Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 38. KINH DÀI CẠN KIỆT MONG MUỐN

(Mahātaṇhāsaṅkhayasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại tu viện Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

2. Lúc bấy giờ, một tỳ kheo tên là Sāti, con của một người đánh cá, khởi lên một quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhigata) ác hại như sau: “Tôi hiểu Giáo pháp (pháp / dhamma) do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ (thức / viññāṇa) này lang thang và trôi lăn (luân chuyển / sandhāvati saṁsarati), không phải cái khác.”

3. Nhiều tỳ kheo nghe được: “Tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, nghe nói đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: ‘Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’.” Rồi các tỳ kheo ấy đi đến chỗ tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá; sau khi đến, họ nói với tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá điều này: “Này hiền giả Sāti, có đúng là hiền giả đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: ‘Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’ không?”

“Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác.”

Rồi các tỳ kheo ấy muốn tách tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ra khỏi quan điểm sai ác hại đó, liền tra vấn, gạn hỏi và quở trách: “Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, Thế Tôn đã nhiều lần nói rằng ‘Cái Biết’ là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), ngoài Điều kiện (duyên / paccaya) ra thì không có sự sinh ra của ‘Cái Biết’.”

Dù bị các tỳ kheo tra vấn, gạn hỏi và quở trách như vậy, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai ác hại đó và tuyên bố: “Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác.”

4. Vì các tỳ kheo ấy không thể tách tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ra khỏi quan điểm sai ác hại đó, nên họ đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ kheo ấy bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: ‘Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe rằng tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: ‘Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’.

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá; sau khi đến, chúng con nói với tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá điều này: ‘Này hiền giả Sāti, có đúng là hiền giả đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: “Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác” không?’.

Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá trả lời chúng con: ‘Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con muốn tách tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ra khỏi quan điểm sai ác hại đó, liền tra vấn, gạn hỏi và quở trách: ‘Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, Thế Tôn đã nhiều lần nói rằng ‘Cái Biết’ là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, không có Điều kiện thì không có sự sinh ra của ‘Cái Biết’’.

Dù bị chúng con tra vấn, gạn hỏi và quở trách như vậy, bạch Thế Tôn, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai ác hại đó và tuyên bố: ‘Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể tách tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ra khỏi quan điểm sai ác hại đó, nên chúng con đến báo cáo sự việc này cho Thế Tôn."

MN 38. ÐẠI KINH ÐOẠN TẬN ÁI

(Mahàtanhàsankhaya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau:

– Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

– Thật sự là vậy, chư Hiền, theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

– Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.

– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.

Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác””. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

“-- Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”.

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:

"-- Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

"-- Hiền giả Sati chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.

"Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy:

“-- Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này."

5. Rồi Thế Tôn gọi một tỳ kheo: “Này tỳ kheo, hẫy đi nhân danh Ta gọi tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá: ‘Này hiền giả Sāti, Đạo sư gọi hiền giả’.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến chỗ tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá; sau khi đến, nói với tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá: “Này hiền giả Sāti, Đạo sư gọi hiền giả.”

“Thưa vâng, hiền giả”, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá vâng đáp tỳ kheo ấy rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá đã ngồi một bên, Thế Tôn nói điều này: “Này Sāti, có đúng là ông đã khởi lên một quan điểm sai ác hại như sau: ‘Tôi hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác’ không?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy, con hiểu Giáo pháp do Thế Tôn giảng dạy như sau: chính ‘Cái Biết’ này lang thang và trôi lăn, không phải cái khác.”

“Này Sāti, ‘Cái Biết’ đó là gì?”

“Bạch Thế Tôn, đó là cái nói năng, cái cảm nhận, cái trải nghiệm quả báo của các hành động thiện và ác ở chỗ này chỗ kia.”

“Này kẻ rỗng tuếch (moghapurisa), ông nghe Ta giảng Giáo pháp như vậy cho ai? Này kẻ rỗng tuếch, Ta đã chẳng nhiều lần nói rằng ‘Cái Biết’ là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự sinh ra của ‘Cái Biết’ sao? Thế mà này kẻ rỗng tuếch, với sự nắm giữ sai lầm của mình, ông không những xuyên tạc Ta, mà còn tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước. Này kẻ rỗng tuếch, điều đó sẽ đem lại cho ông sự bất lợi và đau khổ (khổ / dukkha) lâu dài.”

6. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá này có còn chút hơi ấm nào trong Giáo pháp và Luật này không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao có được? Thưa không, bạch Thế Tôn.” Khi được nói như vậy, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào.

