Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 38. ĐẠI KINH VỀ SỰ CẠN KIỆT CỦA SỰ THÈM KHÁT

(Mahātaṇhāsaṅkhayasutta)

Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại tu viện của Anāthapiṇḍika, trong rừng Jeta.

Lúc bấy giờ, một tỷ-kheo tên là Sāti, con của một người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: “Tôi hiểu Điều dạy (pháp/dhamma) do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ (thức/viññāṇa) này trôi dạt và luân hồi (luân chuyển sinh tử/sandhāvati saṁsarati), không thay đổi (bất dị/anañña).”

Nhiều tỷ-kheo nghe được rằng: “Tỷ-kheo Sāti, con của người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: ‘Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi’.” Rồi các tỷ-kheo ấy đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân; sau khi đến, họ nói với tỷ-kheo Sāti: “Này hiền giả Sāti, có đúng là bạn đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: ‘Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi’ không?”

“Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi.”

Khi ấy, các tỷ-kheo muốn tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, liền chất vấn, gạn hỏi và quở trách: “Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói rằng ‘Cái Biết’thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh/paṭiccasamuppanna), nếu không có Điều kiện (duyên/paccaya) thì không có sự hình thành của ‘Cái Biết’.”

Dù bị các tỷ-kheo chất vấn, gạn hỏi và quở trách như vậy, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm tồi tệ đó và tuyên bố: “Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi.”

Khi các tỷ-kheo không thể tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, họ liền đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỷ-kheo bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: ‘Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi’. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe được điều đó, liền đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti và hỏi: ‘Này hiền giả Sāti, có đúng là bạn đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như vậy không?’. Khi được hỏi vậy, tỷ-kheo Sāti trả lời chúng con: ‘Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi’. Rồi chúng con, muốn tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, đã chất vấn, gạn hỏi và quở trách: ‘Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn… Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói rằng ‘Cái Biết’thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của ‘Cái Biết’’. Dù bị chúng con chất vấn như vậy, tỷ-kheo Sāti vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm đó. Vì chúng con không thể tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm đó, nên chúng con đến báo lại sự việc này cho Thế Tôn.”

Khi ấy, Thế Tôn gọi một tỷ-kheo khác: “Này tỷ-kheo, hãy đến gọi tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, nhân danh Ta: ‘Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi bạn’.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti và nói: “Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi bạn.”

“Thưa vâng, hiền giả”, tỷ-kheo Sāti vâng lời tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với tỷ-kheo Sāti đang ngồi một bên: “Này Sāti, có đúng là ông đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: ‘Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi’ không?”

“Đúng vậy, bạch Thế Tôn, con hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính ‘Cái Biết’ này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi.”

“Này Sāti, ‘Cái Biết’ đó là gì?”

“Bạch Thế Tôn, đó là cái nói năng, cái cảm nhận, cái trải nghiệm kết quả của các hành động thiện và ác ở chỗ này chỗ kia.”

“Này kẻ u mê kia, ông nghe Ta thuyết giảng Điều dạy như vậy cho ai? Này kẻ u mê, chẳng phải Ta đã dùng nhiều cách để nói rằng ‘Cái Biết’thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của ‘Cái Biết’ sao? Thế mà ông, này kẻ u mê, do tự mình nắm giữ sai lầm, không những xuyên tạc Ta, mà còn tự đào hố chôn mình, và tạo ra nhiều điều không phước. Này kẻ u mê, điều đó sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ (khổ/dukkha) lâu dài cho ông.”

Rồi Thế Tôn gọi các tỷ-kheo: “Các ông nghĩ sao, này các tỷ-kheo, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân này, có còn chút hơi ấm nào trong Điều dạy và kỷ luật này không?”

“Làm sao có được, bạch Thế Tôn? Không thể có, bạch Thế Tôn.” Khi nghe nói vậy, tỷ-kheo Sāti im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào.

Thấy tỷ-kheo Sāti im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào, Thế Tôn nói với tỷ-kheo Sāti: “Này kẻ u mê, ông sẽ bị nhận diện bởi chính quan điểm sai lầm tồi tệ này của ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các tỷ-kheo.”

