Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 39. KINH DÀI XÓM NGỰA (Assapura)

(Mahāassapurasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Aṅga, tại một thị trấn của dân chúng Aṅga tên là Assapura (Xóm Ngựa). Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

2. "Này các tỳ kheo, người đời nhận biết các vị là ‘người tu hành’ (sa-môn / samaṇā). Và khi được hỏi: ‘Các vị là ai?’, các vị tự nhận: ‘Chúng tôi là người tu hành’.

Này các tỳ kheo, với danh xưng như vậy và với sự tự nhận như vậy, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Những Điều (pháp / dhammā) nào làm nên người tu hành và làm nên bà-la-môn (brāhmaṇakaraṇā), chúng ta sẽ tiếp nhận và thực hành những Điều ấy, như vậy danh xưng này của chúng ta mới là chân thật và sự tự nhận này mới là đúng đắn. Và chúng ta thụ hưởng y phục, thức ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men chữa bệnh từ những người nào, thì những việc làm của họ đối với chúng ta sẽ mang lại kết quả lớn, mang lại lợi ích lớn; và sự xuất gia này của chúng ta sẽ không vô ích, sẽ có kết quả, sẽ có sự phát triển’. Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện như vậy.

MN 39. ÐẠI KINH XÓM NGỰA

(Mahà-Assapura Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.

3. Này các tỳ kheo, những Điều nào làm nên người tu hành và làm nên bà-la-môn? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác] (tàm quý / hirottappena)’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

4. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Hành vi của thân (thân hành / kāyasamācāro) của chúng ta sẽ hoàn toàn trong sạch, cởi mở, minh bạch, không tì vết và được bảo vệ. Và vì hành vi của thân hoàn toàn trong sạch đó, chúng ta sẽ không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

5. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Hành vi của lời nói (khẩu hành / vacīsamācāro) của chúng ta sẽ hoàn toàn trong sạch, cởi mở, minh bạch, không tì vết và được bảo vệ. Và vì hành vi của lời nói hoàn toàn trong sạch đó, chúng ta sẽ không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

Bản Pali được cung cấp ghi số 5 cho cả phần về lời nói, tâm trí và nghề nghiệp rồi chuyển sang số 8

[6.] Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Ý nghĩ (ý hành / manosamācāro) của chúng ta sẽ hoàn toàn trong sạch, cởi mở, minh bạch, không tì vết và được bảo vệ. Và vì Ý nghĩ hoàn toàn trong sạch đó, chúng ta sẽ không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

[7.] Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Nghề nghiệp kiếm sống (mạng / ājīvo) của chúng ta sẽ hoàn toàn trong sạch, cởi mở, minh bạch, không tì vết và được bảo vệ. Và vì nghề nghiệp kiếm sống hoàn toàn trong sạch đó, chúng ta sẽ không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch, nghề nghiệp kiếm sống đã hoàn toàn trong sạch; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

(Giới hạnh)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các Ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Thân hành chúng ta phải được thanh tinh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và ý hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

8. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / indriyesu guttadvārā); khi thấy hình ảnh (sắc / rūpa) bằng giác quan mắt (nhãn căn / cakkhu), không nắm giữ hình dáng (tướng / nimitta), không nắm giữ chi tiết. Nếu giác quan mắt này không được bảo vệ, lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) cùng những điều (pháp / dhammā) ác, những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) sẽ chảy tràn vào, do đó chúng ta sẽ thực hành để bảo vệ nó, chúng ta sẽ canh giữ giác quan mắt, chúng ta sẽ thiết lập sự bảo vệ đối với giác quan mắt. Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] khi ngửi mùi bằng mũi […lặp lại…] khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…] khi chạm vào vật xúc chạm bằng thân […lặp lại…] khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não (ý căn / manindriya), không nắm giữ hình dáng, không nắm giữ chi tiết. Nếu giác quan trí não này không được bảo vệ, lòng tham và ưu phiền cùng những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy tràn vào, do đó chúng ta sẽ thực hành để bảo vệ nó, chúng ta sẽ canh giữ giác quan trí não, chúng ta sẽ thiết lập sự bảo vệ đối với giác quan trí não’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch, nghề nghiệp kiếm sống đã hoàn toàn trong sạch, chúng ta đã bảo vệ các giác quan; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