Rồi Thế Tôn thấy tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào, liền nói với tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá: “Này kẻ rỗng tuếch, ông sẽ bị nhận diện bởi chính quan điểm sai ác hại này của ông. Ở đây Ta sẽ hỏi các tỳ kheo.”

7. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông có hiểu Giáo pháp Ta giảng giống như tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá này, với sự nắm giữ sai lầm của mình, không những xuyên tạc Ta, mà còn tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nhiều lần nói với chúng con rằng ‘Cái Biết’ là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự sinh ra của ‘Cái Biết’.”

"Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ kheo. Tốt lắm, này các tỳ kheo, các ông đã hiểu Giáo pháp do Ta giảng dạy như vậy. Này các tỳ kheo, Ta đã nhiều lần nói với các ông rằng ‘Cái Biết’ là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự sinh ra của ‘Cái Biết’. Thế mà tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá này, với sự nắm giữ sai lầm của mình, không những xuyên tạc Ta, mà còn tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước. Điều đó sẽ đem lại cho kẻ rỗng tuếch ấy sự bất lợi và đau khổ lâu dài.

Rồi Thế Tôn cho gọi là một Tỷ-kheo khác:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: “Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

– Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đang ngồi xuống một bên:

– Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”?

– Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

– Này Sati, thế nào là thức ấy.

– Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói, cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.

– Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp, Luật này không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá.

– Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức?

– Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.

– Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, còn tự pháp hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.

8. Này các tỳ kheo, Phụ thuộc vào Điều kiện nào mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính Điều kiện đó. Phụ thuộc vào mắt và hình ảnh (sắc / rūpa) mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở mắt; Phụ thuộc vào tai và âm thanh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở tai; Phụ thuộc vào mũi và mùi mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở mũi; Phụ thuộc vào lưỡi và vị mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở lưỡi; Phụ thuộc vào thân và vật xúc chạm mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở thân; Phụ thuộc vào trí não (ý / mano) và mọi Điều (pháp / dhamma) mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở trí não.

Này các tỳ kheo, giống như ngọn lửa cháy Phụ thuộc vào Điều kiện nào, thì nó được gọi tên theo chính Điều kiện đó. Lửa cháy Phụ thuộc vào củi, thì gọi là lửa củi; lửa cháy Phụ thuộc vào dăm bào, thì gọi là lửa dăm bào; lửa cháy Phụ thuộc vào cỏ, thì gọi là lửa cỏ; lửa cháy Phụ thuộc vào phân bò, thì gọi là lửa phân bò; lửa cháy Phụ thuộc vào trấu, thì gọi là lửa trấu; lửa cháy Phụ thuộc vào rác, thì gọi là lửa rác.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, Phụ thuộc vào Điều kiện nào mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính Điều kiện đó. Phụ thuộc vào mắt và hình ảnh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở mắt; Phụ thuộc vào tai và âm thanh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở tai; Phụ thuộc vào mũi và mùi mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở mũi; Phụ thuộc vào lưỡi và vị mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở lưỡi; Phụ thuộc vào thân và vật xúc chạm mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở thân; Phụ thuộc vào trí não và mọi Điều mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở trí não.

(Duyên sanh Thức)

Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

9. Này các tỳ kheo, các ông có [bao giờ] thấy ‘Một cái gì đó hình thành’ không?"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, các ông có thấy ‘cái gì đó hình thành [nhờ vào] thức ăn (thực / āhāra) nào đó’ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, các ông có thấy ‘Khi thức ăn đó bị chặn (diệt / nirodhā) thì cái gì đó đã hình thành [nhờ thức ăn ấy], cái ấy sẽ có tính chất bị chặn đứng (diệt pháp / nirodhadhamma)’ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

10. “Này các tỳ kheo, đối với người nghi ngờ ‘Không biết có phải một cái gì đó hình thành hay không’, thì sự nghi ngờ có khởi lên không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, đối với người nghi ngờ ‘Không biết có phải cái gì đó hình thành [nhờ vào] thức ăn nào đó hay không’, thì sự nghi ngờ có khởi lên không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, đối với người nghi ngờ ‘Không biết khi thức ăn đó bị chặn thì cái gì đó đã hình thành [nhờ thức ăn ấy], cái ấy có tính chất bị chặn đứng hay không’, thì sự nghi ngờ có khởi lên không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