Rồi Thế Tôn hỏi các tỷ-kheo: “Này các tỷ-kheo, các ông có hiểu Điều dạy Ta thuyết giảng giống như tỷ-kheo Sāti này, do tự mình nắm giữ sai lầm, đã xuyên tạc Ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều không phước không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói với chúng con rằng ‘Cái Biết’thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của ‘Cái Biết’.”

"Tốt lắm, tốt lắm, này các tỷ-kheo. Tốt lắm, các ông đã hiểu Điều dạy do Ta thuyết giảng như vậy. Ta đã dùng nhiều cách để nói với các ông rằng ‘Cái Biết’thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của ‘Cái Biết’. Thế mà tỷ-kheo Sāti này, do tự mình nắm giữ sai lầm, đã xuyên tạc Ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều không phước. Điều đó sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ u mê ấy.

Này các tỷ-kheo, phụ thuộc vào Điều kiện nào mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào giác quan mắt (nhãn căn/cakkhu) và hình ảnh (sắc/rūpa) mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức/cakkhuviññāṇa); phụ thuộc vào tai và âm thanh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘cái biết’ ở tai; phụ thuộc vào mũi và mùi hương mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘cái biết’ ở mũi; phụ thuộc vào lưỡi và vị mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘cái biết’ ở lưỡi; phụ thuộc vào thân và sự va chạm mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘cái biết’ ở thân; phụ thuộc vào giác quan trí não (ý căn/mana) và mọi Điều (pháp/dhamma) mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi là ‘Cái Biết’ ở trí não (ý thức/manoviññāṇa).

Này các tỷ-kheo, giống như phụ thuộc vào điều kiện nào mà ngọn lửa bốc cháy, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào củi mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa củi; phụ thuộc vào dăm bào mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa dăm bào; phụ thuộc vào cỏ mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa cỏ; phụ thuộc vào phân bò mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa phân bò; phụ thuộc vào trấu mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa trấu; phụ thuộc vào rác mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa rác.

Cũng vậy, này các tỷ-kheo, phụ thuộc vào Điều kiện nào mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào mắt và hình ảnh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘cái biết’ ở mắt; phụ thuộc vào tai và âm thanh mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘cái biết’ ở tai; phụ thuộc vào mũi và mùi hương mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘cái biết’ ở mũi; phụ thuộc vào lưỡi và vị mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘cái biết’ ở lưỡi; phụ thuộc vào thân và sự va chạm mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘cái biết’ ở thân; phụ thuộc vào trí não và mọi Điều mà ‘Cái Biết’ sinh ra, thì gọi là ‘Cái Biết’ ở trí não.

Này các tỷ-kheo, các ông có thấy rằng: ‘Cái này đã hình thành’ không?" “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Các ông có thấy rằng: ‘Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng (thực/āhāra)’ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Các ông có thấy rằng: ‘Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn (diệt/nirodha), thì cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô (diệt pháp/nirodhadhamma)’ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, do nghi ngờ ‘Không biết cái này có hình thành hay không?’, sự nghi ngờ sinh ra phải không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Do nghi ngờ ‘Không biết nó có hình thành từ nguồn nuôi dưỡng hay không?’, sự nghi ngờ sinh ra phải không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Do nghi ngờ ‘Không biết khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó có chịu sự cạn khô hay không?’, sự nghi ngờ sinh ra phải không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: ‘Cái này đã hình thành’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: ‘Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: ‘Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô’, thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc ‘Cái này đã hình thành’ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc ‘Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng’ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc ‘Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô’ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, việc ‘Cái này đã hình thành’ có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Việc ‘Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng’ có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Việc ‘Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô’ có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, nếu các ông bám víu, nâng niu, cất giữ, và xem là của mình cái quan điểm dù đã thanh tịnh và trong sáng như thế này, thì các ông có hiểu rằng Ta thuyết giảng Điều dạy giống như chiếc bè, cốt để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.” “Này các tỷ-kheo, nếu các ông không bám víu, không nâng niu, không cất giữ, và không xem là của mình cái quan điểm đã thanh tịnh và trong sáng như thế này, thì các ông có hiểu rằng Ta thuyết giảng Điều dạy giống như chiếc bè, cốt để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Này các tỷ-kheo, có bốn nguồn nuôi dưỡng này để duy trì các chúng sinh đã sinh ra, hoặc để hỗ trợ cho những chúng sinh đang tìm kiếm sự sinh ra. Bốn nguồn đó là gì? Thứ nhất là thức ăn vật lý, dù thô hay tế; thứ hai là Xúc (phassa); thứ ba là ý chí của tâm (manosañcetanā); thứ tư là ‘Cái Biết’.

