Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 98. KINH VĀSEṬṬHA

(Vāseṭṭhasutta)

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn lưu trú tại Icchānaṅgala, trong khu rừng Icchānaṅgala.

2. Lúc bấy giờ, có nhiều Bà-la-môn đại gia danh tiếng đang cư ngụ tại Icchānaṅgala, đó là Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, Bà-la-môn Todeyya và nhiều Bà-la-môn đại gia danh tiếng khác.

3. Khi ấy, trong lúc hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi dạo và tản bộ, một cuộc thảo luận sau đây khởi lên: “Thưa tôn giả, làm thế nào để trở thành một Bà-la-môn (brāhmaṇo)?”

Thanh niên Bhāradvāja nói như sau: “Thưa tôn giả, khi một người được sinh ra tốt đẹp từ cả hai phía mẹ và cha, có huyết thống trong sạch cho đến bảy đời tổ tiên, không bị chê bai hay chỉ trích về dòng dõi (jāti)—cho đến mức độ đó, thưa tôn giả, người ấy là một Bà-la-môn.”

Thanh niên Vāseṭṭha nói như sau: “Thưa tôn giả, khi một người có đạo đức (trì giới / sīlavā) và cư xử đúng đắn (thành tựu cấm giới / vattasampanno)—cho đến mức độ đó, thưa tôn giả, người ấy là một Bà-la-môn.”

4. Thanh niên Bhāradvāja không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha, và thanh niên Vāseṭṭha cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja.

5. Sau đó, thanh niên Vāseṭṭha nói với thanh niên Bhāradvāja: “Thưa tôn giả Bhāradvāja, Sa-môn Gotama là con trai dòng Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang lưu trú tại Icchānaṅgala, trong khu rừng Icchānaṅgala. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về tôn giả Gotama: ‘Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng, người điều phục những ai đáng được điều phục, bậc Thầy của chư thiên và loài người, bậc Giác ngộ, Thế Tôn.’ Này tôn giả Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama về vấn đề này. Sa-môn Gotama trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Vâng, thưa tôn giả,” thanh niên Bhāradvāja đồng ý với thanh niên Vāseṭṭha.

6. Sau đó, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, họ ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:

7.

"Được chấp nhận, công nhận,
Chúng tôi thông ba kinh;
Tôi trò Pokkharasāti,
Anh kia của Tārukkha.

Những gì người Ba minh,
Tuyên bố và giảng dạy;
Chúng tôi đều thông đạt,
Rành rẽ mọi ngữ pháp;
Tranh luận như đạo sư.

Về vấn đề dòng dõi,
Chúng tôi có tranh luận;
Thưa tôn giả Gotama.

Do sinh ra dòng dõi,
Mới là Bà-la-môn;
Bhāradvāja nói vậy.
Còn tôi nói do nghiệp,
Xin bậc có Mắt biết.

Chúng tôi không thể nào,
Thuyết phục được lẫn nhau;
Nên đến hỏi tôn giả,
Bậc Giác ngộ danh vang.

Như vầng trăng tròn sáng,
Mọi người chắp tay vái;
Tôn kính và đảnh lễ,
Gotama trên đời.

Bậc có Mắt xuất hiện,
Chúng tôi xin được hỏi;
Do sinh ra dòng dõi,
Hay do nghiệp tạo thành;
Mới là Bà-la-môn?
Xin giải thích chúng tôi,
Kẻ chưa biết được rõ."

8.

"Ta sẽ giải thích rõ,
(Thế Tôn nói Vāseṭṭha)
Theo thứ tự chân thật;
Sự phân chia các loài,
Khác biệt do sinh ra.

Cây cỏ các ngươi biết,
Dù chúng không tự nhận;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

Rồi đến các côn trùng,
Cho đến loài kiến nhỏ;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

Thú bốn chân cũng vậy,
Từ nhỏ đến to lớn;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

Loài bò sát trườn bụng,
Rắn rết lưng dài ngoẵng;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

Rồi đến các loài cá,
Sống bơi lội trong nước;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

Rồi đến các loài chim,
Dùng cánh bay trên trời;
Tướng sinh loại của chúng,
Khác biệt do sinh ra.

9.

Như trong các loài kia,
Tướng sinh loại khác biệt;
Trong loài người không có,
Tướng sinh loại khác biệt.

Không khác ở mái tóc,
Không đầu, tai hay mắt;
Không miệng hay là mũi,
Không môi hay chân mày.