11. “Này các tỳ kheo, đối với người quan sát như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng ‘Một cái gì đó hình thành’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, đối với người quan sát như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng ‘cái gì đó hình thành [nhờ vào] thức ăn nào đó’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, đối với người quan sát như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng ‘Khi thức ăn đó bị chặn thì cái gì đó đã hình thành [nhờ thức ăn ấy], cái ấy sẽ có tính chất bị chặn đứng’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

12. “Này các tỳ kheo, các ông có hết nghi ngờ về điều này: ‘Một cái gì đó hình thành’ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, các ông có hết nghi ngờ về điều này: ‘cái gì đó hình thành [nhờ vào] thức ăn nào đó’ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, các ông có hết nghi ngờ về điều này: ‘Khi thức ăn đó bị chặn thì cái gì đó đã hình thành [nhờ thức ăn ấy], cái ấy sẽ có tính chất bị chặn đứng’ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

13. “Này các tỳ kheo, điều này: ‘Một cái gì đó hình thành’, có được các ông quan sát khéo léo như thật bằng trí tuệ đúng đắn không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, điều này: ‘cái gì đó hình thành [nhờ vào] thức ăn nào đó’, có được các ông quan sát khéo léo như thật bằng trí tuệ đúng đắn không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, điều này: ‘Khi thức ăn đó bị chặn thì cái gì đó đã hình thành [nhờ thức ăn ấy], cái ấy sẽ có tính chất bị chặn đứng’, có được các ông quan sát khéo léo như thật bằng trí tuệ đúng đắn không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

14. “Này các tỳ kheo, nếu các ông bám víu, trân trọng, cất giữ và xem là của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu đúng về Giáo pháp Ta giảng giống như chiếc bè, dùng để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, nếu các ông không bám víu, không trân trọng, không cất giữ và không xem là của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu đúng về Giáo pháp Ta giảng giống như chiếc bè, dùng để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

(Các câu hỏi về sanh vật)

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?

– Bạch Thế Tôn có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sanh vật này có thể không có mặt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh vật này có thể không có mặt.

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự tác thành của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy, nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành,… này, có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hãnh diện, truy cầu, xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, không.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hãnh diện, không truy cầu, không xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, có.

15. "Này các tỳ kheo, có bốn loại thức ăn này để duy trì các chúng sinh đã sinh ra hoặc để hỗ trợ cho những chúng sinh đang tìm chỗ sinh ra. Bốn loại nào? Thứ nhất là thức ăn vật lý (đoạn thực / kabaḷīkāro āhāro) thô hay tế, thứ hai là Xúc (phassa), thứ ba là ý chí của trí não (tư niệm thực / manosañcetanā), thứ tư là ‘Cái Biết’.

16. Này các tỳ kheo, bốn loại thức ăn này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành (tập / samudaya), lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn loại thức ăn này lấy mong muốn (tham ái / taṇhā) làm gốc, lấy mong muốn làm sự hình thành, lấy mong muốn làm nơi sinh ra, lấy mong muốn làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, mong muốn này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Mong muốn lấy cảm giác (thọ / vedanā) làm gốc, lấy cảm giác làm sự hình thành, lấy cảm giác làm nơi sinh ra, lấy cảm giác làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, cảm giác này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Cảm giác lấy Xúc làm gốc, lấy Xúc làm sự hình thành, lấy Xúc làm nơi sinh ra, lấy Xúc làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, Xúc này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Xúc lấy sáu Trường giao tiếp (lục nhập / saḷāyatana) làm gốc, lấy sáu Trường giao tiếp làm sự hình thành, lấy sáu Trường giao tiếp làm nơi sinh ra, lấy sáu Trường giao tiếp làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, sáu Trường giao tiếp này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Sáu Trường giao tiếp lấy Danh-sắc (nāmarūpa) làm gốc, lấy Danh-sắc làm sự hình thành, lấy Danh-sắc làm nơi sinh ra, lấy Danh-sắc làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, Danh-sắc này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Danh-sắc lấy ‘Cái Biết’ làm gốc, lấy ‘Cái Biết’ làm sự hình thành, lấy ‘Cái Biết’ làm nơi sinh ra, lấy ‘Cái Biết’ làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, ‘Cái Biết’ này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? ‘Cái Biết’ lấy hoạt động (hành / saṅkhārā) làm gốc, lấy hoạt động làm sự hình thành, lấy hoạt động làm nơi sinh ra, lấy hoạt động làm nguồn gốc.