Này các tỷ-kheo, bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành (tập/samudaya), lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy sự thèm khát (ái/taṇhā) làm nguyên nhân, lấy sự thèm khát làm sự hình thành, lấy sự thèm khát làm nơi sinh ra, lấy sự thèm khát làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, sự thèm khát này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Sự thèm khát lấy cảm giác (thọ/vedanā) làm nguyên nhân, lấy cảm giác làm sự hình thành, lấy cảm giác làm nơi sinh ra, lấy cảm giác làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, cảm giác này lấy gì làm nguyên nhân…? Cảm giác lấy Xúc làm nguyên nhân, lấy Xúc làm sự hình thành, lấy Xúc làm nơi sinh ra, lấy Xúc làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, Xúc này lấy gì làm nguyên nhân…? Xúc lấy sáu Trường giao tiếp (lục nhập/saḷāyatana) làm nguyên nhân, lấy sáu Trường giao tiếp làm sự hình thành, lấy sáu Trường giao tiếp làm nơi sinh ra, lấy sáu Trường giao tiếp làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, sáu Trường giao tiếp này lấy gì làm nguyên nhân…? Sáu Trường giao tiếp lấy Danh–sắc (nāmarūpa) làm nguyên nhân, lấy Danh–sắc làm sự hình thành, lấy Danh–sắc làm nơi sinh ra, lấy Danh–sắc làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, Danh–sắc này lấy gì làm nguyên nhân…? Danh–sắc lấy ‘Cái Biết’ làm nguyên nhân, lấy ‘Cái Biết’ làm sự hình thành, lấy ‘Cái Biết’ làm nơi sinh ra, lấy ‘Cái Biết’ làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, ‘Cái Biết’ này lấy gì làm nguyên nhân…? ‘Cái Biết’ lấy các hoạt động (hành/saṅkhārā) làm nguyên nhân, lấy các hoạt động làm sự hình thành, lấy các hoạt động làm nơi sinh ra, lấy các hoạt động làm nguồn gốc.

Này các tỷ-kheo, các hoạt động này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Các hoạt động lấy Không Hiểu Biết (vô minh/avijjā) làm nguyên nhân, lấy Không Hiểu Biết làm sự hình thành, lấy Không Hiểu Biết làm nơi sinh ra, lấy Không Hiểu Biết làm nguồn gốc.

Như vậy, này các tỷ-kheo, với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]; với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ [sinh ra]; với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]; với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]; với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]; với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]; với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]; với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ (thủ/upādāna) [sinh ra]; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh (hữu/bhava) [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh (sinh/jāti) [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết (lão tử/jarāmaraṇa), sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.

‘Với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" “Bạch Thế Tôn, với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết [sinh ra].”

“‘Với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra].”

“‘Với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra].”

“‘Với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra].”

“‘Với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra].”

“‘Với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Xúc là Điều kiện, cảm giác sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với Xúc là Điều kiện, cảm giác sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra].”

“‘Với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra].”

“‘Với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra].”

“‘Với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra].”

“‘Với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ [sinh ra].”

“‘Với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra].”

"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Như vậy, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này có mặt, cái kia có mặt; do sự sinh khởi của cái này, cái kia sinh khởi. Tức là: với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]; với các hoạt động là Điều kiện, ‘Cái Biết’ [sinh ra]; với ‘Cái Biết’ là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]; với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]; với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]; với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]; với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]; với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra]; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.

Nhưng do sự phai nhạt và bị chặn hoàn toàn của chính Không Hiểu Biết, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn; do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt (diệt/nirujjhati). Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.

‘Do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" “Bạch Thế Tôn, do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn.”

“‘Do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn.”

“‘Do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn.”

“‘Do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn.”

“‘Do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn.”

“‘Do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn.”

“‘Do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn.”

“‘Do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn.”

“‘Do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn.”

“‘Do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn.”

“‘Do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn.”

"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Như vậy, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này không có mặt, cái kia không có mặt; do sự chấm dứt của cái này, cái kia chấm dứt. Tức là: do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, ‘Cái Biết’ bị chặn; do ‘Cái Biết’ bị chặn, Danh–sắc bị chặn; do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.

Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy ngược về quá khứ và nghĩ rằng: ‘Ta có tồn tại trong quá khứ không? Ta không tồn tại trong quá khứ sao? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Trước kia là gì, rồi ta đã trở thành gì trong quá khứ?’ không?" “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy tới tương lai và nghĩ rằng: ‘Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai sao? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Trước kia là gì, rồi ta sẽ trở thành gì trong tương lai?’ không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nghi ngờ về hiện tại ngay trong nội tâm mình rằng: ‘Ta có tồn tại không? Ta không tồn tại sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến, và nó sẽ đi về đâu?’ không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Bậc Đạo Sư là người chúng ta tôn kính, và vì tôn kính Bậc Đạo Sư nên chúng ta mới nói như vậy’ không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Vị sa-môn đã nói như vậy, và vì là sa-môn nên chúng ta mới nói như vậy’ không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có đi tìm một vị đạo sư nào khác không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay lại với những nghi thức, lễ hội ồn ào của các sa-môn, bà-la-môn khác và xem đó là cốt lõi không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỷ-kheo, có phải các ông chỉ nói những gì chính các ông đã tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Các ông đã được Ta dẫn dắt bởi Điều dạy này, một Điều dạy có thể thấy ngay trong hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, mời đến để thấy, có khả năng dẫn thượng, được người trí tự mình trải nghiệm. ‘Điều dạy này có thể thấy ngay trong hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, mời đến để thấy, có khả năng dẫn thượng, được người trí tự mình trải nghiệm’ — điều đã được nói như vậy, chính là nói dựa vào điều này.

Này các tỷ-kheo, sự hình thành bào thai diễn ra do sự hội tụ của ba yếu tố. Ở đây, nếu cha mẹ có giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ thụ thai, và mầm sống đi tái sinh (hương ấm/gandhabba) không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Ở đây, nếu cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, nhưng mầm sống đi tái sinh không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Nhưng này các tỷ-kheo, khi cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, và mầm sống đi tái sinh hiện diện — do sự hội tụ của ba yếu tố này mà bào thai hình thành.

Này các tỷ-kheo, người mẹ mang bào thai ấy trong bụng suốt chín hay mười tháng với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đứa trẻ ra với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các tỷ-kheo, trong kỷ luật của bậc thánh, sữa mẹ chính là máu.

Này các tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó chơi đùa với những đồ chơi của trẻ con, như là: con quay, xe đẩy bằng đất, cung tên nhỏ, xe ngựa nhỏ.

Này các tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó tận hưởng và đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục/kāmaguṇa) — những hình ảnh nhận biết bằng mắt, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ; những âm thanh nhận biết bằng tai… những mùi hương nhận biết bằng mũi… những vị nhận biết bằng lưỡi… những sự va chạm nhận biết bằng thân, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ.

Người ấy, sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, liền đắm nhiễm (tham/sārajjati) vào hình ảnh dễ thương, và ác ý hãm hại (sân hận/byāpajjati) đối với hình ảnh không dễ thương; người ấy sống mà không có sự chú tâm (niệm/sati) vào cơ thể, với một tâm trí hạn hẹp. Người ấy không biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm (tâm giải thoát/cetovimutti) và sự giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti), nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.

Bị rơi vào trạng thái thuận theo và chống đối (thuận nghịch/anurodhavirodha) như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu (thọ lạc/sukha), cảm giác khó chịu (thọ khổ/dukkha), hay không dễ chịu không khó chịu (adukkhamasukha) — người ấy liền vui thú chạy theo (dục hỷ/abhinandati), chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu (hỷ/nandī) sinh ra. Sự thích thú bám víu đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.

Sau khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi […lặp lại…] Sau khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân […lặp lại…] Sau khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy liền đắm nhiễm vào Điều dễ thương, và ác ý hãm hại đối với Điều không dễ thương; người ấy sống mà không có sự chú tâm vào cơ thể, với một tâm trí hạn hẹp. Người ấy không biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.

Bị rơi vào trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy liền vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu sinh ra. Sự thích thú bám víu đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.

Này các tỷ-kheo, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, đấng Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng, người điều ngự những kẻ đáng được điều ngự, bậc Thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài thuyết giảng Điều dạy tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài làm sáng tỏ đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và trong sạch.