Không cổ hay là vai,
Không bụng hay là lưng;
Không mông hay là ngực,
Không nam căn, nữ căn.

Không tay hay là chân,
Không ngón hay là móng;
Không bắp chân hay đùi,
Không màu da, giọng nói;
Tướng sinh loại không có,
Như ở các loài khác.

Đặc điểm riêng trên thân,
Ở người không tìm thấy;
Sự khác biệt loài người,
Chỉ là do danh xưng.

10.

Ai trong loài người này,
Sống bằng nghề chăn nuôi;
Vāseṭṭha nên biết,
Nông phu, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề thủ công;
Vāseṭṭha nên biết;
Thợ thuyền, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề buôn bán;
Vāseṭṭha nên biết;
Thương nhân, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề hầu hạ;
Vāseṭṭha nên biết;
Tôi tớ, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề trộm cắp;
Vāseṭṭha nên biết;
Kẻ trộm, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề binh đao;
Vāseṭṭha nên biết;
Binh lính, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Sống bằng nghề tế tự;
Vāseṭṭha nên biết;
Tế sư, không Bà-la-môn.

Ai trong loài người này;
Hưởng thụ làng và nước;
Vāseṭṭha nên biết;
Quốc vương, không Bà-la-môn.

11.

Ta không gọi Bà-la-môn;
Vì sinh từ thai mẹ;
Chỉ là kẻ xưng hô;
Nếu còn nhiều vướng bận;
Không bám víu, sở hữu;
Ta gọi Bà-la-môn.

Cắt đứt mọi kiết sử;
Không còn gì lo sợ;
Vượt trói buộc, tháo gỡ;
Ta gọi Bà-la-môn.

Cắt đứt mọi dây cương;
Dây da và dây thừng;
Nhổ chốt, bậc Giác ngộ;
Ta gọi Bà-la-môn.

Chịu mắng chửi, đánh đập;
Không móng tâm sân hận;
Lấy nhẫn làm sức mạnh;
Ta gọi Bà-la-môn.

Không giận, giữ giới hạnh;
Đạo đức, không kiêu mạn;
Nhiếp phục, thân cuối cùng;
Ta gọi Bà-la-môn.

Như nước trên lá sen;
Hạt cải trên đầu kim;
Không đắm nhiễm dục lạc;
Ta gọi Bà-la-môn.

Ai hiểu rõ khổ đau;
Ngay đây tự chấm dứt;
Bỏ gánh nặng, tháo gỡ;
Ta gọi Bà-la-môn.

Trí tuệ sâu, thông minh;
Biết rõ đường, phi đường;
Đạt đến đích tối thượng;
Ta gọi Bà-la-môn.

Không giao du thân cận;
Cả gia chủ, xuất gia;
Sống không nhà, ít dục;
Ta gọi Bà-la-môn.

Bỏ trượng, không hại vật;
Kẻ yếu hay kẻ mạnh;
Không giết, không bảo giết;
Ta gọi Bà-la-môn.

Không chống giữa người chống;
Tịch tịnh giữa đao trượng;
Không bám giữa người bám;
Ta gọi Bà-la-môn.

Người dứt bỏ tham sân;
Kiêu mạn và gièm pha;
Như hạt cải đầu kim;
Ta gọi Bà-la-môn.

Nói lời không thô ác;
Lời chân thật, ý nghĩa;
Không làm ai phật lòng;
Ta gọi Bà-la-môn.

Vật dài hay vật ngắn;
Nhỏ to, đẹp hay xấu;
Không cho, không lấy trộm;
Ta gọi Bà-la-môn.

Không còn những mong cầu;
Đời này và đời sau;
Không mong, được tháo gỡ;
Ta gọi Bà-la-môn.

Không còn sự bám víu;
Hiểu biết, không nghi ngờ;
Đạt đến cõi Bất tử;
Ta gọi Bà-la-môn.

Vượt qua cả thiện ác;
Cả hai sự trói buộc;
Không sầu, sạch, thanh tịnh;
Ta gọi Bà-la-môn.

Như trăng sáng không vết;
Trong trẻo và tĩnh lặng;
Dứt sạch mọi vui thú;
Ta gọi Bà-la-môn.

Vượt qua đường lầy lội;
Luân hồi và si mê;
Qua bờ, bậc thiền định;
Không động, không nghi ngờ;
Không bám, được tịch diệt;
Ta gọi Bà-la-môn.

Ai từ bỏ dục lạc;
Sống không nhà, xuất gia;
Dứt sạch dục và hữu;
Ta gọi Bà-la-môn.