Này các tỳ kheo, các hoạt động này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Các hoạt động lấy không hiểu biết (vô minh / avijjā) làm gốc, lấy không hiểu biết làm sự hình thành, lấy không hiểu biết làm nơi sinh ra, lấy không hiểu biết làm nguồn gốc.

(Thức ăn và Duyên khởi)

– Này các Tỷ-kheo, có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô hoặc tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là thức thực.

Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn này, lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Bốn món ăn này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, ái này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm sanh chủng, lấy thọ làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thọ này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sanh chủng, lấy xúc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, xúc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Xúc lấy sáu nhập làm nhân duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi, lấy sáu nhập làm sanh chủng, lấy sáu nhập làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Sáu nhập lấy danh sắc làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sanh chủng, lấy danh sắc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, danh sắc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên, lấy thức là tập khởi, lấy thức làm sanh chủng, lấy thức làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thức này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm sanh chủng, lấy hành làm nguyên nhân. Này các Tỷ- kheo, các hành này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Các hành lấy vô minh làm sanh chủng, lấy vô minh làm nguyên nhân.

17. Như vậy, này các tỳ kheo, Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động; Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’; Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc; Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp; Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc; Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác; Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn; Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ (thủ / upādāna); Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại (hữu / bhava); Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh (sanh / jāti); Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết (lão tử / jarāmaraṇa), sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng hình thành. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ tập hợp (uẩn / khandha) đau khổ này.

(Duyên theo chiều thuận)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được hiện hữu. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

18. ‘Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết hay không, hay ở đây là thế nào?"

“Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết.”

“‘Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh.”

“‘Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại.”

“‘Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ.”

“‘Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn.”

“‘Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác.”

“‘Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc.”

“‘Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp.”

“‘Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc.”

“‘Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’ hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’.”

“‘Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động hay không, hay ở đây là thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động; ở đây đối với chúng con là như vậy: Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động.”

(Duyên theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Sanh duyên già, chết (Do duyên sanh nên già, chết hiện khởi). Này các Tỷ-kheo, sanh duyên già, chết có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sanh duyên già, chết. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sanh duyên già, chết.

– Trước đã nói: hữu duyên sanh. Này các Tỷ-kheo, hữu duyên sanh có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hữu duyên sanh. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hữu duyên sanh.

– Trước đã nói: Thủ duyên hữu. Này các Tỷ-kheo, thủ duyên hữu có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thủ duyên hữu. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thủ duyên hữu.

– Trước đã nói: Ái duyên thủ. Này các Tỷ-kheo, ái duyên thủ có phải không? Hay ở đây, (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, ái duyên thủ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Ái duyên thủ.

– Trước đã nói: Thọ duyên ái. Này các Tỷ-kheo, thọ duyên ái có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thọ duyên ái. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thọ duyên ái.

– Trước đã nói: Xúc duyên thọ. Này các Tỷ-kheo, xúc duyên thọ có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, xúc duyên thọ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Xúc duyên thọ.

– Trước đã nói: Sáu nhập duyên xúc. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập duyên xúc có phải không? Hay ở đây

(nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sáu nhập duyên xúc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sáu nhập duyên xúc.

– Trước đã nói: Danh sắc duyên sáu nhập. Này các Tỷ-kheo, danh sắc duyên sáu nhập có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, danh sắc duyên sáu nhập. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Danh sắc duyên sáu nhập.

– Trước đã nói: Thức duyên danh sắc. Này các Tỷ-kheo, thức duyên danh sắc có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thức duyên danh sắc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thức duyên danh sắc.

– Trước đã nói: Hành duyên thức: Này các Tỷ-kheo, hành duyên thức có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hành duyên thức. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hành duyên thức.

– Trước đã nói: Vô minh duyên hành. Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, vô minh duyên hành. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Vô minh duyên hành.

19. "Tốt lắm, này các tỳ kheo. Như vậy, này các tỳ kheo, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này có thì cái kia có, do cái này sinh ra thì cái kia sinh ra, đó là: Phụ thuộc vào không hiểu biết có các hoạt động; Phụ thuộc vào các hoạt động có ‘Cái Biết’; Phụ thuộc vào ‘Cái Biết’ có Danh-sắc; Phụ thuộc vào Danh-sắc có sáu Trường giao tiếp; Phụ thuộc vào sáu Trường giao tiếp có Xúc; Phụ thuộc vào Xúc có cảm giác; Phụ thuộc vào cảm giác có mong muốn; Phụ thuộc vào mong muốn có sự Bám giữ; Phụ thuộc vào sự Bám giữ có lực tồn tại; Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh; Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng hình thành. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

(Tóm lược về Duyên)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cùng sanh khởi. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

20. Nhưng do sự phai nhạt và bị chặn hoàn toàn của chính không hiểu biết, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh-sắc bị chặn; do Danh-sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, mong muốn bị chặn; do mong muốn bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn; do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng bị chặn đứng. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

(Diệt theo chiều thuận)

Do vô minh đoạn diệt, xả ly một cách hoàn toàn nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

21. ‘Do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do sự Tái sinh bị chặn thì già-chết bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?"

