Skip to content

Chương 16

ĐẠI HỘI KẾT TẬP ĐẦU TIÊN

NGƯỜI KỂ MỘT. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn hoàn toàn, các tỳ-kheo rời Kusinārā tỏa đi khắp nơi. Giờ đây, Trưởng lão Mahā-Kassapa nổi lên như một nhân vật lỗi lạc nhất trong Tăng đoàn tỳ-kheo.

NGƯỜI KỂ HAI. Trước đó, ngài từng được Đức Phật xếp thứ tư trong danh sách dài các đại đệ tử xuất chúng. Vị đầu tiên là Trưởng lão Koṇḍañña, người đệ tử đắc đạo đầu tiên; vị thứ hai và thứ ba là các Trưởng lão Sāriputta và Moggallāna, hai vị đại đệ tử thượng thủ, bấy giờ đều đã nhập Niết-bàn. Có rất nhiều câu chuyện về Trưởng lão Mahā-Kassapa trong Kinh điển, nơi ngài hiện lên là một bậc tôn túc nghiêm khắc, quật cường, kiên định không khoan nhượng với hạnh đầu đà khổ hạnh; và đã hơn một lần ngài thẳng thắn khiển trách Trưởng lão Ānanda vì đã quá chiều lòng người khác qua các nghĩa cử vị tha từ tốn, trong khi lẽ ra ngài có thể làm được điều tốt đẹp lâu bền hơn bằng cách viên thành quả vị giải thoát cho chính mình—quả vị mà chính Trưởng lão Mahā-Kassapa đã đạt được.

NGƯỜI KỂ MỘT. Dưới đây là một biến cố trong thời kỳ chuyển tiếp này, khắc họa rõ nét tính cách của ngài.

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. Tôi nghe như vầy. Một thời, đại đức Mahā-Kassapa đang ngụ tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng sóc. Lúc bấy giờ, đại đức Ānanda đang du hành tại vùng Đồi Phía Nam cùng một đại chúng tỳ-kheo. Đúng vào lúc ấy, có ba mươi vị cùng tu học với ngài đã từ bỏ giới hạnh xuất gia và quay lại đời sống thế tục, phần lớn họ đều là những người trẻ tuổi.

Sau khi đại đức Ānanda đã du hành tại vùng Đồi Phía Nam thỏa thích, ngài đến gặp đại đức Mahā-Kassapa tại Trúc Lâm ở Rājagaha. Đảnh lễ xong, ngài ngồi xuống một bên. Đại đức Mahā-Kassapa nói: "Này hiền giả Ānanda, vì lợi ích gì mà Đức Thế Tôn ban hành điều luật không cho phép quá ba tỳ-kheo cùng đi ăn uống tại các gia đình cư sĩ?"

"Bạch Trưởng lão Kassapa, Thế Tôn làm vậy vì ba lợi ích: để chế ngự những kẻ có tâm niệm xấu và đem lại sự an lạc cho những người có chánh niệm, để những kẻ ác tâm không kết bè tạo phái trong Tăng đoàn, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình cư sĩ."

"Vậy thì, này hiền giả Ānanda, cớ sao thầy lại dẫn những tỳ-kheo mới tu này đi du hành khắp nơi, khi các căn của họ chưa được phòng hộ, ăn uống không biết tiết độ, không chuyên tâm tỉnh thức? Người ta cứ ngỡ như thầy đi khắp nơi để tàn phá mùa màng. Người ta cứ ngỡ như thầy đi khắp nơi để làm phiền các gia đình. Đồ chúng của thầy thì tan rã. Những người mới theo đạo thì lần lượt thối thất. Thế mà đứa trẻ này vẫn chưa biết chừng mực của mình!"

"Bạch Trưởng lão Kassapa, trên đầu con tóc đã bắt đầu điểm bạc; xin Trưởng lão đừng gọi con là đứa trẻ nữa."

