Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 50. KINH CẢNH CÁO MA VƯƠNG

(Māratajjanīyasutta) (Brahmanimantanikasutta)Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Mahāmoggallāna trú tại vùng Bhagga, núi Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, vườn Lộc Uyển.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đang đi kinh hành ngoài trời.

Khi ấy, Ác ma (Ma vương / Māra pāpimā) đi vào trong bụng của Tôn giả Mahāmoggallāna, chui vào trong ruột. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna suy nghĩ: “Sao bụng Ta lại nặng nề thế này? Giống như ăn đầy đậu vậy.” Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna bước xuống khỏi chỗ kinh hành, đi vào tịnh xá và ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Tôn giả Mahāmoggallāna tự mình hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasākāsi).

3. Tôn giả Mahāmoggallāna thấy Ác ma đã đi vào trong bụng, chui vào trong ruột. Thấy Ác ma, ngài nói: “Hãy đi ra, Ác ma; hãy đi ra, Ác ma. Chớ có quấy rối Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) và đệ tử của Người Đến Như Vậy. Chớ để điều đó mang lại bất lợi và đau khổ (khổ / dukkha) cho ngươi trong một thời gian dài.”

4. Khi ấy, Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn này không biết ta, không thấy ta mà lại nói: ‘Hãy đi ra, Ác ma; hãy đi ra, Ác ma. Chớ có quấy rối Người Đến Như Vậy, chớ có quấy rối đệ tử của Người Đến Như Vậy. Chớ để điều đó mang lại bất lợi và đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài.’ Ngay cả bậc Đạo sư của vị này cũng không thể nhận ra ta nhanh chóng như vậy, huống hồ gì vị đệ tử này lại có thể biết ta?”

5. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Ác ma: “Này Ác ma, Ta biết ngươi, ngươi chớ có nghĩ: ‘Vị ấy không biết ta’. Ngươi là Ma vương, này Ác ma; và này Ác ma, ngươi đã suy nghĩ như vầy: ‘Sa-môn này không biết ta, không thấy ta mà lại nói: Hãy đi ra, Ác ma; hãy đi ra, Ác ma. Chớ có quấy rối Người Đến Như Vậy, chớ có quấy rối đệ tử của Người Đến Như Vậy. Chớ để điều đó mang lại bất lợi và đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài. Ngay cả bậc Đạo sư của vị này cũng không thể nhận ra ta nhanh chóng như vậy, huống hồ gì vị đệ tử này lại có thể biết ta?’”

6. Khi ấy, Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn này biết ta, thấy ta nên mới nói: ‘Hãy đi ra, Ác ma; hãy đi ra, Ác ma. Chớ có quấy rối Người Đến Như Vậy, chớ có quấy rối đệ tử của Người Đến Như Vậy. Chớ để điều đó mang lại bất lợi và đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài.’”

Rồi Ác ma thoát ra từ miệng của Tôn giả Mahāmoggallāna và đứng ở chốt cửa. Tôn giả Mahāmoggallāna thấy Ác ma đứng ở chốt cửa; thấy Ác ma, ngài nói: "Này Ác ma, ở đó Ta cũng thấy ngươi; ngươi chớ có nghĩ ‘Vị ấy không thấy ta’. Này Ác ma, ngươi đang đứng ở chốt cửa đó.

8. Này Ác ma, thuở xưa Ta từng là một Ma vương tên là Dūsī, Ta có một người em gái tên là Kāḷī. Ngươi là con trai của cô ấy. Vậy ngươi từng là cháu trai của Ta.

MN 50. KINH HÀNG MA

(Màratajjanìya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Maha Moggallana trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nghĩ như sau: “Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Sau khi ngồi, Tôn giả Maha Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:

– Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!

Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài””. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

Rồi Tôn giả Maha Moggallana lại nói với Ác ma như sau:

– Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”

Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài””. Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Maha Moggallana bước ra, và đứng dựa nơi cửa (miệng?). Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa thấy vậy, bèn nói Ác ma:

– Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa (miệng?). Này Ác ma, thuở xưa, ta-là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.

9. Này Ác ma, vào thời điểm đó, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện ở đời. Này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, có một cặp đệ tử tên là Vidhura và Sañjīva, là cặp đệ tử tối thắng, xuất chúng. Này Ác ma, trong số tất cả các đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không một ai có thể sánh bằng Tôn giả Vidhura về việc giảng dạy Giáo pháp (pháp / dhammadesanāya). Này Ác ma, chính vì lý do này mà Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Người Vô Song).

10. Này Ác ma, Tôn giả Sañjīva đi vào rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, không mấy khó khăn liền nhập vào định chấm dứt Nhận Thức và Cảm Thọ (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhaṁ). Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sañjīva đang ngồi dưới một gốc cây, nhập vào định chấm dứt Nhận Thức và Cảm Thọ. Này Ác ma, những người chăn bò, chăn cừu, nông phu và khách bộ hành nhìn thấy Tôn giả Sañjīva đang ngồi dưới gốc cây, nhập vào định chấm dứt Nhận Thức và Cảm Thọ; thấy vậy, họ suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa các ngài, thật phi thường thay, thưa các ngài. Sa-môn này đã chết ngay khi đang ngồi. Nào, chúng ta hãy hỏa thiêu vị ấy.’ Rồi này Ác ma, những người chăn bò, chăn cừu, nông phu và khách bộ hành gom cỏ, củi và phân bò lại, chất lên thân Tôn giả Sañjīva, châm lửa rồi rời đi.

11. Này Ác ma, khi đêm ấy trôi qua, Tôn giả Sañjīva xuất khỏi trạng thái thiền định đó, rũ sạch y phục, vào buổi sáng mặc y, mang bát đi vào làng khất thực. Này Ác ma, những người chăn bò, chăn cừu, nông phu và khách bộ hành nhìn thấy Tôn giả Sañjīva đang đi khất thực; thấy vậy, họ suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa các ngài, thật phi thường thay, thưa các ngài. Sa-môn này đã chết ngay khi đang ngồi, nay vị ấy đã sống lại.’ Này Ác ma, chính vì lý do này mà Tôn giả Sañjīva được gọi là Sañjīva (Người Sống Lại).

12. Này Ác ma, khi ấy Ma vương Dūsī suy nghĩ: ‘Ta không biết sự đến hay sự đi của những tỳ kheo có lối sống đạo đức (giới đức / sīlavantānaṁ), có những Điều tốt đẹp (thiện pháp / kalyāṇadhammānaṁ) này. Hay là ta nhập vào các bà-la-môn và gia chủ [xúi giục họ]: “Đến đây, các người hãy chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này. Biết đâu khi bị các người chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.”’ Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī nhập vào các bà-la-môn và gia chủ: ‘Đến đây, các người hãy chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này. Biết đâu khi bị các người chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.’

13. Này Ác ma, khi ấy các bà-la-môn và gia chủ bị Ma vương Dūsī nhập vào, liền chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp: ‘Những sa-môn trọc đầu, thấp hèn, đen đúa, sinh ra từ gót chân của Phạm thiên này, cứ rũ vai, cúi đầu, tỏ vẻ ngọt ngào, nói rằng “chúng tôi đang thiền, chúng tôi đang thiền”, rồi họ thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết. Giống như con cú đậu trên cành cây rình chuột, nó thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết; cũng vậy, những sa-môn trọc đầu, thấp hèn, đen đúa, sinh ra từ gót chân của Phạm thiên này, cứ rũ vai, cúi đầu, tỏ vẻ ngọt ngào, nói rằng “chúng tôi đang thiền, chúng tôi đang thiền”, rồi họ thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết. Giống như con chó rừng bên bờ sông rình cá, nó thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết; cũng vậy, những sa-môn trọc đầu… thiền miết. Giống như con mèo bên đống rác rình chuột, nó thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết; cũng vậy, những sa-môn trọc đầu… thiền miết. Giống như con lừa được tháo ách đứng bên đống rác, nó thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết; cũng vậy, những sa-môn trọc đầu, thấp hèn, đen đúa, sinh ra từ gót chân của Phạm thiên này, cứ rũ vai, cúi đầu, tỏ vẻ ngọt ngào, nói rằng “chúng tôi đang thiền, chúng tôi đang thiền”, rồi họ thiền, thiền mãi, thiền hoài, thiền miết.’

