Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 20. KINH LÀM CHỦ CÁC SUY NGHĨ

(Vitakkasaṇṭhānasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại rừng Jeta (Kỳ-đà), trong tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

2. "Này các tỳ kheo, tỳ kheo đang chuyên tâm rèn luyện tâm cao thượng (tăng thượng tâm / adhicittamanuyuttena) thường phải suy nghĩ (tác ý / manasi kātabbāni) theo năm đối tượng (tướng / nimittāni). Năm [đối tượng] là gì?

MN 20. KINH AN TRÚ TẦM

(Vtakkasanthàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?

3. Này các tỳ kheo, ở đây khi tỳ kheo vì một đối tượng nào, vì suy nghĩ đến đối tượng nào mà khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện (ác bất thiện / pāpakā akusalā), [là những suy nghĩ] liên quan đến mong muốn (dục / chandūpasaṁhitāpi), liên quan đến ám ảnh khó chịu (sân / dosūpasaṁhitāpi), liên quan đến sự u mê (si / mohūpasaṁhitāpi); thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện, thay cho đối tượng [bất thiện] kia. Khi vị ấy suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, [mà] những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ (đoạn trừ / pahīyanti), chúng tan biến (diệt tận / abbhatthaṁ gacchanti). Nhờ hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh (ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati) [thì thành công].

Này các tỳ kheo, ví như, một người thợ mộc khéo tay hay người học việc của thợ mộc dùng một cái chốt nhỏ để đóng bật ra, đánh bật ra, đẩy bật ra một cái chốt to; cũng vậy, này các tỳ kheo, khi tỳ kheo dựa vào một đối tượng nào, suy nghĩ đến đối tượng nào mà khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê; thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện, thay cho đối tượng kia. Khi vị ấy suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Ở đây, Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác; chư Tỷ-kheo, cũng vậy, khi một Tỷ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

4. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy, khi suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê; thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải xem xét sự nguy hiểm (hoạn / ādīnavo) của những suy nghĩ ấy: ‘Như thế này là những suy nghĩ không thiện, như thế này là những suy nghĩ đáng chê trách, như thế này là những suy nghĩ mang lại kết quả đau khổ (khổ / dukkhavipākā)’. Khi vị ấy xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, [mà] những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh [thì thành công].

Này các tỳ kheo, ví như, một người phụ nữ hay người đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang điểm, sẽ cảm thấy lo âu, xấu hổ, ghê tởm nếu bị treo một xác chết con rắn, xác chết con chó, hay xác chết con người vào cổ; cũng vậy, này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy khi suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê; thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy: ‘Như thế này là những suy nghĩ không thiện, như thế này là những suy nghĩ đáng chê trách, như thế này là những suy nghĩ mang lại kết quả đau khổ’. Khi vị ấy xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: “Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo”. Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy nhờ quán sát… nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

5. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy, khi xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê; thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải thực hành không chú ý, không suy nghĩ (thất niệm phi tác ý / asatiamanasikāro) đến những suy nghĩ ấy. Khi vị ấy thực hành không chú ý, không suy nghĩ đến những suy nghĩ ấy, [mà] những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh [thì thành công].

Này các tỳ kheo, ví như, một người có mắt không muốn nhìn thấy những hình ảnh (sắc / rūpānaṁ) lọt vào tầm nhìn; người ấy có thể nhắm mắt lại hoặc nhìn sang hướng khác; cũng vậy, này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy khi xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê, chúng bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi không ức niệm, không tác ý… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

6. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy, khi thực hành không chú ý, không suy nghĩ đến những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê; thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ (hành tướng của tầm / vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ) đối với những suy nghĩ ấy. Khi vị ấy suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ đối với những suy nghĩ ấy, [mà] thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh [thì thành công].

Này các tỳ kheo, ví như, một người đang đi nhanh. Người ấy nghĩ: ‘Tại sao ta lại đi nhanh? Hay là ta đi chậm lại’. Người ấy đi chậm lại. Người ấy nghĩ: ‘Tại sao ta lại đi chậm? Hay là ta đứng lại’. Người ấy đứng lại. Người ấy nghĩ: ‘Tại sao ta lại đứng? Hay là ta ngồi xuống’. Người ấy ngồi xuống. Người ấy nghĩ: ‘Tại sao ta lại ngồi? Hay là ta nằm xuống’. Người ấy nằm xuống. Như vậy, này các tỳ kheo, người ấy từ bỏ từng tư thế thô, mạnh (thô / oḷārika) sang từng tư thế tinh tế, nhẹ nhàng hơn.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy khi thực hành không chú ý, không suy nghĩ những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu <đoạn kinh có thể bị thiếu do khác cấu trúc với 4 phần còn khác> liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy tác ý đến… (như trên)… được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

7. Này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy, khi suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ đối với những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê. Thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm (cetasā cittaṁ abhiniggaṇhitabbaṁ abhinippīḷetabbaṁ abhisantāpetabbaṁ). Khi vị ấy nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm, [mà] những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh [thì thành công].

Này các tỳ kheo, ví như, một người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy đầu, cổ hoặc vai của một người đàn ông yếu hơn để đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu; cũng vậy, này các tỳ kheo, nếu tỳ kheo ấy khi suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ đối với những suy nghĩ ấy, mà vẫn khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê. Thì này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy cần phải nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm. Khi vị ấy nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ… đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục… liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong… được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Chư Tỷ- kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

8. Khi nào, này các tỳ kheo, khi tỳ kheo vì một đối tượng nào, vì suy nghĩ đến đối tượng nào mà khởi lên những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê, [thì] vị ấy suy nghĩ đến một đối tượng khác liên quan đến điều thiện thay cho đối tượng kia, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

[Hay] vị ấy xem xét sự nguy hiểm của những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

[Hay] vị ấy thực hành không chú ý, không suy nghĩ những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

[Hay] vị ấy suy nghĩ đến làm lắng dịu hoạt động của suy nghĩ đối với những suy nghĩ ấy, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

[Hay] vị ấy nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng ý chí đè nén, bóp nghẹt và triệt tiêu tâm, thì những suy nghĩ ác và không thiện, liên quan đến mong muốn, liên quan đến ám ảnh khó chịu, liên quan đến sự u mê bị loại bỏ, chúng tan biến. Và nhờ hoàn toàn từ bỏ chúng, không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh.

Này các tỳ kheo, tỳ kheo này được gọi là người làm chủ các luồng suy nghĩ (vasī vitakkapariyāyapathesu). Vị ấy muốn suy nghĩ suy nghĩ nào, sẽ suy nghĩ suy nghĩ đó; không muốn suy nghĩ suy nghĩ nào, sẽ không suy nghĩ suy nghĩ đó. Vị ấy đã cắt đứt mong muốn (tham ái / taṇhaṁ), tháo gỡ xiềng xích (kiết sử / saṁyojanaṁ), nhờ hiểu rõ ngạo mạn (mạn / mānābhisamayā) một cách đúng đắn, đã chấm dứt đau khổ.

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Làm Lắng Dịu Suy Nghĩ kết thúc, là kinh thứ mười.

Phẩm Tiếng Rống Sư Tử kết thúc, là phẩm thứ hai.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ quán sát sự nguy hiểm các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy tác ý hành tướng các tầm và an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-