"Nhưng thầy đúng là như thế, này hiền giả Ānanda. Thầy dẫn những tỳ-kheo mới tu này đi du hành khắp nơi, những người không phòng hộ các căn, ăn uống không biết tiết độ, không chuyên tâm tỉnh thức. Người ta cứ ngỡ như thầy đi khắp nơi để tàn phá hoa màu. Người ta cứ ngỡ như thầy đi khắp nơi để làm phiền các gia đình. Đồ chúng của thầy thì tan rã. Những người mới theo đạo thì lần lượt thối thất. Thế mà đứa trẻ này vẫn chưa biết lượng sức mình!"

Tỳ-kheo-ni Thullānandā 1 nghe được chuyện này. Bà nghĩ: "Xem ra Tôn giả Ānanda, bậc hiền triết xứ Videha, không bằng lòng khi bị Tôn giả Kassapa gọi là đứa trẻ," và bà tức giận buông lời bất bình: "Làm sao Tôn giả Mahā-Kassapa, kẻ vốn từng là người theo ngoại đạo, lại có thể làm phật ý Tôn giả Ānanda, bậc hiền triết xứ Videha, bằng cách gọi ngài là đứa trẻ được chứ?"

Đại đức Mahā-Kassapa nghe được lời này. Ngài liền bảo đại đức Ānanda: "Này hiền giả Ānanda, tỳ-kheo-ni Thullānandā đã ăn nói hồ đồ, thiếu suy nghĩ. Kể từ khi tôi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không gia đình, tôi chưa từng tôn ai làm Thầy ngoài Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Thuở trước, khi còn là người thế tục, tôi đã nghĩ: 'Đời sống gia đình thì chật chội và đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thì thênh thang khoáng đạt. Sống trong gia đình thật khó mà thực hành một đời sống phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh như vỏ ốc được đánh bóng. Hay là ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ đời sống gia đình để sống đời không gia đình?' Về sau, tôi tự may một chiếc áo choàng chắp vá từ những mảnh giẻ vụn. Rồi tôi cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa vì lòng hướng về các bậc A-la-hán trên đời, và xuất gia rời bỏ mái ấm gia đình, bước vào đời sống không nhà.

"Sau khi xuất gia, trên đường đi, tôi nhìn thấy Đức Thế Tôn ngồi tại bảo tháp Bahuputta, nằm giữa Rājagaha và Nālandā. Khi trông thấy Ngài, tôi nghĩ: 'Nếu đời này ta có tôn nhận một bậc Đạo Sư, ta chỉ tôn nhận Đức Thế Tôn. Nếu có tôn nhận một bậc Thiện Thệ, ta chỉ tôn nhận Đức Thế Tôn. Nếu có tôn nhận một bậc Chánh Đẳng Giác, ta chỉ tôn nhận Đức Thế Tôn.' Rồi tôi sụp lạy dưới chân Ngài và bạch: 'Bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con; con là đệ tử của Ngài. Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con; con là đệ tử của Ngài.' Bấy giờ Đức Thế Tôn dạy: 'Này Kassapa, nếu một ai đó, đối với một người đệ tử có lòng chí thành như thầy, mà không biết lại nói “ta biết”, không thấy lại nói “ta thấy”, thì đầu kẻ ấy sẽ vỡ tan. Nhưng vì biết Như Lai mới nói “ta biết”, vì thấy Như Lai mới nói “ta thấy”. Do đó, này Kassapa, thầy phải rèn luyện như sau: “Lòng hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi sâu sắc phải luôn được an lập nơi ta đối với các bậc trưởng lão tỳ-kheo, các tỳ-kheo mới tu và các tỳ-kheo bậc trung.” Và thầy phải rèn luyện như sau: “Ta sẽ lắng nghe Chánh pháp với tâm sẵn sàng tiếp nhận, lắng tai, chú ý và đem trọn tâm trí hướng vào bất cứ điều gì dẫn đến thiện pháp.” Và thầy phải rèn luyện như sau: “Ta sẽ không bao giờ lơ là việc hoan hỷ thực hành niệm thân.” Thầy phải rèn luyện như vậy.' Sau khi Đức Thế Tôn trao cho tôi những lời giáo giới ấy, Ngài đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