Một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Điều dạy ấy. Sau khi nghe Điều dạy ấy, người ấy khởi lên niềm tin đối với Như Lai. Có được niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.’ Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.

Sau khi xuất gia như vậy, sống theo các điều học và sinh kế của các tỷ-kheo, người ấy từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, biết xấu hổ, có lòng từ bi, sống với tâm thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh.

Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh khiết, không trộm cắp.

Người ấy từ bỏ đời sống không thánh thiện, sống đời sống thánh thiện, sống xa lánh, tránh xa việc giao cấu là pháp của người làng.

Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, chắc chắn, đáng tin (paccayiko), không lừa dối đời.

Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ — nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp; người ấy vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.

Người ấy từ bỏ lời nói thô lỗ, tránh xa lời nói thô lỗ — người ấy chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người yêu thích, làm vui lòng nhiều người.

Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có ý nghĩa, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, đúng thời điểm, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.

Người ấy tránh xa việc làm hại hạt giống và cây cỏ; chỉ ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn phi thời. Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi biểu diễn; tránh xa việc đeo vòng hoa, dùng hương liệu, bôi mỹ phẩm, trang điểm và làm đẹp; tránh xa việc dùng giường cao và giường lớn; tránh xa việc nhận vàng và bạc; tránh xa việc nhận ngũ cốc sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ và các cô gái; tránh xa việc nhận nô tỳ và nô bộc; tránh xa việc nhận dê và cừu; tránh xa việc nhận gà và lợn; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản; tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc; tránh xa việc mua và bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu đo lường; tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co; tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, chặn đường cướp bóc, cướp đoạt và dùng bạo lực.

Người ấy bằng lòng với y phục để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ dạ dày. Đi đến đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Giống như con chim có cánh, bay đến đâu cũng mang theo đôi cánh của mình mà bay; cũng vậy, tỷ-kheo bằng lòng với y phục để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ dạ dày, đi đến đâu cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Được trang bị bằng nền tảng Giới (sīlakkhandha) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không tì vết ở nội tâm.

Khi thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng (tướng/nimitta), không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan mắt.

Sau khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi […lặp lại…] Sau khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân […lặp lại…] Khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan trí não. Được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan (căn thu thúc/indriyasaṁvara) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị pha trộn ở nội tâm.

Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác/sampajāno) khi bước tới bước lui; nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay; nhận biết rõ ràng khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y phục; nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.

Được trang bị bằng nền tảng Giới của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bằng lòng của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, được trang bị bằng sự chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác/satisampajañña) của bậc thánh này, người ấy tìm đến một chỗ ở vắng vẻ — khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, bãi đất trống, hay đống rơm.

Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự chú tâm ở phía trước. Người ấy từ bỏ lòng tham (ái dục/abhijjhā) ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham; từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận/byāpāda), sống với tâm không ác ý, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại; từ bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên/thinamiddha), sống thoát khỏi uể oải buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, chú tâm và nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi uể oải buồn ngủ; từ bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá/uddhaccakukkucca), sống không bồn chồn, nội tâm lắng dịu, gột rửa tâm khỏi bồn chồn hối hận; từ bỏ nghi ngờ (nghi/vicikicchā), sống vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi nghi ngờ.

Sau khi từ bỏ năm điều làm mờ yếu (triền cái/nīvaraṇa) này — những thứ làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ — người ấy hoàn toàn rời bỏ khỏi các phản ứng bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na (jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ/vitakkavicāra), có hân hoan (hỷ/pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Lại nữa, này các tỷ-kheo, do sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, người ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái sự lắng trong nội tại (nội tĩnh/ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm/cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định […lặp lại…] Thiền-na thứ ba […lặp lại…] đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư.

Người ấy, sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, không đắm nhiễm vào hình ảnh dễ thương, không ác ý hãm hại đối với hình ảnh không dễ thương; người ấy sống có sự chú tâm vào cơ thể được thiết lập, với một tâm trí không giới hạn (vô lượng/appamāṇa). Người ấy biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.

Đã từ bỏ hoàn toàn trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu đối với các cảm giác bị chặn. Do sự thích thú bám víu của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.