“Bạch Thế Tôn, do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn.”

“‘Do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do lực tồn tại bị chặn thì sự Tái sinh bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn.”

“‘Do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do sự Bám giữ bị chặn thì lực tồn tại bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn.”

“‘Do mong muốn bị chặn, sự Bám giữ bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do mong muốn bị chặn thì sự Bám giữ bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do mong muốn bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do mong muốn bị chặn, sự Bám giữ bị chặn.”

“‘Do cảm giác bị chặn, mong muốn bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do cảm giác bị chặn thì mong muốn bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do cảm giác bị chặn, mong muốn bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do cảm giác bị chặn, mong muốn bị chặn.”

“‘Do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do Xúc bị chặn thì cảm giác bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn.”

“‘Do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do sáu Trường giao tiếp bị chặn thì Xúc bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn.”

“‘Do Danh-sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do Danh-sắc bị chặn thì sáu Trường giao tiếp bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Danh-sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do Danh-sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn.”

“‘Do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh-sắc bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do ‘Cái Biết’ bị chặn thì Danh-sắc bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh-sắc bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh-sắc bị chặn.”

“‘Do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do các hoạt động bị chặn thì ‘Cái Biết’ bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn.”

“‘Do không hiểu biết bị chặn, các hoạt động bị chặn’, điều này đã được nói như vậy; này các tỳ kheo, có phải do không hiểu biết bị chặn thì các hoạt động bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, do không hiểu biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; ở đây đối với chúng con là như vậy: do không hiểu biết bị chặn, các hoạt động bị chặn.”

(Diệt theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Do sanh diệt nên già, chết diệt. Này các Tỷ-kheo, do sanh diệt nên già, chết diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sanh diệt nên già, chết diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do

sanh diệt nên già, chết diệt.

– Trước đã nói: Do hữu diệt nên sanh diệt. Này các Tỷ-kheo, do hữu diệt nên sanh diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên sanh diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hữu diệt nên sanh diệt.

– Trước đã nói: Do thủ diệt nên hữu diệt. Này các Tỷ-kheo, do thủ diệt nên hữu diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên hữu diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thủ diệt nên hữu diệt.

– Trước đã nói: Do ái diệt nên thủ diệt. Này các Tỷ-kheo, do ái diệt nên thủ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên thủ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do ái diệt nên thủ diệt.

– Trước đã nói: Do thọ diệt nên ái diệt. Này các Tỷ-kheo, do thọ diệt nên ái diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên ái diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do thọ diệt nên ái diệt.

– Trước đã nói: Do xúc diệt nên thọ diệt. Này các Tỷ-kheo, do xúc diệt nên thọ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên thọ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do xúc diệt nên thọ diệt.

– Trước đã nói: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Này các Tỷ-kheo, do sáu nhập diệt nên xúc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt.

– Trước đã nói: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Này các Tỷ-kheo, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt.

– Trước đã nói: Do thức diệt nên danh sắc diệt. Này các Tỷ-kheo, do thức diệt nên danh sắc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thức diệt nên danh sắc diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.

– Trước đã nói: Do hành diệt nên thức diệt. Này các Tỷ-kheo, do hành diệt nên thức diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hành diệt nên thức diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hành diệt nên thức diệt.

– Trước đã nói: Do vô minh diệt nên hành diệt. Này các Tỷ-kheo, do vô minh diệt nên hành diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt nên hành diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do vô minh diệt nên hành diệt.