"Tôi thọ dụng đồ khất thực của người dân trong xứ như một kẻ mắc nợ chỉ trong bảy ngày. Đến ngày thứ tám, thắng trí rốt ráo khởi sinh. Rồi Đức Thế Tôn rời con đường cái và đi đến nghỉ dưới một gốc cây. Tôi gấp tư chiếc áo choàng chắp vá bằng giẻ rách của mình lại và bạch với Ngài: 'Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ngồi lên đây, để đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.' Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn. Rồi Ngài nói: 'Tấm áo choàng chắp vá bằng giẻ rách của thầy mềm mại thật đấy, này Kassapa.' — 'Bạch Thế Tôn, vì lòng từ mẫn, xin Thế Tôn nhận lấy tấm áo choàng chắp vá này từ con.' — 'Thế thầy có chịu mặc tấm y bằng vải gai thô nhặt từ đống rác mà Như Lai bỏ lại không, này Kassapa?'

'Bạch Thế Tôn, con sẽ mặc tấm y bằng vải gai thô nhặt từ đống rác mà Thế Tôn bỏ lại.' Tôi đã dâng lên Đức Thế Tôn tấm áo choàng chắp vá của mình, và đổi lấy tấm y bằng vải gai thô rách mà Đức Thế Tôn bỏ lại. Nếu có thể nói về một ai đó rằng: 'Vị ấy là đứa con chân thật của Đức Thế Tôn, sinh ra từ kim khẩu Ngài, sinh ra từ Chánh pháp, được tạo thành bởi Chánh pháp, là người kế thừa Chánh pháp, là người nhận lấy tấm y phấn tảo bằng vải gai thô mà Ngài bỏ lại', thì người đó đích thực phải là tôi."

NGƯỜI KỂ MỘT. Ngài kể tiếp về việc ngài có thể tùy ý nhập và an trú trong bốn tầng thiền định, bốn tầng thiền vô sắc, và cả diệt thọ tưởng định bất cứ lúc nào ngài muốn; bên cạnh đó ngài còn đắc được năm loại thắng trí thế gian, tức là thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, và thiên nhãn để thấy sự sinh tử của chúng sinh tùy theo nghiệp của họ. Ngài kết luận:

GIỌNG ĐỌC THỨ NHẤT. "Bất cứ khi nào tôi muốn, bằng sự tự mình chứng ngộ với thắng trí ngay trong đời này, tôi nhập và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, nhờ sự đoạn trừ sạch các lậu hoặc. Kẻ nào tưởng rằng mình có thể làm lu mờ tôi về sáu loại thắng trí này thì chẳng khác nào nghĩ rằng có thể dùng một chiếc lá thốt nốt mà che khuất được một thớt voi ngà cao mười bốn bộ trở lên."

Về sau, tỳ-kheo-ni Thullānandā đã hoàn tục, từ bỏ đời sống phạm hạnh.

S. 16:11

NGƯỜI KỂ HAI. Lúc này mới chỉ vài tuần trôi qua sau ngày Đại Bát-niết-bàn.

GIỌNG ĐỌC THỨ BA. Đại đức Mahā-Kassapa nói: "Này các hiền giả, giờ đây chúng ta hãy cùng nhau kết tập Giáo Pháp và Giới Luật, tức Pháp và Luật. Tà pháp và phi luật đã bắt đầu được dung dưỡng, còn chánh pháp và chân luật lại bị coi thường. Kẻ cổ súy tà pháp và phi luật thì ngày càng mạnh, còn người gìn giữ chánh pháp và chân luật lại yếu thế."

"Vậy thì bạch Trưởng lão, xin Trưởng lão hãy triệu tập một đại hội tỳ-kheo."

Do đó, đại đức Mahā-Kassapa đã triệu tập một đại hội gồm năm trăm vị A-la-hán thiếu một; bởi vì các tỳ-kheo đã thưa: "Còn có đại đức Ānanda. Dù ngài vẫn còn là bậc hữu học—mới chứng quả Dự lưu—nhưng ngài tuyệt đối không bao giờ rơi vào ác đạo vì tham, sân, si hay sợ hãi. Ngài đã thấu suốt rất nhiều Pháp và Luật vô cùng sâu rộng ngay trước mặt Đức Thế Tôn. Kính xin Trưởng lão hãy triệu tập cả đại đức Ānanda nữa."

Vì vậy ngài đã triệu tập cả đại đức Ānanda. Sau đó ngài hỏi các tỳ-kheo: "Chúng ta sẽ tiến hành kết tập ở đâu?"