Này Ác ma, những người nào qua đời trong thời gian đó, phần lớn sau khi thân hoại mạng chung đều tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

14. Này Ác ma, khi ấy Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, gọi các tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, các bà-la-môn và gia chủ đã bị Ma vương Dūsī nhập vào [xúi giục]: “Đến đây, các người hãy chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này, biết đâu khi bị các người chửi rủa, mắng nhiếc, chọc tức, quấy rối, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.” Đến đây, này các tỳ kheo, các vị hãy sống lan tỏa với tâm đi cùng yêu thương (từ tâm / mettāsahagatena cetasā) đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa khắp trên, dưới, bề ngang, mọi nơi, toàn diện, lan tỏa khắp toàn thế giới với với tâm đi cùng yêu thương rộng lớn, vĩ đại, vô lượng, không hận thù, không ác ý. Các vị hãy sống lan tỏa với tâm đi cùng bảo bọc (bi tâm / karuṇāsahagatena cetasā) […lặp lại…] tâm đi cùng với cùng vui (hỷ tâm / muditāsahagatena cetasā) […lặp lại…] với tâm đi cùng bình thản (xả tâm / upekkhāsahagatena cetasā) đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa khắp trên, dưới, bề ngang, mọi nơi, toàn diện, lan tỏa khắp toàn thế giới với với tâm đi cùng bình thản rộng lớn, vĩ đại, vô lượng, không hận thù, không ác ý.’

15. Này Ác ma, khi ấy các tỳ kheo được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khuyên bảo như vậy, giảng dạy như vậy, dù đi vào rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, họ đều sống lan tỏa với tâm đi cùng yêu thương đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa khắp trên, dưới, bề ngang, mọi nơi, toàn diện, lan tỏa khắp toàn thế giới với với tâm đi cùng yêu thương rộng lớn, vĩ đại, vô lượng, không hận thù, không ác ý. Họ sống lan tỏa với tâm đi cùng bảo bọc […lặp lại…] với tâm đi cùng niềm vui […lặp lại…] với tâm đi cùng bình thản đến một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa khắp trên, dưới, bề ngang, mọi nơi, toàn diện, lan tỏa khắp toàn thế giới với tâm đi cùng với bình thản rộng lớn, vĩ đại, vô lượng, không hận thù, không ác ý.

16. Này Ác ma, khi ấy Ma vương Dūsī suy nghĩ: ‘Dù ta làm như vậy, ta vẫn không biết sự đến hay sự đi của những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này. Hay là ta nhập vào các bà-la-môn và gia chủ [xúi giục họ]: “Đến đây, các người hãy tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này. Biết đâu khi được các người tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.”’

17. Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī nhập vào các bà-la-môn và gia chủ: ‘Đến đây, các người hãy tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này. Biết đâu khi được các người tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.’ Này Ác ma, khi ấy các bà-la-môn và gia chủ bị Ma vương Dūsī nhập vào, liền tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp.

Này Ác ma, những người nào qua đời trong thời gian đó, phần lớn sau khi thân hoại mạng chung đều tái sinh vào cõi lành, cõi trời.