Sau khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi […lặp lại…] Sau khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân […lặp lại…] Sau khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không đắm nhiễm vào Điều dễ thương, không ác ý hãm hại đối với Điều không dễ thương; người ấy sống có sự chú tâm vào cơ thể được thiết lập, với một tâm trí không giới hạn. Người ấy biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.

Đã từ bỏ hoàn toàn trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu đối với các cảm giác bị chặn. Do sự thích thú bám víu của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.

Này các tỷ-kheo, các ông hãy ghi nhớ sự giải thoát thông qua sự cạn kiệt (đoạn tận/khaya) của sự thèm khát được Ta nói một cách ngắn gọn này; còn tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, thì đã bị mắc kẹt trong tấm lưới lớn của sự thèm khát, trong mớ bòng bong của sự thèm khát."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỷ-kheo ấy vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Đại kinh về sự cạn kiệt của sự thèm khát, bài kinh thứ tám.

38. ÐẠI KINH ÐOẠN TẬN ÁI

38. ÐẠI KINH ÐOẠN TẬN ÁI (Mahàtanhàsankhaya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau:

– Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

– Thật sự là vậy, chư Hiền, theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

– Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.

– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.

Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác””. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

“-- Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”.

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:

"-- Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

"-- Hiền giả Sati chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.

"Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy:

“-- Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này."

Rồi Thế Tôn cho gọi là một Tỷ-kheo khác:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: “Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

– Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đang ngồi xuống một bên:

– Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”?

– Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

– Này Sati, thế nào là thức ấy.

– Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói, cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.

– Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp, Luật này không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá.

– Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức?

– Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.

– Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, còn tự pháp hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.

(Duyên sanh Thức)

Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

(Các câu hỏi về sanh vật)

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?

– Bạch Thế Tôn có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sanh vật này có thể không có mặt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh vật này có thể không có mặt.

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự tác thành của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy, nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành,… này, có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hãnh diện, truy cầu, xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, không.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hãnh diện, không truy cầu, không xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, có.

(Thức ăn và Duyên khởi)

– Này các Tỷ-kheo, có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô hoặc tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là thức thực.

Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn này, lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Bốn món ăn này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, ái này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm sanh chủng, lấy thọ làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thọ này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sanh chủng, lấy xúc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, xúc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Xúc lấy sáu nhập làm nhân duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi, lấy sáu nhập làm sanh chủng, lấy sáu nhập làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Sáu nhập lấy danh sắc làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sanh chủng, lấy danh sắc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, danh sắc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên, lấy thức là tập khởi, lấy thức làm sanh chủng, lấy thức làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thức này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm sanh chủng, lấy hành làm nguyên nhân. Này các Tỷ- kheo, các hành này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Các hành lấy vô minh làm sanh chủng, lấy vô minh làm nguyên nhân.

(Duyên theo chiều thuận)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được hiện hữu. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(Duyên theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Sanh duyên già, chết (Do duyên sanh nên già, chết hiện khởi). Này các Tỷ-kheo, sanh duyên già, chết có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sanh duyên già, chết. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sanh duyên già, chết.

– Trước đã nói: hữu duyên sanh. Này các Tỷ-kheo, hữu duyên sanh có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hữu duyên sanh. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hữu duyên sanh.

– Trước đã nói: Thủ duyên hữu. Này các Tỷ-kheo, thủ duyên hữu có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thủ duyên hữu. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thủ duyên hữu.

– Trước đã nói: Ái duyên thủ. Này các Tỷ-kheo, ái duyên thủ có phải không? Hay ở đây, (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, ái duyên thủ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Ái duyên thủ.

– Trước đã nói: Thọ duyên ái. Này các Tỷ-kheo, thọ duyên ái có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thọ duyên ái. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thọ duyên ái.

– Trước đã nói: Xúc duyên thọ. Này các Tỷ-kheo, xúc duyên thọ có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, xúc duyên thọ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Xúc duyên thọ.

– Trước đã nói: Sáu nhập duyên xúc. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập duyên xúc có phải không? Hay ở đây

(nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sáu nhập duyên xúc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sáu nhập duyên xúc.

– Trước đã nói: Danh sắc duyên sáu nhập. Này các Tỷ-kheo, danh sắc duyên sáu nhập có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, danh sắc duyên sáu nhập. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Danh sắc duyên sáu nhập.