Các trưởng lão tỳ-kheo suy tính: "Rājagaha là một đô thành lớn, có nhiều chỗ cư ngụ. Hay là chúng ta đến Rājagaha và an cư mùa mưa ở đó?" Thế là đại đức Mahā-Kassapa đệ trình một tuyên ngôn trước Tăng đoàn:

"Bạch chư Tăng, xin hãy lắng nghe tôi. Nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, Tăng đoàn hãy quyết nghị như sau: cho phép năm trăm tỳ-kheo này an cư mùa mưa tại Rājagaha nhằm mục đích kết tập Pháp và Luật, và không một tỳ-kheo nào khác được an cư mùa mưa tại Rājagaha. Đây là đề xuất. Bạch chư Tăng, xin hãy lắng nghe; Tăng đoàn quyết nghị như sau: năm trăm vị tỳ-kheo này sẽ an cư mùa mưa tại Rājagaha để kết tập Pháp và Luật, và không một tỳ-kheo nào khác được ở lại Rājagaha trong mùa mưa này. Vị nào đồng ý xin giữ im lặng; vị nào không đồng ý xin lên tiếng. Tăng đoàn đã đồng thuận quyết nghị này, do đó Tăng đoàn giữ im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy."

Sau đó, các vị trưởng lão tỳ-kheo vân tập về Rājagaha để kết tập Pháp và Luật. Tuy nhiên, các ngài nhận thấy: "Đức Thế Tôn từng khuyến khích việc tu bổ những nơi hư hao, dột nát. Vậy thì, này các hiền giả, chúng ta hãy lo việc này trong tháng đầu tiên. Đến tháng thứ hai, chúng ta sẽ họp nhau lại để tiến hành kết tập."

Trong khi đó, thời điểm đã cận kề và đại đức Ānanda nghĩ: "Ngày mai là đại hội rồi. Thật không xứng hợp nếu mình bước vào hội trường chỉ với tư cách là một bậc hữu học." Ngài dành phần lớn thời gian ban đêm để quán chiếu thân. Khi đêm sắp tàn, trời gần rạng sáng, ngài nghĩ: "Mình sẽ nằm nghỉ một chút"; nhưng ngài vẫn duy trì trọn vẹn chánh niệm về thân. Đúng vào khoảnh khắc khi đầu ngài chưa chạm tới gối và chân vừa rời khỏi mặt đất, tâm ngài ngay trong tích tắc ấy đã được giải thoát khỏi mọi lậu hoặc nhờ không còn chấp thủ. Thế là đại đức Ānanda bước vào đại hội với tư cách một vị A-la-hán.

Bấy giờ, đại đức Mahā-Kassapa đệ trình một đề xuất trước Tăng đoàn: "Bạch chư Tăng, xin lắng nghe tôi; nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, tôi xin được chất vấn đại đức Upāli về Giới Luật."

Đại đức Upāli cũng đệ trình một đề xuất trước Tăng đoàn: "Bạch chư Tôn giả, xin hãy lắng nghe con; nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, con, khi được đại đức Mahā-Kassapa chất vấn về Giới Luật, xin được trả lời."

Rồi đại đức Mahā-Kassapa hỏi đại đức Upāli:

"Này hiền giả Upāli, giới Bất Cộng Trụ (Ba-la-di) thứ nhất được ban hành ở đâu?"

"Bạch Trưởng lão, tại Vesālī."

"Liên quan đến ai?"

"Liên quan đến Sudinna Kalandaputta."

"Về vấn đề gì?"

"Về hành vi quan hệ tình dục."

NGƯỜI KỂ HAI. Trưởng lão Mahā-Kassapa sau đó chất vấn Trưởng lão Upāli về trường hợp vi phạm giới Bất Cộng Trụ thứ nhất, duyên khởi, đương sự, lời ban hành giới, các điều khoản sửa đổi, hành vi cấu thành tội, và trường hợp không phạm tội. Tiếp đó, ngài cũng chất vấn tương tự về ba giới Bất Cộng Trụ còn lại—trộm cắp, sát nhân, và cố ý khoe khoang sai sự thật về các chứng đắc tâm linh. Bằng cách ấy, ngài đã chất vấn về hai Bộ giới bổn, tức Pātimokkha của tỳ-kheo và của tỳ-kheo-ni, cùng tất cả các điều luật khác đã được chế định. Trưởng lão Upāli đã trả lời rành rẽ từng câu hỏi một.