(Hộ trì các căn)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

9. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ biết chừng mực trong ăn uống, thận trọng suy xét (paṭisaṅkhā yoniso) khi tiếp nhận thức ăn, không phải để vui đùa, không phải để say sưa, không phải để làm đẹp, không phải để trang sức, mà chỉ để duy trì và nuôi dưỡng thân này, để tránh sự tổn hại, để hỗ trợ cốt lõi đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya), nghĩ rằng: “Bằng cách này ta sẽ diệt trừ cảm giác (thọ / vedanaṁ) cũ và không tạo ra cảm giác mới, ta sẽ duy trì mạng sống, không có lỗi lầm và sống thoải mái”’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch, nghề nghiệp kiếm sống đã hoàn toàn trong sạch, chúng ta đã bảo vệ các giác quan, chúng ta đã biết chừng mực trong ăn uống; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

(Tiết chế ăn uống)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến

cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

10. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ rèn luyện sự tỉnh thức, vào ban ngày khi đi kinh hành và khi ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi những điều làm mờ yếu tâm trí (chướng ngại pháp / āvaraṇīyehi dhammehi). Vào canh đầu của đêm khi đi kinh hành và khi ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi những điều làm mờ yếu tâm trí. Vào canh giữa của đêm, chúng ta sẽ nằm nghiêng bên phải theo tư thế con sư tử, đặt chân này lên chân kia, tập trung chú ý (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), giữ trong tâm ý nghĩ thức dậy. Vào canh cuối của đêm sau khi thức dậy, khi đi kinh hành và khi ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi những điều làm mờ yếu tâm trí’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch, nghề nghiệp kiếm sống đã hoàn toàn trong sạch, chúng ta đã bảo vệ các giác quan, chúng ta đã biết chừng mực trong ăn uống, chúng ta đã rèn luyện sự tỉnh thức; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

(Chú tâm cảnh giác)

Này các Tỷ-kheo, thế nào la các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

11. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Này các tỳ kheo, các vị cần phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ trang bị sự chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / satisampajaññena); khi bước tới bước lui đều nhận biết rõ ràng, khi nhìn thẳng nhìn quanh đều nhận biết rõ ràng, khi co tay duỗi tay đều nhận biết rõ ràng, khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y phục đều nhận biết rõ ràng, khi ăn uống nhai nếm đều nhận biết rõ ràng, khi đại tiện tiểu tiện đều nhận biết rõ ràng, khi đi đứng ngồi ngủ thức nói im lặng đều nhận biết rõ ràng’. Này các tỳ kheo, có thể các vị sẽ nghĩ thế này: ‘Chúng ta đã trang bị sự hổ thẹn và sợ hãi [điều ác], hành vi của thân của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, hành vi của lời nói đã hoàn toàn trong sạch, Ý nghĩ đã hoàn toàn trong sạch, nghề nghiệp kiếm sống đã hoàn toàn trong sạch, chúng ta đã bảo vệ các giác quan, chúng ta đã biết chừng mực trong ăn uống, chúng ta đã rèn luyện sự tỉnh thức, chúng ta đã trang bị sự chú tâm và nhận biết rõ ràng; chỉ chừng này là đủ, chỉ chừng này là xong, mục đích của người tu hành đã đạt được, chúng ta không còn việc gì phải làm thêm nữa’, và các vị có thể rơi vào sự tự mãn chỉ với chừng đó. Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố cho các vị, Ta thông báo cho các vị: ‘Đừng để mục đích của người tu hành bị suy giảm đối với các vị là những người đang tìm kiếm mục đích của người tu hành, khi vẫn còn việc phải làm thêm’.

(Chánh niệm tỉnh giác)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

12. Này các tỳ kheo, việc gì phải làm thêm? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo tìm đến một chỗ ở rời bỏ (viễn ly / vivittaṁ) — khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm.

13. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, vị ấy ngồi xếp bằng, giữ lưng thẳng, thiết lập sự tập trung chú ý ở phía trước. Vị ấy từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham; từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpādapadosaṁ), sống với tâm không có ác ý, có lòng thương xót vì lợi ích của mọi sinh vật và loài vật, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại; từ bỏ sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddhaṁ), sống thoát khỏi sự uể oải, buồn ngủ, nhận biết ánh sáng, tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi sự uể oải, buồn ngủ; từ bỏ sự bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkuccaṁ), sống không bồn chồn, tâm tĩnh lặng bên trong, gột rửa tâm khỏi sự bồn chồn, hối hận; từ bỏ sự nghi ngờ (nghi / vicikicchaṁ), sống vượt qua sự nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi sự nghi ngờ.

14. Này các tỳ kheo, giống như một người vay nợ để đầu tư kinh doanh. Công việc kinh doanh của người ấy thành công. Người ấy trả sạch các khoản nợ cũ, và còn dư tiền để nuôi dưỡng vợ con. Người ấy nghĩ thế này: ‘Trước đây ta vay nợ để đầu tư kinh doanh, công việc kinh doanh của ta đã thành công. Ta đã trả sạch các khoản nợ cũ, và còn dư tiền để nuôi dưỡng vợ con’. Nhờ vậy, người ấy có được sự vui vẻ, đạt được sự thanh thản (hỷ / somanassaṁ).

Này các tỳ kheo, giống như một người bị bệnh, đau đớn, ốm nặng, không ăn uống được và cơ thể không có chút sức lực nào. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống ngon miệng và cơ thể có sức lực trở lại. Người ấy nghĩ thế này: ‘Trước đây ta bị bệnh, đau đớn, ốm nặng, không ăn uống được và cơ thể không có chút sức lực nào, nhưng nay ta đã khỏi bệnh, ăn uống ngon miệng và cơ thể có sức lực trở lại’. Nhờ vậy, người ấy có được sự vui vẻ, đạt được sự thanh thản.

Này các tỳ kheo, giống như một người bị giam trong nhà tù. Sau một thời gian, người ấy được giải thoát khỏi nhà tù đó, an toàn, không sợ hãi và tài sản không bị mất mát gì. Người ấy nghĩ thế này: ‘Trước đây ta bị giam trong nhà tù, nhưng nay ta đã được giải thoát khỏi nhà tù đó, an toàn, không sợ hãi và tài sản không bị mất mát gì’. Nhờ vậy, người ấy có được sự vui vẻ, đạt được sự thanh thản.

Này các tỳ kheo, giống như một người là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đâu tùy ý. Sau một thời gian, người ấy được giải thoát khỏi cảnh nô lệ đó, tự chủ, không phụ thuộc người khác, là người tự do, có thể đi đâu tùy ý. Người ấy nghĩ thế này: ‘Trước đây ta là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đâu tùy ý, nhưng nay ta đã được giải thoát khỏi cảnh nô lệ đó, tự chủ, không phụ thuộc người khác, là người tự do, có thể đi đâu tùy ý’. Nhờ vậy, người ấy có được sự vui vẻ, đạt được sự thanh thản.

Này các tỳ kheo, giống như một người có tiền bạc, có tài sản, đi qua một con đường sa mạc. Sau một thời gian, người ấy vượt qua sa mạc đó, an toàn, không sợ hãi và tài sản không bị mất mát gì. Người ấy nghĩ thế này: ‘Trước đây ta có tiền bạc, có tài sản, đi qua một con đường sa mạc. Nhưng nay ta đã vượt qua sa mạc đó, an toàn, không sợ hãi và tài sản không bị mất mát gì’. Nhờ vậy, người ấy có được sự vui vẻ, đạt được sự thanh thản.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo thấy năm điều làm mờ yếu tâm trí (triền cái / nīvaraṇe) này chưa được từ bỏ trong chính mình giống như món nợ, giống như căn bệnh, giống như nhà tù, giống như cảnh nô lệ, giống như con đường sa mạc. Này các tỳ kheo, giống như sự không mắc nợ, giống như sự khỏe mạnh, giống như sự thoát khỏi nhà tù, giống như sự tự do, giống như vùng đất an toàn; cũng vậy, tỳ kheo thấy năm điều làm mờ yếu tâm trí này đã được từ bỏ trong chính mình.

