cāgā), sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không còn bám víu đối với chính sự thèm khát ấy.

Và này các tỳ kheo, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đâu, khi bị chấm dứt (diệt / nirujjhati) thì bị chấm dứt ở đâu? Bất cứ thứ gì ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, thì sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Và cái gì ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu? Con mắt ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó. Tai ở đời [...lặp lại...] mũi ở đời... lưỡi ở đời... cơ thể ở đời... ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Các hình ảnh ở đời... các âm thanh ở đời... các mùi hương ở đời... các vị ở đời... các xúc chạm ở đời... các Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

'Cái biết' ở mắt ở đời... 'cái biết' ở tai ở đời... 'cái biết' ở mũi ở đời... 'cái biết' ở lưỡi ở đời... 'cái biết' ở cơ thể ở đời... 'Cái Biết' ở trí não ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Xúc ở mắt ở đời... Xúc ở tai ở đời... Xúc ở mũi ở đời... Xúc ở lưỡi ở đời... Xúccơ thể ở đời... Xúc ở ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Cảm giác sinh ra từ Xúc ở mắt ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở tai ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở mũi ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở lưỡi ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúccơ thể ở đời... cảm giác sinh ra từ Xúc ở ý ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Nhận thức về hình ảnh ở đời... nhận thức về âm thanh ở đời... nhận thức về mùi hương ở đời... nhận thức về vị ở đời... nhận thức về xúc chạm ở đời... nhận thức về Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Ý chí đối với hình ảnh ở đời... ý chí đối với âm thanh ở đời... ý chí đối với mùi hương ở đời... ý chí đối với vị ở đời... ý chí đối với xúc chạm ở đời... ý chí đối với Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Sự thèm khát hình ảnh ở đời... sự thèm khát âm thanh ở đời... sự thèm khát mùi hương ở đời... sự thèm khát vị ở đời... sự thèm khát xúc chạm ở đời... sự thèm khát Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Chủ động hướng sự chú ý đến hình ảnh ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến âm thanh ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến mùi hương ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến vị ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến xúc chạm ở đời... chủ động hướng sự chú ý đến Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Nỗ lực duy trì sự chú ý đến hình ảnh ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến âm thanh ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến mùi hương ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến vị ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến xúc chạm ở đời... nỗ lực duy trì sự chú ý đến Điều dạy ở đời có vẻ ngoài đáng yêu, có vẻ ngoài dễ chịu, sự thèm khát này khi bị từ bỏ thì bị từ bỏ ở đó, khi bị chấm dứt thì bị chấm dứt ở đó.

Này các tỳ kheo, đây gọi là Thánh đế về sự chấm dứt đau khổ.

4.5.4. Thế nào là Thánh đế về con đường

Và này các tỳ kheo, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến chấm dứt đau khổ (dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca)?

Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) này, đó là — Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ / sammāvācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp / sammākammanto), Đời Sống Thiện (Chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), Sự chú tâm Thiện (Chánh niệm / sammāsati), Định thiện (Chánh định / sammāsamādhi).

Và này các tỳ kheo, thế nào là Nhìn Thấy Thiện? Này các tỳ kheo, sự hiểu biết về đau khổ, sự hiểu biết về sự hình thành của đau khổ, sự hiểu biết về sự chấm dứt đau khổ, sự hiểu biết về con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Này các tỳ kheo, đây gọi là Nhìn Thấy Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Suy Nghĩ Thiện? Suy nghĩ về sự buông bỏ, suy nghĩ về sự không ác ý hãm hại, suy nghĩ về sự không làm hại. Này các tỳ kheo, đây gọi là Suy Nghĩ Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Lời Nói Thiện? Tránh xa nói dối, tránh xa nói lời chia rẽ, tránh xa nói lời thô ác, tránh xa nói lời phù phiếm. Này các tỳ kheo, đây gọi là Lời Nói Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Hành Động Thiện? Tránh xa sát sinh, tránh xa lấy của không cho, tránh xa tà dâm. Này các tỳ kheo, đây gọi là Hành Động Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Đời Sống Thiện? Ở đây, này các tỳ kheo, vị đệ tử bậc thánh sau khi từ bỏ đời sống sai trái, nuôi sống bản thân bằng Đời Sống Thiện. Này các tỳ kheo, đây gọi là Đời Sống Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Nỗ lực Thiện? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo khởi lên mong muốn (dục / chanda), nỗ lực, phát động sức mạnh, giữ vững tâm và phấn đấu để ngăn chặn những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) và điều ác chưa sinh ra không cho sinh ra; khởi lên mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, giữ vững tâm và phấn đấu để từ bỏ những điều không thiện và điều ác đã sinh ra; khởi lên mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, giữ vững tâm và phấn đấu để làm cho những điều thiện chưa sinh ra được sinh ra; khởi lên mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, giữ vững tâm và phấn đấu để duy trì, không làm lu mờ, làm tăng trưởng, mở rộng, tu tập và hoàn mãn những điều thiện đã sinh ra. Này các tỳ kheo, đây gọi là Nỗ lực Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là sự chú tâm Thiện? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát cơ thể qua cơ thể của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời; sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời; sống quan sát tâm qua tâm của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời; sống quan sát Điều dạy qua các Điều, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâmchế ngự tham lam và ưu phiền ở đời. Này các tỳ kheo, đây gọi là sự chú tâm Thiện.

