8. Khi nào, này các tỳ kheo, khi tỳ kheo vì một đối tượng nào, vì suy nghĩ đến đối tượng nào mà khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê, [thì] vị ấy suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.
[Hay] vị ấy xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.
[Hay] vị ấy thực hành không chú ý, không suy nghĩ những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.
[Hay] vị ấy suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ đối với những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.
[Hay] vị ấy nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.
Này các tỳ kheo, tỳ kheo này được gọi là người làm chủ các luồng suy nghĩ (vasī vitakkapariyāyapathesu). Vị ấy muốn suy nghĩ suy nghĩ nào, sẽ suy nghĩ suy nghĩ đó; không muốn suy nghĩ suy nghĩ nào, sẽ không suy nghĩ suy nghĩ đó. Vị ấy đã cắt đứt mong muốn (tham ái / taṇhaṁ), tháo gỡ xiềng xích (kiết sử / saṁyojanaṁ), nhờ hiểu rõ ngạo mạn (mạn / mānābhisamayā) một cách đúng đắn, đã chấm dứt đau khổ.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Kinh Làm Lắng Dịu Suy Nghĩ kết thúc, là kinh thứ mười.
Phẩm Tiếng Rống Sư Tử kết thúc, là phẩm thứ hai.