(Ðoạn trừ các triền cái)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Này các Tỷ-kheo, như một người mắc nợ liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được những nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. "Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.

Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác , không được tự do đi lại. Nay ta thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Người ấy sau một thời gian đã đi khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ.

15. Vị ấy từ bỏ năm điều làm mờ yếu tâm trí này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện, đi vào và an trú trong Thiền-na (thiền / jhānaṁ) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ. Vị ấy làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Này các tỳ kheo, giống như một người thợ tắm hoặc người học việc khéo léo, rắc bột tắm vào một thau đồng, rồi rưới nước vào, nhào nặn; cục bột tắm ấy thấm đẫm độ ẩm, ngậm đầy độ ẩm từ trong ra ngoài, lan tỏa độ ẩm nhưng không nhỏ giọt.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ.

16. Lại nữa, này các tỳ kheo, khi chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý được lắng dịu (diệt / vūpasamā), tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đi vào và an trú trong Thiền-na thứ hai, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định. Vị ấy làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định. Này các tỳ kheo, giống như một hồ nước có mạch nước ngầm phun lên. Hồ nước ấy không có dòng nước chảy vào từ hướng đông, không có dòng nước chảy vào từ hướng tây, không có dòng nước chảy vào từ hướng bắc, không có dòng nước chảy vào từ hướng nam, và trời cũng không thỉnh thoảng đổ mưa lớn. Nhưng một dòng nước mát lạnh phun lên từ chính hồ nước ấy, làm cho hồ nước ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với nước mát lạnh, không có phần nào của toàn bộ hồ nước không được lan tỏa bởi nước mát lạnh.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định.

17. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, tỳ kheo sống với Tâm quân bình (xả / upekkhako), tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, cảm nhận hạnh phúc bằng thân, đạt đến trạng thái mà các bậc thánh (ariyo) gọi là: ‘Người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’, đi vào và an trú trong Thiền-na thứ ba. Vị ấy làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hạnh phúc không có hân hoan, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hạnh phúc không có hân hoan. Này các tỳ kheo, giống như trong một hồ hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng; có một số hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước. Từ ngọn đến rễ của chúng đều ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với nước mát lạnh, không có phần nào của toàn bộ những hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng ấy không được lan tỏa bởi nước mát lạnh.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo làm cho thân này ướt đẫm, thấm đẫm, tràn đầy, lan tỏa với hạnh phúc không có hân hoan, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi hạnh phúc không có hân hoan.

18. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự từ bỏ hạnh phúc và từ bỏ đau khổ (khổ / dukkhassa), cùng với sự biến mất (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản và ưu phiền từ trước, tỳ kheo đi vào và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), có sự thanh tịnh của tập trung chú ý nhờ Tâm quân bình. Vị ấy ngồi lan tỏa thân này với một tâm trong sạch và sáng rỡ, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi tâm trong sạch và sáng rỡ. Này các tỳ kheo, giống như một người ngồi trùm kín cả đầu bằng một tấm vải trắng, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được che phủ bởi tấm vải trắng.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo ngồi lan tỏa thân này với một tâm trong sạch và sáng rỡ, không có phần nào của toàn bộ cơ thể không được lan tỏa bởi tâm trong sạch và sáng rỡ.

(Bốn tầng thiền-na)

Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

19. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, sáng rỡ, không tì vết, thoát khỏi những nhiễm bẩn (phiền não / upakkilese), trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là — một đời, hai đời […lặp lại…] như vậy vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Này các tỳ kheo, giống như một người đi từ làng của mình đến một ngôi làng khác, rồi từ ngôi làng đó đi đến một ngôi làng khác nữa, và từ ngôi làng đó người ấy trở về lại làng của mình. Người ấy nghĩ thế này: ‘Ta đã đi từ làng của mình đến ngôi làng kia, ở đó ta đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; rồi từ ngôi làng đó ta đi đến ngôi làng nọ, ở đó ta cũng đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; và từ ngôi làng đó ta đã trở về lại làng của mình’.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là — một đời, hai đời […lặp lại…] như vậy vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết.

20. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, sáng rỡ, không tì vết, thoát khỏi những nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự chết và sự Tái sinh (sinh / upapāta) của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) trong sạch, vượt xa khả năng của con người, vị ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và đang Tái sinh, thấp kém hay cao trọng, xinh đẹp hay xấu xí, hạnh phúc hay đau khổ, vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo hành động của họ […lặp lại…] Này các tỳ kheo, giống như có hai ngôi nhà có cửa. Ở đó, một người có mắt sáng đứng ở giữa có thể nhìn thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi tới đi lui và đi dạo quanh.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo với mắt thần trong sạch, vượt xa khả năng của con người, nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và đang Tái sinh, thấp kém hay cao trọng, xinh đẹp hay xấu xí, hạnh phúc hay đau khổ, vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo hành động của họ […lặp lại…].

21. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, sáng rỡ, không tì vết, thoát khỏi những nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Vị ấy thấy rõ như thật: ‘Đây là đau khổ’; thấy rõ như thật: ‘Đây là sự hình thành (sinh / samudayo) của đau khổ’; thấy rõ như thật: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodho) đau khổ’; thấy rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’. Vị ấy thấy rõ như thật: ‘Đây là các nguồn ác’; thấy rõ như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’; thấy rõ như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’; thấy rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavāpi), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavāpi), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavāpi). Khi đã được giải thoát, có sự hiểu biết rằng: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy thấy rõ: ‘Sự Tái sinh đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’.

Này các tỳ kheo, giống như một hồ nước trên khe núi, trong vắt, tĩnh lặng, không vẩn đục. Ở đó, một người có mắt sáng đứng trên bờ có thể nhìn thấy những con hến, ốc, sỏi, đá và những đàn cá đang bơi lội hay đang dừng lại. Người ấy nghĩ thế này: ‘Hồ nước này trong vắt, tĩnh lặng, không vẩn đục. Ở dưới đó có những con hến, ốc, sỏi, đá và những đàn cá đang bơi lội hay đang dừng lại’.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo thấy rõ như thật: ‘Đây là đau khổ’ […lặp lại…] vị ấy thấy rõ: ‘không còn trở lại trạng thái này nữa’.

(Ba Minh)

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mực như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến, Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Tỷ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm, đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của Khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự đoạn trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.

Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: "Ðây là khổ… biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!” Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.

22. Này các tỳ kheo, tỳ kheo này được gọi là ‘người tu hành’, cũng được gọi là ‘bà-la-môn’, cũng được gọi là ‘người đã gột rửa’ (nhātako), cũng được gọi là ‘người thấu hiểu’ (vedagū), cũng được gọi là ‘người thấu nghe’ (sottiyo), cũng được gọi là ‘bậc thánh’, cũng được gọi là ‘bậc xứng đáng’ (a-la-hán / arahaṁ).

23. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành người tu hành? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã được làm lắng dịu (samitā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành người tu hành.

24. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành bà-la-môn? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã bị loại bỏ (bāhitā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành bà-la-môn.

25. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành người đã gột rửa? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã được gột sạch (nhātā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành người đã gột rửa.

26. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành người thấu hiểu? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã được biết rõ (viditā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành người thấu hiểu.

27. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành người thấu nghe? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã chảy trôi đi (nissutā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành người thấu nghe.

28. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành bậc thánh? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã bị cách xa (ārakā). Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành bậc thánh.

29. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo trở thành bậc xứng đáng? Những điều ác, những điều không thiện gây ra sự ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang lại sợ hãi, có kết quả đau khổ, dẫn đến sự Tái sinh, già và chết trong tương lai đã bị cách xa. Như vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo trở thành bậc xứng đáng."

Thế Tôn đã nói những điều này. Các tỳ kheo ấy vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Đại Xóm Ngựa, bài kinh thứ chín.

(Bậc A-la-hán)

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.

Này các Tỷ-kheo, như thế nào, Tỷ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Sa-môn.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Bà-la-môn.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các

pháp bất thiện,những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã biết rõ.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có học.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo là bậc A-la-hán.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-