18. Này Ác ma, khi ấy Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, gọi các tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, các bà-la-môn và gia chủ đã bị Ma vương Dūsī nhập vào [xúi giục]: “Đến đây, các người hãy tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường những tỳ kheo có lối sống đạo đức, có những Điều tốt đẹp này, biết đâu khi được các người tôn kính, tôn trọng, kính nể, cúng dường, tâm của họ sẽ thay đổi, và nhờ đó Ma vương Dūsī sẽ tìm được cơ hội.” Đến đây, này các tỳ kheo, các vị hãy sống quan sát sự không đẹp đẽ (quán bất tịnh / asubhānupassino) nơi thân, có Nhận Thức về sự ghê tởm (tưởng ghê tởm / paṭikūlasaññino) đối với thức ăn, có Nhận Thức về sự không hứng thú (tưởng không hoan hỷ / anabhiratisaññino) đối với toàn thế giới, quan sát sự không bền vững (quán vô thường / aniccānupassino) trong mọi thứ do hợp lại mà thành (hành / saṅkhāresu).’

19. Này Ác ma, khi ấy các tỳ kheo được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khuyên bảo như vậy, giảng dạy như vậy, dù đi vào rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, họ đều sống quan sát sự không đẹp đẽ nơi thân, có Nhận Thức về sự ghê tởm đối với thức ăn, có Nhận Thức về sự không hứng thú đối với toàn thế giới, quan sát sự không bền vững trong mọi thứ do hợp lại mà thành.

20. Này Ác ma, khi ấy Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vào buổi sáng mặc y, mang bát, cùng với Tôn giả Vidhura làm thị giả đi theo sau, đi vào làng khất thực.

21. Này Ác ma, khi ấy Ma vương Dūsī nhập vào một đứa trẻ, nhặt một hòn đá ném vào đầu Tôn giả Vidhura; làm vỡ đầu ngài. Này Ác ma, khi ấy Tôn giả Vidhura với cái đầu bị vỡ, máu chảy ròng ròng, vẫn tiếp tục đi theo sát phía sau Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Ác ma, khi ấy Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, quay lại nhìn với cái nhìn của voi chúa (tượng vương ngưng thị / nāgāpalokitaṁ) [và nói]: ‘Ma vương Dūsī này không biết giới hạn.’ Này Ác ma, ngay cùng với cái nhìn đó, Ma vương Dūsī rơi khỏi chỗ ấy và đọa vào đại địa ngục.

Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.

Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ

tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.

Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.

Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. "

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.

Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân".

Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Này Ác ma, rồi Mara Dusi suy nghĩ như sau: "Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”, Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp đẻ chi phối họ”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.

Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải”. Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.

22. Này Ác ma, đại địa ngục đó có ba tên gọi: địa ngục sáu trường xúc (lục xúc xứ / chaphassāyataniko), địa ngục đâm bằng cọc sắt (saṅkusamāhato), và địa ngục tự mình cảm thọ (paccattavedaniyo). Này Ác ma, khi ấy các ngục tốt đến gần Ta và nói: ‘Này ngài, khi nào cọc sắt đâm chéo qua tim ngài, lúc đó ngài sẽ biết: “Ta đã bị thiêu đốt trong địa ngục này một ngàn năm.”’

23. Này Ác ma, Ta đã bị thiêu đốt trong đại địa ngục đó nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm. Ta đã bị thiêu đốt mười ngàn năm trong phần phụ của đại địa ngục đó, trải qua những Cảm Thọ (thọ / vedanaṁ) vô cùng đau đớn. Này Ác ma, lúc đó Ta có thân hình giống như con người, nhưng cái đầu thì giống như con cá.

24.

Địa ngục ấy thế nào,
Nơi Ác ma Dūsī,
Chịu quả báo đọa đày,
Vì xúc phạm Vidhura,
Và Phật Kakusandha.

