Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 48. KINH NHỮNG NGƯỜI KOSAMBI

(Kosambiyasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú tại Kosambi, ở tu viện Ghosita.

2. Lúc bấy giờ tại Kosambi, các tỳ kheo sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói (khẩu kiếm / mukhasattīhi). Họ không thuyết phục nhau, không chấp nhận sự thuyết phục, không làm cho nhau hiểu và không chấp nhận sự thấu hiểu.

3. Rồi một tỳ kheo đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tỳ kheo ấy thưa với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở đây tại Kosambi, các tỳ kheo sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói. Họ không thuyết phục nhau, không chấp nhận sự thuyết phục, không làm cho nhau hiểu và không chấp nhận sự thấu hiểu”.

4. Rồi Thế Tôn gọi một tỳ kheo khác: “Này tỳ kheo, hãy đến đây, nhân danh Ta, hãy gọi các tỳ kheo ấy rằng: ‘Bậc Đạo Sư gọi các tôn giả’”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến nơi các tỳ kheo kia đang ở; sau khi đến, vị ấy nói với các tỳ kheo kia điều này: “Bậc Đạo Sư gọi các tôn giả”.

“Thưa vâng, thưa hiền giả”, các tỳ kheo ấy vâng đáp tỳ kheo kia rồi đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các tỳ kheo ấy đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói điều này:

“Này các tỳ kheo, có đúng là các ông sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói, các ông không thuyết phục nhau, không chấp nhận sự thuyết phục, không làm cho nhau hiểu và không chấp nhận sự thấu hiểu không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

5. “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào, trong thời gian các ông sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói, liệu trong thời gian đó hành động thân yêu thương (từ / metta) của các ông có được thiết lập đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng không; hành động lời nói yêu thương […lặp lại…] hành động trí não (ý / mano) yêu thương của các ông có được thiết lập đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn”.

“Này các tỳ kheo, như vậy trong thời gian các ông sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói, trong thời gian đó hành động thân yêu thương của các ông không được thiết lập đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng; hành động lời nói yêu thương không […lặp lại…] hành động ý yêu thương không được thiết lập đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Vậy thì này những kẻ rỗng tuếch, các ông đang biết gì, đang thấy gì mà lại sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói, các ông không thuyết phục nhau, không chấp nhận sự thuyết phục, không làm cho nhau hiểu và không chấp nhận sự thấu hiểu? Này những kẻ rỗng tuếch, điều đó sẽ đem lại bất lợi và đau khổ (khổ / dukkha) cho các ông trong một thời gian dài”.

6. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, có sáu Điều (pháp / dhammā) này tạo sự hòa hợp (tương tri / sāraṇīyā), tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm (nhất tâm / ekībhāvāya). Sáu Điều nào?

Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thiết lập hành động thân yêu thương đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo thiết lập hành động lời nói yêu thương đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo thiết lập hành động ý yêu thương đối với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Lại nữa, này các tỳ kheo, đối với những vật dụng có được theo đúng Giáo pháp (pháp / dhamma), nhận được đúng Giáo pháp, đến những thứ chỉ vừa đủ trong bình bát, tỳ kheo không chia cất riêng để thụ hưởng riêng những vật dụng như vậy, mà thụ hưởng chung với các bạn đồng tu có lối sống đạo đức. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Lại nữa, này các tỳ kheo, đối với những giới luật không bị phá vỡ, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vấy bẩn, mang tính tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám chấp, dẫn đến Định, tỳ kheo sống hòa đồng về giới luật đối với những giới luật như vậy cùng với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Lại nữa, này các tỳ kheo, đối với quan điểm (kiến / diṭṭhi) thuộc bậc thánh (thánh / ariya), có khả năng dẫn xuất ly, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ, tỳ kheo sống hòa đồng về quan điểm đối với quan điểm như vậy cùng với các bạn đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Đây là một điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

Này các tỳ kheo, đây là sáu điều tạo sự hòa hợp, tạo sự yêu mến, tạo sự tôn trọng, dẫn đến sự bao bọc, không tranh cãi, sự đoàn kết và đồng tâm.