GIỌNG ĐỌC THỨ BA. Sau đó, đại đức Mahā-Kassapa đệ trình một đề xuất trước Tăng đoàn: "Bạch chư Tăng, xin lắng nghe tôi; nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, tôi xin được chất vấn đại đức Ānanda về Giáo Pháp."

Đại đức Ānanda đệ trình một đề xuất trước Tăng đoàn: "Bạch chư Tôn giả, xin hãy lắng nghe con; nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, con, khi được đại đức Mahā-Kassapa chất vấn về Giáo Pháp, xin được trả lời."

Rồi đại đức Mahā-Kassapa hỏi đại đức Ānanda: "Này hiền giả Ānanda, Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta) được thuyết ở đâu?"

"Bạch Trưởng lão, tại trạm nghỉ của hoàng gia ở Ambalaṭṭhikā, nằm giữa Rājagaha và Nālandā."

"Liên quan đến ai?"

"Liên quan đến du sĩ Suppiya và người đệ tử Bà-la-môn là Brahmadatta."

NGƯỜI KỂ HAI. Sau đó, Trưởng lão chất vấn về nguồn gốc của Kinh Phạm Võng, bài kinh mở đầu Trường Bộ Kinh, và về các nhân vật liên quan. Tiếp theo, ngài cũng chất vấn về Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta) theo cùng một trình tự. Cứ như thế, ngài đã chất vấn về tất cả các bài kinh tương thích trong cả bốn Bộ kinh chính của Kinh Tạng (Sutta Piṭaka).

GIỌNG ĐỌC THỨ BA. Bấy giờ đại đức Ānanda bạch với các vị trưởng lão tỳ-kheo: "Bạch chư Tôn giả, vào thời điểm Đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, Ngài có dạy con: 'Nếu muốn, Tăng đoàn có thể bãi bỏ các giới điều nhỏ nhặt và kém quan trọng sau khi Như Lai qua đời.'"

"Nhưng này hiền giả Ānanda, thầy có hỏi Đức Thế Tôn những giới điều nhỏ nhặt và kém quan trọng ấy là những giới nào không?"

"Bạch chư Tôn giả, con đã không hỏi."

NGƯỜI KỂ HAI. Các vị trưởng lão đã đưa ra nhiều ý kiến bất đồng về việc những giới nào, ngoài bốn giới Bất Cộng Trụ, nên được xem là giới nhỏ nhặt và kém quan trọng. Bấy giờ, đại đức Mahā-Kassapa đã đệ trình một quyết nghị trước Tăng đoàn.

GIỌNG ĐỌC THỨ BA. "Bạch chư Tăng, xin lắng nghe tôi; trong các giới điều tu học của chúng ta, có những giới liên quan mật thiết đến người thế tục, nhờ đó mà người thế tục biết điều gì được phép làm đối với các sa-môn Thích tử và điều gì không. Nếu chúng ta bãi bỏ các giới nhỏ nhặt và kém quan trọng này, thiên hạ sẽ nói rằng: 'Các giới điều do Sa-môn Gotama truyền dạy cho đệ tử chỉ tồn tại trong thời gian cho đến khi thiêu xác ngài; họ chỉ giữ giới chừng nào ngài còn hiện diện, còn giờ đây khi ngài đã nhập Niết-bàn thì họ liền vứt bỏ giới luật.' Nếu Tăng đoàn thấy hợp thời, những gì chưa được ban hành thì không ban hành thêm, và những gì đã được ban hành thì không được bãi bỏ; Tăng đoàn hãy nghiêm trì đúng theo các giới luật như đã được công bố." Quyết nghị này được đưa ra trước Tăng đoàn và đã được thông qua.

Sau đó, các vị trưởng lão tỳ-kheo bảo đại đức Ānanda: "Này hiền giả Ānanda, đây là một lỗi lầm của thầy: thầy đã không hỏi Đức Thế Tôn những giới nào là giới nhỏ nhặt và kém quan trọng. Hãy sám hối lỗi lầm đó đi."