Và này các tỳ kheo, thế nào là Định thiện? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), hoàn toàn rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt được và an trú trong Thiền-na (jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka), có nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha). Với sự lắng dịu (diệt / vūpasama) của chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, sinh ra từ Định, có hân hoanhạnh phúc. Với sự phai nhạt của hân hoan, vị ấy sống với Tâm bình thản (xả / upekkhā), chú tâmnhận biết rõ ràng, và cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là: 'Người có Tâm bình thản, chú tâm, sống hạnh phúc'. Với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúc và sự hoàn toàn từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến từ trước của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của sự chú tâm nhờ Tâm bình thản. Này các tỳ kheo, đây gọi là Định thiện.

Này các tỳ kheo, đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến chấm dứt đau khổ.

Như vậy, vị ấy sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên trong, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ bên ngoài, hay sống quan sát Điều dạy qua các Điều từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Hay vị ấy sống quan sát tính hình thành trên các Điều dạy, hay sống quan sát tính hoại diệt trên các Điều dạy, hay sống quan sát cả tính hình thành và tính hoại diệt trên các Điều dạy. Hay vị ấy thiết lập ghi nhớ rằng 'đây là các Quy luật' - biếtnhớ như đúng như vậy, không thêm [một nhận thức khách quan về các quy luật]. Vị ấy sống không nương tựa, không bám giữ bất cứ điều gì ở đời.

Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo sống quan sát Điều dạy qua Điều dạy về Bốn Thánh Đế.

Phần về các Thánh Đế đã xong.

Quan sát Điều dạy đã xong.

Này các tỳ kheo, bất cứ ai tu tập bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy năm, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả vị: sự hiểu biết hoàn hảo (chánh trí / aññā) ngay trong hiện tại; hay nếu còn phần dư tàn (hữu dư y / upādisese), thì đạt quả không trở lại (Bất lai / anāgāmitā).

Này các tỳ kheo, hãy để qua một bên bảy năm. Bất cứ ai, này các tỳ kheo, tu tập bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong sáu năm [...lặp lại...] năm năm... bốn năm... ba năm... hai năm... một năm... hãy để qua một bên một năm. Bất cứ ai, này các tỳ kheo, tu tập bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy tháng, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả vị: sự hiểu biết hoàn hảo ngay trong hiện tại; hay nếu còn phần dư tàn, thì đạt quả không trở lại. Hãy để qua một bên bảy tháng. Bất cứ ai, này các tỳ kheo, tu tập bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong sáu tháng [...lặp lại...] năm tháng... bốn tháng... ba tháng... hai tháng... một tháng... nửa tháng... hãy để qua một bên nửa tháng. Bất cứ ai, này các tỳ kheo, tu tập bốn nơi chú tâm này theo cách như vậy trong bảy ngày, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả vị: sự hiểu biết hoàn hảo ngay trong hiện tại; hay nếu còn phần dư tàn, thì đạt quả không trở lại.

Đây là con đường độc nhất để thanh lọc chúng sinh, để vượt qua sầu thảmkhóc lóc, để làm tan biến đau khổưu phiền, để đạt được phương pháp đúng đắn, để chứng ngộ Niết-bàn, đó chính là bốn nơi chú tâm. Những gì đã được nói đến, chính là nói dựa vào (duyên / paṭicca) điều này."

Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận (abhinandunti) lời dạy của Thế Tôn.

Đại kinh Thiết lập Niệm thứ chín đã xong.