7. Này các tỳ kheo sáu điều tạo sự hòa hợp này, thì đây là đỉnh cao, đây là sự bao trùm, đây là sự kết nối — là quan điểm thuộc bậc thánh, có khả năng dẫn xuất ly, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ. Này các tỳ kheo, giống như đỉnh mái nhà là đỉnh cao, là sự bao trùm, là sự kết nối của một ngôi nhà có mái chóp; cũng vậy, này các tỳ kheo, trong sáu điều tạo sự hòa hợp này, thì đây là đỉnh cao, đây là sự bao trùm, đây là sự kết nối — là quan điểm thuộc bậc thánh, có khả năng dẫn xuất ly, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ.

8. Và này các tỳ kheo, thế nào là quan điểm thuộc bậc thánh, có khả năng dẫn xuất ly, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, vị ấy suy xét như sau: ‘Liệu có sự ngăn cản (triền lụy / pariyuṭṭhāna) nào bên trong ta chưa được từ bỏ, mà tâm vì chi phối bởi sự ngăn cản đó không thể biết rõ (tuệ tri / pajānāti) và không thể thấy đúng sự thật không?’

Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bị chi phối bởi đắm nhiễm trong bản năng (dục ái / kāmarāga), tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bị chi phối bởi ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bị chi phối bởi bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bị chi phối bởi nghi ngờ (nghi / vicikicchā), tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bận tâm suy nghĩ về đời này, tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo bận tâm suy nghĩ về đời sau, tâm vị ấy bị chi phối. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo sinh ra cãi vã, sinh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm thọc nhau bằng lời nói, tâm vị ấy bị chi phối.

Vị ấy biết rõ như sau: ‘Không có sự ngăn cản nào bên trong ta chưa được từ bỏ, mà tâm vì chi phối bởi sự ngăn cản đó không thể biết rõ và không thể thấy đúng như thật. Tâm trí ta được định hướng tốt để giác ngộ các sự thật’. Đây là trí tuệ thứ nhất mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường (phàm phu / puthujjana).

9. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Khi ta thực hành, rèn luyện và làm cho sung mãn quan điểm này, liệu ta có đạt được sự tĩnh lặng (chỉ / samatha) nội tâm, đạt được sự lắng dịu (tịch tịnh / nibbuti) nội tâm không?’ Vị ấy biết rõ như sau: ‘Khi ta thực hành, rèn luyện và làm cho sung mãn quan điểm này, ta đạt được sự tĩnh lặng nội tâm, đạt được sự lắng dịu nội tâm’. Đây là trí tuệ thứ hai mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

10. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Với quan điểm mà ta đang có, liệu có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác bên ngoài [giáo pháp này] cũng có quan điểm như vậy không?’ Vị ấy biết rõ như sau: ‘Với quan điểm mà ta đang có, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác bên ngoài [giáo pháp này] có quan điểm như vậy’. Đây là trí tuệ thứ ba mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

MN 48. KINH KOSAMBIYA

(Kosambiya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.

Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.

Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo và bảo như sau:

– Này các Tỷ-kheo, hãy đi, và nhân danh Ta, bảo các Tỷ-kheo ấy như sau: “Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ các Tỷ-kheo ấy ở sau khi đến, liền thưa với các Tỷ-kheo ấy:

– Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả.

– Hiền giả, vâng.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:

– Này các Tỷ-kheo, có đúng sự thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sanh lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là tri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: “Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị hôn trầm thụy miên triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.

Vị ấy biết rõ như sau: “Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật”. Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chi, ta tự đạt được tịnh chi”. Vị này biết rõ như sau: “Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịch chỉ”. Ðó là trí thứ hai mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Tri kiến như ta đã thành tựu có thể có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy không?” Vị ấy hiểu rõ như sau: “Tri kiến như ta đã thành tựu không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy”. Ðó là tri thứ ba mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

11. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn (diṭṭhisampanno) có bản chất (pháp tánh/Dhammata) như thế nào, ta cũng có bản chất như thế ấy’. Và này các tỳ kheo, một người người đạt được quan điểm đúng đắn có bản chất như thế nào? Này các tỳ kheo, đây là bản chất của người người đạt được quan điểm đúng đắn: dù vị ấy có phạm phải một lỗi lầm nào đó mà sự thoát ra khỏi lỗi lầm đó đã quy định cách sửa chữa (paṭikamma/vutthāna - phương pháp phục hồi sau khi phạm lỗi ), vị ấy vẫn nhanh chóng bộc bạch, mở bày và làm sáng tỏ lỗi lầm đó trước Bậc Đạo Sư, hoặc trước những người trí, hoặc trước các bạn đồng tu; sau khi bộc bạch, mở bày và làm sáng tỏ, vị ấy bảo vệ (thu thúc / saṁvara) mình khỏi nó trong tương lai. Này các tỳ kheo, giống như một đứa trẻ nhỏ bé, yếu ớt, nằm ngửa, nếu tay hoặc chân chạm phải hòn than hồng, nó liền nhanh chóng rụt lại; cũng vậy, này các tỳ kheo, đây là bản chất của người người đạt được quan điểm đúng đắn: dù vị ấy có phạm phải một lỗi lầm nào đó mà sự thoát ra khỏi lỗi lầm đó được quy định, vị ấy liền nhanh chóng bộc bạch, mở bày và làm sáng tỏ lỗi lầm đó trước Bậc Đạo Sư, hoặc trước những người trí, hoặc trước các bạn đồng tu; sau khi bộc bạch, mở bày và làm sáng tỏ, vị ấy bảo vệ trong tương lai. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có bản chất như thế nào, ta cũng có bản chất như thế ấy’. Đây là trí tuệ thứ tư mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

12. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có bản chất như thế nào, ta cũng có bản chất như thế ấy’. Và này các tỳ kheo, một người người đạt được quan điểm đúng đắn có bản chất như thế nào? Này các tỳ kheo, đây là bản chất của người người đạt được quan điểm đúng đắn: dù vị ấy có nhiệt tình tham gia vào các công việc lớn nhỏ của các bạn đồng tu, vị ấy vẫn có sự khao khát mãnh liệt đối với việc học tập về giới luật cao thượng, học tập về tâm cao thượng, học tập về trí tuệ cao thượng. Này các tỳ kheo, giống như một con bò cái có con bê non, vừa gặm cỏ vừa để mắt đến con bê; cũng vậy, này các tỳ kheo, đây là bản chất của người người đạt được quan điểm đúng đắn: dù vị ấy có nhiệt tình tham gia vào các công việc lớn nhỏ của các bạn đồng tu, vị ấy vẫn có sự khao khát mãnh liệt đối với việc học tập về giới luật cao thượng, học tập về tâm cao thượng, học tập về trí tuệ cao thượng. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có bản chất như thế nào, ta cũng có bản chất như thế ấy’. Đây là trí tuệ thứ năm mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

13. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào, ta cũng có sức mạnh như thế ấy’. Và này các tỳ kheo, một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào? Này các tỳ kheo, đây là sức mạnh của người người đạt được quan điểm đúng đắn: khi Giáo pháp và kỷ luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị ấy lắng nghe Giáo pháp với sự chú tâm sâu sắc, suy nghĩ (tác ý / manasikāra), dồn toàn bộ tâm trí và vểnh tai lên nghe. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào, ta cũng có sức mạnh như thế ấy’. Đây là trí tuệ thứ sáu mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

14. Lại nữa, này các tỳ kheo, đệ tử bậc thánh suy xét như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào, ta cũng có sức mạnh như thế ấy’. Và này các tỳ kheo, một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào? Này các tỳ kheo, đây là sức mạnh của người người đạt được quan điểm đúng đắn: khi Giáo pháp và kỷ luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị ấy đạt được niềm vui trong ý nghĩa, đạt được niềm vui trong Giáo pháp, đạt được sự hân hoan liên hệ đến Giáo pháp. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Một người người đạt được quan điểm đúng đắn có sức mạnh như thế nào, ta cũng có sức mạnh như thế ấy’. Đây là trí tuệ thứ bảy mà vị ấy đạt được, thuộc bậc thánh, vượt ra ngoài thế gian, không chung đụng với người thường.

15. Này các tỳ kheo, khi đệ tử bậc thánh hội đủ bảy yếu tố này, bản chất của vị ấy được xác lập vững chắc để trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikiriyāya) quả Dự lưu (quả Tu-đà-hoàn / sotāpattiphala). Này các tỳ kheo, khi đệ tử bậc thánh hội đủ bảy yếu tố này, vị ấy đã đạt được quả Dự lưu".

Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Những Người Kosambi kết thúc, là bài kinh thứ tám.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Pháp tánh (Dhammata) mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vị phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vị phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Vị ấy biết rõ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ tư mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Này các Tỷ-kheo, ví như con bò có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Vị này biết rõ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí

thứ năm mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, sau khi chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, vị này lóng tai nghe Pháp. Vị này biết rõ như sau : “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu sức mạnh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ sáu mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không có thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ (atthaveda), Pháp tín thọ (Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng với pháp; vị này hiểu rõ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu sức mạnh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ bảy mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-