Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 30. KINH NGẮN DỤ LÕI CÂY

(Cūḷasāropamasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, tại tu viện của Anāthapiṇḍika.

2. Khi ấy, Bà-la-môn Piṅgalakoccha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi thân hữu với Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Piṅgalakoccha nói với Thế Tôn điều này:

“Thưa Tôn giả Gotama, có những sa-môn, bà-la-môn này là những vị đứng đầu hội chúng, đứng đầu giáo phái, là đạo sư của các giáo phái, được biết đến, có danh tiếng, là người sáng lập đạo, được quần chúng tôn kính, đó là: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta. Có phải tất cả họ đều có sự hiểu biết đúng như họ tự nói hay tất cả đều không hay một số hiểu biết còn một số thì không?”

“Thôi Bà-la-môn hãy để chuyện đó sang một bên — rằng tất cả họ đều đã hiểu biết đúng như họ tự nói hay tất cả đều không hay một số hiểu biết còn một số thì không. Ta sẽ giảng Điều (pháp / dhamma) cho ông, Bà-la-môn, hãy lắng nghe và suy nghĩ (tác ý / manasi karohi) kỹ lưỡng, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Bà-la-môn Piṅgalakoccha đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

MN 30. TIỂU KINH DỤ LÕI CÂY

(Cùlasàropama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Bà-la-môn Pingalakoccha đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, chúc tụng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn này là vị Hội chủ, vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khi Tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta, tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí, hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?

– Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí? Hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?” Này Bà- la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Pingalakoccha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

3. "Này Bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây (lõi cây / sāra) họ tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây. Đứng trước một cây lớn có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm (giác cây / pheggu), bỏ qua vỏ trong (taca), bỏ qua vỏ ngoài (papaṭika), chặt lấy cành lá (sākhāpalāsa) mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói thế này: ‘Người đàn ông tốt này thực sự không biết lõi cây, không biết phần gỗ mềm, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Vì vậy, người đàn ông tốt này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt lấy cành lá mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó.’

4. Hoặc ví như, này Bà-la-môn, một người cần lõi cây họ tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây. Đứng trước một cây lớn có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói thế này: ‘Người đàn ông tốt này thực sự không biết lõi cây, không biết phần gỗ mềm, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Vì vậy, người đàn ông tốt này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó.’

5. Hoặc ví như, này Bà-la-môn, một người cần lõi cây họ tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây. Đứng trước một cây lớn có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, chặt lấy vỏ trong mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói thế này: ‘Người đàn ông tốt này thực sự không biết lõi cây, không biết phần gỗ mềm, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Vì vậy, người đàn ông tốt này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, chặt lấy vỏ trong mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó.’

6. Hoặc ví như, này Bà-la-môn, một người cần lõi cây họ tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây. Đứng trước một cây lớn có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt lấy phần gỗ mềm mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói thế này: ‘Người đàn ông tốt này thực sự không biết lõi cây, không biết phần gỗ mềm, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Vì vậy, người đàn ông tốt này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, chặt lấy phần gỗ mềm mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó.’

7. Hoặc ví như, này Bà-la-môn, một người cần lõi cây họ tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây. Đứng trước một cây lớn có lõi cây, người ấy chặt lấy chính lõi cây mang đi và biết rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt nhìn thấy người ấy sẽ nói thế này: ‘Người đàn ông tốt này thực sự biết lõi cây, biết phần gỗ mềm, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Vì vậy, người đàn ông tốt này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã chặt lấy chính lõi cây mang đi và biết rằng: “Đây là lõi cây”. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ đạt được mục đích đó.’

– Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt võ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Và người này đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.

8. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây có người vì niềm tin mà rời bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm ngập bởi sự Tái sinh (sinh / jāti), già, chết, sầu, bi, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa), tuyệt vọng; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong sao sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra.’ Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng (lợi dưỡng, tôn kính, danh tiếng / lābhasakkārasiloka). Vị ấy trở nên hài lòng với lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó, ý nguyện được thỏa mãn. Vị ấy vì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó mà tự đề cao mình, hạ thấp người khác: ‘Ta là người có lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, còn những tỳ kheo khác này là những người không ai biết đến, ít ảnh hưởng.’ Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, vị ấy không sinh khởi mong muốn (dục / chanda) để trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikiriyāya) những Điều ấy, không nỗ lực, trở nên lười biếng và buông lung. Này Bà-la-môn, ví như người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt lấy cành lá mang đi và nghĩ rằng ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó. Này Bà-la-môn, Ta nói người này giống như ví dụ đó.

9. Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì niềm tin mà rời bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm ngập bởi sinh, già, chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong sao sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra.’ Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng. Vị ấy không trở nên hài lòng với lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó, ý nguyện không bị thỏa mãn [ở mức đó]. Vị ấy không vì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu lối sống đạo đức (thành tựu giới / sīlasampadaṁ). Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu lối sống đạo đức đó, ý nguyện được thỏa mãn. Vị ấy vì sự thành tựu lối sống đạo đức đó mà tự đề cao mình, hạ thấp người khác: ‘Ta là người có giới hạnh, có phẩm chất tốt đẹp, còn những tỳ kheo khác này là những người phá giới, có phẩm chất xấu xa.’ Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu lối sống đạo đức, vị ấy không sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, không nỗ lực, trở nên lười biếng và buông lung. Này Bà-la-môn, ví như người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài mang đi và nghĩ rằng ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó. Này Bà-la-môn, Ta nói người này giống như ví dụ đó.

10. Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì niềm tin mà rời bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm ngập bởi sinh, già, chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong sao sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra.’ Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng. Vị ấy không trở nên hài lòng với lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó, ý nguyện không bị thỏa mãn [ở mức đó]. Vị ấy không vì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu lối sống đạo đức. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu lối sống đạo đức đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thành tựu lối sống đạo đức đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu lối sống đạo đức, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu Định (thành tựu định / samādhisampadaṁ). Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu Định đó, ý nguyện được thỏa mãn. Vị ấy vì sự thành tựu Định đó mà tự đề cao mình, hạ thấp người khác: ‘Ta là người có Định, tâm nhất tâm, còn những tỳ kheo khác này là những người không có Định, tâm tán loạn.’ Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu Định, vị ấy không sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, không nỗ lực, trở nên lười biếng và buông lung. Này Bà-la-môn, ví như người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua phần gỗ mềm, chặt lấy vỏ trong mang đi và nghĩ rằng ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó. Này Bà-la-môn, Ta nói người này giống như ví dụ đó.

11. Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì niềm tin mà rời bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm ngập bởi sinh, già, chết […lặp lại…] Mong sao sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra.’ Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng. Vị ấy không trở nên hài lòng với lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó, ý nguyện không bị thỏa mãn [ở mức đó]. Vị ấy không vì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu lối sống đạo đức. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu lối sống đạo đức đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thành tựu lối sống đạo đức đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu lối sống đạo đức, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu Định. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu Định đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thành tựu Định đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu Định, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thấy rõ bản chất (tri kiến / ñāṇadassanaṁ). Vị ấy trở nên hài lòng với sự thấy rõ bản chất đó, ý nguyện được thỏa mãn. Vị ấy vì sự thấy rõ bản chất đó mà tự đề cao mình, hạ thấp người khác: ‘Ta sống biết và thấy, còn những tỳ kheo khác này sống không biết và không thấy.’ Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất, vị ấy không sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, không nỗ lực, trở nên lười biếng và buông lung. Này Bà-la-môn, ví như người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã bỏ qua lõi cây, chặt lấy phần gỗ mềm mang đi và nghĩ rằng ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không đạt được mục đích đó. Này Bà-la-môn, Ta nói người này giống như ví dụ đó.

12. Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì niềm tin mà rời bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm ngập bởi sinh, già, chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong sao sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra.’ Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng. Vị ấy không trở nên hài lòng với lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó, ý nguyện không bị thỏa mãn [ở mức đó]. Vị ấy không vì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu lối sống đạo đức. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu lối sống đạo đức đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thành tựu lối sống đạo đức đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu lối sống đạo đức, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thành tựu Định. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thành tựu Định đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thành tựu Định đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thành tựu Định, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung. Vị ấy đạt được sự thấy rõ bản chất. Vị ấy trở nên hài lòng với sự thấy rõ bản chất đó, nhưng ý nguyện không tự mãn [ở đó]. Vị ấy không vì sự thấy rõ bản chất đó mà tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Và đối với những Điều khác cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất, vị ấy sinh khởi mong muốn để trực tiếp chứng nghiệm những Điều ấy, nỗ lực, không lười biếng và không buông lung.

Và này Bà-la-môn, những Điều nào là cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất?

13. Ở đây, này Bà-la-môn, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (tầm / savitakkaṁ), có nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / savicāraṁ), với hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / vivekajaṁ). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

14. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo làm lắng dịu (diệt / vūpasamā) chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (vô tầm vô tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định. Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

15. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo với sự phai nhạt của hân hoan, trú trong tâm quân bình (xả / upekkhako), tập trung chú ý (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể; đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là: ‘Trú trong tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’. Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

16. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo với sự từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) hạnh phúc và từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền từ trước; đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), sự thanh tịnh của tập trung chú ý nhờ tâm quân bình. Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

17. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn các nhận thức (tưởng / saññānaṁ) về vật chất (sắc / rūpa), với sự biến mất của các nhận thức do va chạm, không suy nghĩ đến các nhận thức sai biệt, [nghĩ rằng] ‘Không gian là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

18. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, [nghĩ rằng] ‘Cái Biết là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

19. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, [nghĩ rằng] ‘Không có vật gì’, đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

20. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

21. Lại nữa, này Bà-la-môn, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, đạt đến và an trú trong trạng thái làm ngưng nhận thức và cảm giác (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhaṁ), và sau khi thấy bằng trí tuệ, các nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) của vị ấy bị cạn kiệt (đoạn tận / parikkhīṇā). Này Bà-la-môn, Điều này cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất. Này Bà-la-môn, đây là những Điều cao thượng hơn và vi diệu hơn sự thấy rõ bản chất.

22. Này Bà-la-môn, ví như người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây, đã chặt lấy chính lõi cây mang đi và biết rằng ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ việc gì người ấy cần làm với lõi cây, người ấy sẽ đạt được mục đích đó. Này Bà-la-môn, Ta nói người này giống như ví dụ đó.

Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây, có người do lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ, Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người ấy sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bi chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy

phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta có Thiền định, nhứt tâm. Các Tỷ-kheo khác không có Thiền định, tâm bị phân tán”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn. Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ-kheo khác sống không thấy và không biết”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy.

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Do vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn, chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy do tri kiến này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do tri kiến này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước, cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động.

Và này Bà-la-môn, những pháp gì cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến?

Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-la-môn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, lấy và mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.

23. Như vậy, này Bà-la-môn, đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariyaṁ) này không phải vì lợi ích của lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng, không phải vì lợi ích của sự thành tựu lối sống đạo đức, không phải vì lợi ích của sự thành tựu Định, không phải vì lợi ích của sự thấy rõ bản chất. Nhưng này Bà-la-môn, chính sự giải thoát tâm không thể lay chuyển (bất động tâm giải thoát / akuppā cetovimutti) này — đây là mục đích của đời sống thánh thiện này, đây là lõi cây, đây là điểm kết thúc."

24. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Piṅgalakoccha nói với Thế Tôn điều này: “Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! […lặp lại…] Xin Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến mạng chung.”

Kinh Tiểu Dụ Lõi Cây kết thúc, là bài kinh thứ mười.

Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

-ooOoo-