– Trước đã nói: Thức duyên danh sắc. Này các Tỷ-kheo, thức duyên danh sắc có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thức duyên danh sắc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thức duyên danh sắc.

– Trước đã nói: Hành duyên thức: Này các Tỷ-kheo, hành duyên thức có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hành duyên thức. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hành duyên thức.

– Trước đã nói: Vô minh duyên hành. Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, vô minh duyên hành. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Vô minh duyên hành.

(Tóm lược về Duyên)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cùng sanh khởi. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(Diệt theo chiều thuận)

Do vô minh đoạn diệt, xả ly một cách hoàn toàn nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Diệt theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Do sanh diệt nên già, chết diệt. Này các Tỷ-kheo, do sanh diệt nên già, chết diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sanh diệt nên già, chết diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do

sanh diệt nên già, chết diệt.

– Trước đã nói: Do hữu diệt nên sanh diệt. Này các Tỷ-kheo, do hữu diệt nên sanh diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên sanh diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hữu diệt nên sanh diệt.

– Trước đã nói: Do thủ diệt nên hữu diệt. Này các Tỷ-kheo, do thủ diệt nên hữu diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên hữu diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thủ diệt nên hữu diệt.

– Trước đã nói: Do ái diệt nên thủ diệt. Này các Tỷ-kheo, do ái diệt nên thủ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên thủ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do ái diệt nên thủ diệt.

– Trước đã nói: Do thọ diệt nên ái diệt. Này các Tỷ-kheo, do thọ diệt nên ái diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên ái diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do thọ diệt nên ái diệt.

– Trước đã nói: Do xúc diệt nên thọ diệt. Này các Tỷ-kheo, do xúc diệt nên thọ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên thọ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do xúc diệt nên thọ diệt.

– Trước đã nói: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Này các Tỷ-kheo, do sáu nhập diệt nên xúc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt.

– Trước đã nói: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Này các Tỷ-kheo, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt.

– Trước đã nói: Do thức diệt nên danh sắc diệt. Này các Tỷ-kheo, do thức diệt nên danh sắc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thức diệt nên danh sắc diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.

– Trước đã nói: Do hành diệt nên thức diệt. Này các Tỷ-kheo, do hành diệt nên thức diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hành diệt nên thức diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hành diệt nên thức diệt.

– Trước đã nói: Do vô minh diệt nên hành diệt. Này các Tỷ-kheo, do vô minh diệt nên hành diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt nên hành diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do vô minh diệt nên hành diệt.

(Tóm lược về Diệt)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”, như vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, sáu nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Tri kiến về ngã)

Này các Tỷ-kheo, các Ông nên biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời quá khứ, và suy nghĩ: “Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời vị lai, và suy nghĩ: “Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nghi ngờ gì về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt. Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt, hình vóc như thế nào? Hữu tình này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Bậc Ðạo Sư được chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói vì chúng ta tôn trọng bậc Ðạo Sư”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Một Sa-môn nói với chúng tôi như vậy, các Sa-môn khác cũng nói như vậy, và còn chúng tôi không có nói như vậy”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có tìm một vị Ðạo Sư khác không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có trở lui lại các giới cấm, tế tự đàn tràng của các tục tử Sa-môn, Bà-la-môn (và nghĩ rằng) chúng là căn bản không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, có phải các Ông chỉ nói những gì các Ông tự biết, tự thấy, tự ý thức được?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỷ-kheo,! Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Tất cả những gì đã nói là do duyên này mà nói.

(Vòng luân hồi: từ sanh đến trưởng thành)

Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.

Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi (hài nhi ấy) với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau khi lớn lên, sau khi các căn đã thuần thục, chơi với những trò chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục.

(Tiếp tục luân hồi)

Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. Vì tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, nên dục hỷ sanh, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi người đó nghe tiếng với tai… khi người đó ngửi hương với mũi… khi người đó nếm vị với lưỡi… khi người đó cảm xúc với thân… khi người đó nhận thức pháp với ý, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối với pháp xấu. Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không còn dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy. Vì người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(Ðoạn tận luân hồi: Sự tu tập)

Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên thuyết điều Như Lai đã chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng kính ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Sau một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.

Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy với sự thành tựu Thành giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa, tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

(Ðoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo)

Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai… khi vị ngửi hương bằng mũi… Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi… Khi vị ấy cảm xúc bằng thân… Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Kết luận)

Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-