Ai từ bỏ tham ái;
Sống không nhà, xuất gia;
Dứt sạch ái và hữu;
Ta gọi Bà-la-môn.

Bỏ trói buộc cõi người;
Vượt trói buộc cõi trời;
Thoát mọi sự trói buộc;
Ta gọi Bà-la-môn.

Bỏ thích và không thích;
Mát mẻ, không sinh y;
Bậc hùng thắng thế gian;
Ta gọi Bà-la-môn.

Biết rõ sự chết đi;
Tái sinh của chúng sinh;
Không dính, Thiện Thệ, Giác;
Ta gọi Bà-la-môn.

Chư thiên, Càn-thát-bà;
Hay loài người không biết;
Đường đi bậc Lậu tận;
Ta gọi Bà-la-môn.

Quá khứ và vị lai;
Hiện tại không sở hữu;
Không bám víu, sở hữu;
Ta gọi Bà-la-môn.

Bậc ngưu vương, dũng mãnh;
Đại tiên, bậc chiến thắng;
Không động, sạch, Giác ngộ;
Ta gọi Bà-la-môn.

Biết rõ kiếp quá khứ;
Thấy thiên giới, đọa xứ;
Đạt đến tận cùng sinh;
Ta gọi Bà-la-môn.

12.

Danh xưng trên thế gian;
Chỉ là tên giả lập;
Phát sinh do quy ước;
Được đặt ra khắp nơi.

Ngủ ngầm từ lâu đời;
Quan điểm kẻ không biết;
Kẻ không biết tuyên bố;
Sinh ra Bà-la-môn.

Không do sinh dòng dõi;
Trở thành Bà-la-môn;
Không do sinh dòng dõi;
Không là Bà-la-môn. Do hành động (nghiệp) tạo;
Trở thành Bà-la-môn;
Do hành động (nghiệp) tạo;
Không là Bà-la-môn.

Nông phu do hành động;
Thợ thuyền do hành động;
Thương nhân do hành động;
Tôi tớ do hành động.

Kẻ trộm do hành động;
Binh lính do hành động;
Tế sư do hành động;
Quốc vương do hành động.

13.

Bậc trí thấy như thật;
Hành động và kết quả;
Thấy rõ lý duyên khởi;
Hiểu thấu rõ nghiệp báo.

Thế gian xoay do nghiệp;
Chúng sinh xoay do nghiệp;
Chúng sinh buộc vào nghiệp;
Như chốt giữ bánh xe.

Khổ hạnh, sống phạm hạnh;
Tự chủ và nhiếp phục;
Nhờ vậy Bà-la-môn;
Bà-la-môn tối thượng.

Đầy đủ cả Ba minh;
Tịch tịnh, dứt tái sinh;
Vāseṭṭha nên biết;
Là Phạm thiên, Đế Thích;
Đối với người hiểu biết."

14. Khi được nói như vậy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa tôn giả Gotama, thật tuyệt vời, thưa tôn giả Gotama. Thưa tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, hoặc cầm ngọn đèn sáng mang vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình ảnh; cũng vậy, Giáo pháp (pháp / dhammo) đã được tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp và quy y Tăng chúng. Xin tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy y.”

Kinh Vāseṭṭha thứ tám kết thúc.

MN 98. KINH VÀSETTHA

(Vàsettha Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Icchanankala (Y-xa-năng -gia-la), tại khu rừng Icchanankala.

Lúc bấy giờ có rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có trú tại Icchanankala như Bà-la-môn Canki, Bà-la-môn Tarukkha, Bà-la-môn Pokkharasati, Bà-la-môn Janussoni, Bà-la-môn Todeyya cùng rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có khác. Rồi trong khi các thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja đang tản bộ du hành, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Thế nào là một vị Bà-la-môn?”

Thanh niên Bharadvaja nói như sau:

– Nếu ai thiện sanh từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, như vậy là làm một vị Bà-la- môn.

Thanh niên Vasettha nói như sau:

– Nếu ai có giới hạnh và thành tựu các cấm giới, như vậy là một vị Bà-la-môn.

Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja không thể thuyết phục thanh niên Bà-la-môn Vasettha, và thanh niên Bà-la-môn Vasettha không thể thuyết phục thanh niên Bharadvaja. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja:

– Này Bharadvaja, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đang trú ở Icchanankala, tại khu rừng Icchanankala. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn… Phật, Thế Tôn”. Này Tôn giả Bharadvaja, chúng ta hãy đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy hỏi Tôn giả Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

– Thưa vâng.

Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja vâng đáp thanh niên Vasettha. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vasettha dùng những bài kệ bạch Thế Tôn:

Chúng con cả hai người,
Ðược tôn xưng, tự nhận,
Là những bậc thông thái,
Cả ba tập Vệ-đà.

Con là đệ tử Ngài,
Pokkharasati,
Còn vị thanh niên này,
Ðệ tử Tarukkha.

Ba Vệ-đà nói gì,

Chúng con đều thông đạt,
Văn cú và văn phạm,
Chúng con đều thấu hiểu,
Thuyết giảng và giải thích,
Thật giống bậc Ðạo sư.

Tôn giả Gotama,
Giữa hai người chúng con
Có sự tranh luận này,
Về huyết thống thọ sanh.

Bharadvaja nói:
“Chính do sự thọ sanh”.
Con nói: "Do hành động,
Mới thành Bà-la-môn".

Mong bậc có Pháp nhãn,
Hiểu cho là như vậy.
Cả hai người chúng con,
Không thể thuyết phục nhau.
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Chánh Giác tôn xưng.

Như trăng được tròn đầy,
Quần chúng đến chấp tay,
Ðảnh lễ và chiêm ngưỡng.
Cũng vậy, ở trong đời,
Quần chúng đến đảnh lễ,
Gotama Tôn giả.

Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Pháp nhãn thế gian,
Bà-la-môn do sanh,
Hay chính do hành động?
Chúng con không được biết,
Hãy nói chúng con biết.

Ðức Thế Tôn bèn nói:

Này Ông Vasettha,
Ta trả lời cho Ông,
Thuận thứ và như thật,
Sự phân loại do sanh,
Của các loại hữu tình,
Chính do sự sanh đẻ,
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem cỏ và cây,
Dầu chúng không nhận thức,
Chúng có tướng thọ sanh,

Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loại côn trùng,
Bướm đêm, các loại kiến,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loại bốn chân,
Loại nhỏ và loại lớn,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loài bò sát,
Loại rắn, loại lưng dài,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem các loại cá,
Loại sinh sống trong nước,
Chúng có tướng thọ sanh,
Da sanh, có dị loại.

Hãy xem các loại chim,
Loại có cánh trên trời,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.

Tùy theo sự thọ sanh,
Chúng có tướng tùy sanh.
Trong thế giới loài Người,
Tướng sanh không có nhiều.

Không ở đầu mái tóc,
Không ở tai, ở mắt,
Không ở miệng, ở mũi,
Không ở môi, ở mày,
Không ở cổ, ở nách,
Không ở bụng, ở lưng,
Không ở ngực, ở vú,
Không âm hộ, hành dâm.

Không ở tay, ở chân,
Không ở ngón, ở móng,
Không ở cổ chân, vế,
Không ở sắc, ở tiếng.

Không tướng, do tùy sanh,
Tùy sanh, loại sai khác.
Trên tự thân con người,
Không có gì đặc biệt.

Chỉ tùy theo danh xưng,
Loài Người được kêu gọi.

Ðối người tự sinh sống.
Chăn bò, lo ruộng đất,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nông phu,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống theo nghề nghiệp,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là công thợ,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề buôn bán,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là thương nhân,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống hầu hạ người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nô bộc,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống lấy của người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là kẻ trộm,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề cung tên,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nhà binh,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề tế tự,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là tế quan,
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống giữa loài Người,
Thọ hưởng làng, quốc độ,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là vua chúa,
Không phải Bà-la-môn.

Và Ta không có gọi,
Kẻ ấy Bà-la-môn.
Chỉ vì do thọ sanh,
Dầu vị ấy cao sang,
Dầu vị ấy giàu có,

Nhưng còn ham thế lợi.

Không tham lam thế lợi,
Không chấp thủ sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Vị đoạn tận kiết sử,
Không ai không sợ hãi,
Siêu việt mọi chấp trước,
Thoát ly các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Cắt dây thừng, dây ách,
Dây cương, cùng dây trói,
Quăng đi cây chắn ngang,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Bậc sáng suốt, giác ngộ,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không lỗi, chịu đựng,
Nhiếc mắng cùng đánh trói,
Trang bị với nhẫn lực,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Không phẫn nộ, giữ luật,
Có giới hạnh không kiêu,
Nhiếp phục, thân tối hậu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Như nước trên lá sen,
Hột cải trên đỉnh nhọn,
Không tham luyến dục vọng,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết ngay đời này
Khổ vì ngã đoạn tận,
Gánh nặng được đặt xuống,
Xa lìa các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Tuệ thâm sâu, có trí
Thiện xảo đạo phi đạo,
Ðích tối thượng đạt được,
Kẻ ấy Ta mới gọi,

Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không còn liên hệ,
Cả tại gia, xuất gia,
Không nhà trú, thiểu dục,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Bỏ gậy đối chúng sanh,
Kẻ yếu cùng kẻ mạnh,
Không giết, không hại ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Giữa kẻ thù, không thù,
Giữa hung bạo, an tịnh,
Giữa chấp thủ, không chấp,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Dối, tham, sân, mạn, phú,
Ai bỏ rơi được chúng,
Như hột cải rơi khỏi.
Ðầu nhọn của mũi kim,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai dạy thật nhỏ nhẹ,
Nói lên lời chơn thực,
Không xúc chạm một ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Dài ngắn hay lớn nhỏ,
Thanh tịnh hay bất tịnh,
Ở đời vật dài ngắn,
Lớn, nhỏ, tịnh, bất tịnh,
Không lấy vật không cho,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Với ai không tham cầu,
Ðời này và đời sau,
Từ bỏ mọi tham cầu,
Ðoạn rời mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không có chấp tàng,
Với trí đoạn nghi hoặc,

Ðạt nhập đáy bất tử.
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời ai vượt khỏi,
Mọi buộc ràng thiện ác,
Không sầu, không bụi uế,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không uế, thanh tịnh,
Không gợn, sáng như trăng,
Hỷ, hữu được đoạn trừ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai vượt qua hiểm lộ,
Ác lộ, luân hồi, si,
Vượt khỏi, đến bờ kia,
Thiền tư, không dao động,
Ðoạn trừ mọi nghi hoặc,
An tịnh, không chấp trước,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời, bỏ dục vọng,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ dục và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chanh danh Bà-la-môn.

Ở đời, bỏ tham ác,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ ác và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai từ bỏ nhân ách,
Vượt qua cả thiên ách,
Ðoạn trừ mọi ách nạn,
Thoát ly mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Từ bỏ lạc, bất lạc,
Thanh lương, không y trú,
Chiến thắng mọi thế giới,
Bậc anh hùng dũng mãnh,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết thật hoàn toàn,
Sự sanh diệt chúng sanh,
Không tham trước, Thiện Thệ,
Giác ngộ, đạt chánh giác,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Không biết chỗ sở thủ,
Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
Lậu hoặc được đoạn trừ,
Bậc ng Cúng, La-Hán,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không có chấp trước,
Ðời trước, sau, đời này,
Không chấp, không sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ngưu vương, bậc Tối thắng,
Anh hùng, bậc Ðại sĩ,
Bậc Chinh phục, Bất động,
Tắm sạch, bậc Giác Ngộ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết được đời trước,
Thấy được thiện, ác thú,
Ðạt được sanh diệt đoạn,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ðiều thế giới cho gọi,
Là “tên” và “gia tộc”,
Chỉ tục danh, thông danh,
Danh từ khởi nhiều chỗ.

Ðã lâu đời chấp trước,
Tà kiến của kẻ ngu,
Kẻ ngu tự tuyên bố,
Bà-la-môn do sanh.

Không phải do sanh đẻ,
Ðược gọi Bà-la-môn,
Không phải do sanh đẻ,
Gọi phi Bà-la-môn.

Chính do sự hành động
Ðược gọi Bà-la-môn,

Chính do sự hành động
Gọi phi Bà-la-môn.

Hành động làm nông phu,
Hành động làm công thợ,
Hành động làm lái buôn,
Hành động làm nô bộc.

Hành động làm ăn trộm,
Hành động làm nhà binh.
Hành động làm tế quan,
Hành động làm vua chúa.

Kẻ trí thấy hành động,
Như thật là như vậy.
Thấy rõ lý duyên khởi,
Biết rõ nghiệp dị thục.

Do nghiệp, đời luân chuyển Do nghiệp, người luân hồi. Nghiệp trói buộc chúng sanh,
Như trục xe quay bánh.

Do khổ hạnh, Phạm hạnh,
Tiết chế và chế ngự,
Tác thành Bà-la-môn.
Bà-la-môn như vậy,
Mới thật là tối thượng,

Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vesettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm thiên,
Ðược Thiên chủ Sakka,
Biết đến thật tường tận.

Khi được nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-