Trăm cọc sắt đâm xuyên,
Tự mình chịu đau đớn;
Địa ngục ấy là vậy,
Nơi Ác ma Dūsī,
Chịu quả báo đọa đày,
Vì xúc phạm Vidhura,
Và Phật Kakusandha.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

25.

Giữa hồ nước sừng sững,
Lâu đài tồn muôn kiếp;
Màu lưu ly rực rỡ,
Tỏa ánh sáng chói lòa;
Tiên nữ múa tại đó,
Đa dạng nhiều sắc màu.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

26.

Người được Phật khích lệ,
Tăng chúng đang ngắm nhìn;
Lâu đài mẹ Migāra,
Rung chuyển bởi ngón chân.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

27.

Lâu đài Vejayanta,
Rung chuyển bởi ngón chân;
Nhờ sức mạnh thần thông,
Khiến chư thiên kinh hãi.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

28.

Tại lầu Vejayanta,
Hỏi Đế Thích Sakka;
Này Vāsava có biết,
Giải thoát diệt tham ái;
Đế Thích liền đáp lời,
Trả lời đúng sự thật.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

29.

Người tra vấn Phạm thiên,
Tại hội đường Sudhammā;
Này hiền giả quan điểm,
Xưa kia nay còn không;
Có thấy ánh sáng Phật,
Vượt cõi Phạm thiên chăng.

Phạm thiên liền đáp lời,
Tuần tự đúng sự thật;
Thưa ngài quan điểm xưa,
Nay tôi không còn giữ.

Tôi thấy ánh sáng Phật,
Vượt cõi Phạm thiên này;
Sao tôi dám nói rằng,
Tôi thường hằng vĩnh cửu.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

30.

Người chạm đỉnh Tu-di,
Bằng thần thông giải thoát;
Rừng Đông Thắng Thần Châu,
Và những người ngủ đất.

Tỳ kheo đệ tử Phật,
Hiểu trực tiếp điều này;
Xúc phạm tỳ kheo ấy,
Ngươi chuốc lấy khổ đau.

31.

Lửa không hề khởi ý,
‘Ta sẽ thiêu kẻ ngu’;
Kẻ ngu chạm vào lửa,
Tự chuốc lấy bỏng thiêu.

Cũng vậy này Ma vương,
Xúc phạm đấng Như Lai;
Tự thiêu đốt chính mình,
Như kẻ ngu chạm lửa.

Ma vương tạo ác nghiệp,
Xúc phạm đấng Như Lai;
Ngươi nghĩ sao Ác ma,
Ác nghiệp không trổ quả.

Kẻ làm ác tích tụ,
Chịu khổ đau lâu dài;
Ma vương hãy tránh xa,
Chớ quấy rối tỳ kheo.

Tỳ kheo cảnh cáo Ma,
Tại rừng Bhesakaḷā;
Dạ xoa liền buồn bã,
Biến mất ngay tại chỗ.

Kinh Cảnh Cáo Ma Vương thứ mười đã xong.

Phẩm Cūḷayamaka thứ năm đã xong.

32. Tóm tắt phẩm này:

Sāleyya, Verañja,
Mahādhammasamādāna;
Vīmaṁsakā, Kosambi,
Brāhmaṇo và Dūsī.

33. Tóm tắt năm phẩm:

Mūlapariyāya,
Sīhanāda tối thắng;
Kakaca, Gosiṅga,
Sāleyya là năm.

Năm mươi kinh đầu tiên đã hoàn tất.

Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: "Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: "Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.‘’

Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.

1. Ðịa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Ðịa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

2. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ Thọ,

3. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Ðược chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vijayanta!

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

4. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vijayanta?
Ðầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,\

Kanha chịu khổ thọ,!

5. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vijayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

6. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
Brahmà đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên ơi!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ!

7. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Ðông Videha,
Và người nằm trên đất,

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ.

8. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.

Tự mình đốt cháy mình
Như kẻ ngu chạm lửa,
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!

Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakala,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.

-ooOoo-