22. "Tốt lắm, này các tỳ kheo. Như vậy, này các tỳ kheo, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này không có thì cái kia không có, do cái này bị chặn thì cái kia bị chặn đứng, đó là: do không hiểu biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh-sắc bị chặn; do Danh-sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, mong muốn bị chặn; do mong muốn bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn; do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng bị chặn đứng. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

(Tóm lược về Diệt)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”, như vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, sáu nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

23. Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy ngược về quá khứ và nghĩ rằng: ‘Trong quá khứ ta có tồn tại không, hay trong quá khứ ta không tồn tại, trong quá khứ ta là gì, trong quá khứ ta như thế nào, từ cái gì ta đã trở thành cái gì trong quá khứ’ không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy tới tương lai và nghĩ rằng: ‘Trong tương lai ta sẽ tồn tại không, hay trong tương lai ta sẽ không tồn tại, trong tương lai ta sẽ là gì, trong tương lai ta sẽ như thế nào, từ cái gì ta sẽ trở thành cái gì trong tương lai’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

24. “Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nghi ngờ về hiện tại ở bên trong và nghĩ rằng: ‘Ta có tồn tại không, hay ta không tồn tại, ta là gì, ta như thế nào, chúng sinh này từ đâu đến, nó sẽ đi về đâu’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Đạo sư là bậc chúng ta tôn kính, và vì tôn kính Đạo sư nên chúng ta nói như vậy’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Sa-môn đã nói như vậy, và vì là sa-môn nên chúng ta nói như vậy’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có tôn xưng một vị đạo sư nào khác không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, khi các ông biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay lại với những nghi thức, lễ bái, kiêng kỵ của các sa-môn và bà-la-môn khác và xem đó là cốt lõi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, có phải các ông chỉ nói những gì chính các ông đã tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

25. "Tốt lắm, này các tỳ kheo, các ông đã được Ta dẫn dắt bởi Giáo pháp này, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Giáo pháp này thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu—điều này đã được nói như vậy, chính là nói dựa vào điều này.

(Tri kiến về ngã)

Này các Tỷ-kheo, các Ông nên biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời quá khứ, và suy nghĩ: “Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời vị lai, và suy nghĩ: “Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nghi ngờ gì về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt. Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt, hình vóc như thế nào? Hữu tình này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Bậc Ðạo Sư được chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói vì chúng ta tôn trọng bậc Ðạo Sư”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Một Sa-môn nói với chúng tôi như vậy, các Sa-môn khác cũng nói như vậy, và còn chúng tôi không có nói như vậy”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có tìm một vị Ðạo Sư khác không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có trở lui lại các giới cấm, tế tự đàn tràng của các tục tử Sa-môn, Bà-la-môn (và nghĩ rằng) chúng là căn bản không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, có phải các Ông chỉ nói những gì các Ông tự biết, tự thấy, tự ý thức được?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỷ-kheo,! Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Tất cả những gì đã nói là do duyên này mà nói.

26. Này các tỳ kheo, do sự hội tụ của ba yếu tố mà có sự hình thành bào thai (nhập thai / gabbhassāvakkanti). Ở đây, cha mẹ có giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ thụ thai, và thực thể đi tái sinh (hương ấm / gandhabbo) không hiện diện, thì sự hình thành bào thai không xảy ra. Ở đây, cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, nhưng thực thể đi tái sinh không hiện diện, thì sự hình thành bào thai không xảy ra. Nhưng này các tỳ kheo, khi cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, và thực thể đi tái sinh có hiện diện—do sự hội tụ của ba yếu tố này mà sự hình thành bào thai xảy ra.

27. Này các tỳ kheo, người mẹ mang thai trong bụng chín hoặc mười tháng với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Này các tỳ kheo, sau chín hoặc mười tháng, người mẹ sinh con với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các tỳ kheo, trong Luật của bậc thánh, sữa mẹ chính là máu.

28. Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó chơi với những đồ chơi của trẻ con, như là: xe kéo nhỏ, chong chóng, nhào lộn, cối xay gió, đồ đong bằng lá, xe nhỏ, cung nhỏ.

29. Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó tận hưởng và đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa)—những hình ảnh nhận biết bằng mắt, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ;

những âm thanh nhận biết bằng tai…

những mùi nhận biết bằng mũi…

những vị nhận biết bằng lưỡi…

những vật xúc chạm nhận biết bằng thân, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ.

(Vòng luân hồi: từ sanh đến trưởng thành)

Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.

Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi (hài nhi ấy) với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau khi lớn lên, sau khi các căn đã thuần thục, chơi với những trò chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục.

30. Khi thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy đắm nhiễm vào hình ảnh dễ chịu, ghét bỏ hình ảnh khó chịu, sống không thiết lập tập trung chú ý (chánh niệm / sati) vào thân, với tâm hạn hẹp. Người ấy không biết rõ (tuệ tri / pajānāti) như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà những điều không thiện, ác hại của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn.

Người ấy rơi vào trạng thái ưa thích và ghét bỏ (anurodhavirodha) như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào—dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu—người ấy vui thú chạy theo (hỷ / abhinandati) cảm giác đó, hoan nghênh nó và bám chặt lấy nó. Khi người ấy vui thú chạy theo cảm giác đó, hoan nghênh nó và bám chặt lấy nó, sự vui thú chạy theo (hỷ / nandī) khởi lên. Sự vui thú chạy theo đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ của người ấy có lực tồn tại; Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh; Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng hình thành. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…]

Khi ngửi mùi bằng mũi […lặp lại…]

Khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…]

Khi chạm vật xúc chạm bằng thân […lặp lại…]

Khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy đắm nhiễm vào Điều dễ chịu, ghét bỏ Điều khó chịu, sống không thiết lập tập trung chú ý vào thân, với tâm hạn hẹp. Người ấy không biết rõ như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà những điều không thiện, ác hại của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn.

Người ấy rơi vào trạng thái ưa thích và ghét bỏ như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào—dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu—người ấy vui thú chạy theo cảm giác đó, hoan nghênh nó và bám chặt lấy nó. Khi người ấy vui thú chạy theo cảm giác đó, hoan nghênh nó và bám chặt lấy nó, sự vui thú chạy theo khởi lên. Sự vui thú chạy theo đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ của người ấy có lực tồn tại; Phụ thuộc vào lực tồn tại có sự Tái sinh; Phụ thuộc vào sự Tái sinh có già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng hình thành. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

(Tiếp tục luân hồi)

Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. Vì tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, nên dục hỷ sanh, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi người đó nghe tiếng với tai… khi người đó ngửi hương với mũi… khi người đó nếm vị với lưỡi… khi người đó cảm xúc với thân… khi người đó nhận thức pháp với ý, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối với pháp xấu. Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không còn dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy. Vì người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

31. Ở đây, này các tỳ kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Đấng Thiện Thệ, Người hiểu biết thế gian, Bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, Bậc Thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài giảng Giáo pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài phơi bày đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và trong sạch.

32. Một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe Giáo pháp ấy. Sau khi nghe Giáo pháp, người ấy khởi lên niềm tin đối với Như Lai. Khi có được niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia rộng mở như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Nay ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không gia đình’. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không gia đình.

33. Khi đã xuất gia như vậy, sống theo sự rèn luyện và sinh kế của các tỳ kheo, người ấy từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, tránh xa việc giết hại sinh mệnh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh mệnh và loài vật.

Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh tịnh, không trộm cắp.

Người ấy từ bỏ đời sống không thánh thiện, sống đời sống thánh thiện, sống xa lánh, tránh xa việc giao cấu là pháp của người làng.

Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối đời.

Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ—nghe ở đây không lặp lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hay nghe ở kia không lặp lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy gắn kết những người đang chia rẽ, khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.

Người ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác—người ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, được nhiều người mến mộ.

Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Giáo pháp, nói về Luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, đúng thời điểm, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.

Người ấy tránh xa việc làm hại các loại hạt giống và cây cỏ, chỉ ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn phi thời. Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn. Tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, trang điểm và làm đẹp. Tránh xa việc nằm giường cao và giường lớn. Tránh xa việc nhận vàng và bạc. Tránh xa việc nhận hạt giống sống. Tránh xa việc nhận thịt sống. Tránh xa việc nhận phụ nữ và các cô gái. Tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ. Tránh xa việc nhận dê và cừu. Tránh xa việc nhận gà và lợn. Tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Tránh xa việc nhận ruộng đất. Tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc. Tránh xa việc mua và bán. Tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu lường. Tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co. Tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt và bạo lực.

34. Người ấy bằng lòng với y áo để bảo vệ thân và thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến đâu, người ấy cũng mang theo chúng. Giống như con chim có cánh, bay đến đâu cũng mang theo đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để bảo vệ thân và thức ăn khất thực để bảo vệ bụng, đi đến đâu cũng mang theo chúng. Được trang bị bằng nền tảng đạo đức của bậc thánh này, người ấy cảm nhận hạnh phúc không lỗi lầm ở bên trong.

35. Khi thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng (tướng / nimitta), không nắm giữ chi tiết. Vì nếu sống không bảo vệ (thu thúc / saṁvara) giác quan mắt, thì lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền, những điều không thiện, ác hại sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan mắt.

Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…]

Khi ngửi mùi bằng mũi […lặp lại…]

Khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…]

Khi chạm vật xúc chạm bằng thân […lặp lại…]

Khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng, không nắm giữ chi tiết. Vì nếu sống không bảo vệ giác quan trí não, thì lòng tham và ưu phiền, những điều không thiện, ác hại sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan trí não. Được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, người ấy cảm nhận hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong.

36. Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānakārī) khi đi tới đi lui; nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay; nhận biết rõ ràng khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y áo; nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói năng và im lặng.

37. Được trang bị bằng nền tảng đạo đức của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bằng lòng của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, được trang bị bằng sự tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng của bậc thánh này, người ấy lui tới một chỗ ở yên tĩnh—khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm.

38. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi kiết già, giữ thân thẳng, thiết lập tập trung chú ý trước mặt. Từ bỏ lòng tham ở đời, người ấy sống với tâm thoát khỏi lòng tham, làm sạch tâm khỏi lòng tham; từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), người ấy sống với tâm không ác ý, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh mệnh và loài vật, làm sạch tâm khỏi ác ý hãm hại; từ bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), người ấy sống thoát khỏi uể oải, buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, làm sạch tâm khỏi uể oải, buồn ngủ; từ bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), người ấy sống không bồn chồn, tâm tĩnh lặng ở bên trong, làm sạch tâm khỏi bồn chồn, hối hận; từ bỏ nghi ngờ (nghi / vicikicchā), người ấy sống vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện (thiện pháp / kusalesu dhammesu), làm sạch tâm khỏi nghi ngờ.

39. Sau khi từ bỏ năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇa) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, người ấy rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na (jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / vitakkavicāra), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Lại nữa, này các tỳ kheo, khi không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, người ấy đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái không tầm không tứ, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định […lặp lại…] Thiền-na thứ ba […lặp lại…] đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư.

(Ðoạn tận luân hồi: Sự tu tập)

Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên thuyết điều Như Lai đã chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng kính ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Sau một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.

Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy với sự thành tựu Thành giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa, tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

40. Khi thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không đắm nhiễm vào hình ảnh dễ chịu, không ghét bỏ hình ảnh khó chịu, sống thiết lập tập trung chú ý vào thân, với tâm không giới hạn (vô lượng / appamāṇa). Người ấy biết rõ như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà những điều không thiện, ác hại của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn.

Người ấy đã loại bỏ ưa thích và ghét bỏ như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào—dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu—người ấy không vui thú chạy theo cảm giác đó, không hoan nghênh nó và không bám chặt lấy nó. Khi người ấy không vui thú chạy theo cảm giác đó, không hoan nghênh nó và không bám chặt lấy nó, sự vui thú chạy theo đối với các cảm giác bị chặn đứng. Do sự vui thú chạy theo của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn; do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng bị chặn đứng. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

41. Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…]

Khi ngửi mùi bằng mũi […lặp lại…]

Khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…]

Khi chạm vật xúc chạm bằng thân […lặp lại…]

Khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không đắm nhiễm vào Điều dễ chịu, không ghét bỏ Điều khó chịu, sống thiết lập tập trung chú ý vào thân, với tâm không giới hạn. Người ấy biết rõ như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà những điều không thiện, ác hại của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn.

Người ấy đã loại bỏ ưa thích và ghét bỏ như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào—dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu—người ấy không vui thú chạy theo cảm giác đó, không hoan nghênh nó và không bám chặt lấy nó. Khi người ấy không vui thú chạy theo cảm giác đó, không hoan nghênh nó và không bám chặt lấy nó, sự vui thú chạy theo đối với các cảm giác bị chặn đứng. Do sự vui thú chạy theo của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, lực tồn tại bị chặn; do lực tồn tại bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng bị chặn đứng. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ tập hợp đau khổ này.

(Ðoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo)

Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai… khi vị ngửi hương bằng mũi… Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi… Khi vị ấy cảm xúc bằng thân… Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các tỳ kheo, các ông hãy ghi nhớ sự giải thoát thông qua việc cạn kiệt mong muốn được Ta giảng tóm tắt này, còn tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, thì đã bị mắc kẹt trong tấm lưới lớn của mong muốn, trong mớ bòng bong của mong muốn."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Đại kinh Cạn kiệt mong muốn, thứ tám, kết thúc.

(Kết luận)

Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-