"Bạch chư Tôn giả, vì thiếu chánh niệm nên con đã không hỏi Đức Thế Tôn điều ấy. Bản thân con không thấy đó là lỗi lầm. Tuy nhiên, vì lòng tin nơi chư Tôn giả, con xin nhận đó là một lỗi lầm."

"Đây cũng là một lỗi lầm của thầy: thầy đã dẫm chân lên chiếc y tắm mưa của Đức Thế Tôn khi may y. Hãy sám hối lỗi lầm đó đi."

"Bạch chư Tôn giả, con làm vậy tuyệt đối không phải vì bất kính với Đức Thế Tôn. Bản thân con không thấy đó là lỗi lầm. Tuy nhiên, vì lòng tin nơi chư Tôn giả, con xin nhận đó là một lỗi lầm."

"Đây cũng là một lỗi lầm của thầy: thầy đã để phụ nữ đảnh lễ kim thân của Đức Thế Tôn trước tiên. Họ đã khóc than, khiến kim thân của Đức Thế Tôn bị vấy bẩn bởi nước mắt của họ. Hãy sám hối lỗi lầm đó đi."

"Bạch chư Tôn giả, con cho họ làm vậy là vì muốn họ được thuận tiện, không bị trễ nải thời khắc. Bản thân con không thấy đó là lỗi lầm. Tuy nhiên, vì lòng tin nơi chư Tôn giả, con xin nhận đó là một lỗi lầm."

"Đây cũng là một lỗi lầm của thầy: ngay cả khi đã được Đức Thế Tôn đưa ra một gợi ý rõ ràng, một dấu hiệu hiển nhiên đến thế, thầy vẫn không thỉnh cầu Đức Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy trụ thế trọn một kiếp, xin Đấng Thiện Thệ hãy sống trọn một kiếp, vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với cuộc đời, vì sự an vui, lợi lạc và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại.' Hãy sám hối lỗi lầm đó đi."

"Bạch chư Tôn giả, lúc ấy tâm trí con bị Ma vương che mờ nên con đã không thỉnh cầu Đức Thế Tôn. Bản thân con không thấy đó là lỗi lầm. Tuy nhiên, vì lòng tin nơi chư Tôn giả, con xin nhận đó là một lỗi lầm."

"Đây cũng là một lỗi lầm của thầy: thầy đã tha thiết can thiệp để nữ giới được xuất gia trong Giáo Pháp và Giới Luật do Đấng Toàn Chân tuyên thuyết. Hãy sám hối lỗi lầm đó đi."

"Bạch chư Tôn giả, con làm thế vì nghĩ rằng bà Mahāpajāpati Gotamī là dì ruột của Đức Thế Tôn, là người dưỡng nuôi, mẹ kế, người đã cho Ngài bú mớm khi thân mẫu Ngài qua đời. Bản thân con không thấy đó là lỗi lầm. Tuy nhiên, vì lòng tin nơi chư Tôn giả, con xin nhận đó là một lỗi lầm."

Vin. Cv. 11:1-10

Lúc bấy giờ, đại đức Purāṇa đang du hành tại vùng Đồi Phía Nam cùng một đại chúng tỳ-kheo đông đảo gồm năm trăm vị. Sau khi Pháp và Luật đã được các bậc trưởng lão kết tập xong, đại đức Purāṇa sau thời gian du hành ở vùng Đồi Phía Nam thỏa thích, đã đến gặp các vị trưởng lão tại Trúc Lâm ở Rājagaha. Các ngài bảo vị ấy: "Này hiền giả Purāṇa, Pháp và Luật đã được chư vị trưởng lão kết tập chu đáo. Thầy có tán thành cuộc kết tập này không?"

"Này các hiền giả, Pháp và Luật đã được các bậc trưởng lão kết tập rất khéo. Tuy nhiên, phần tôi, tôi sẽ chỉ ghi nhớ theo đúng những gì chính tai tôi đã nghe, chính mắt tôi đã chứng kiến từ kim khẩu của Đức Thế Tôn."

Vin. Cv. 11:11

NGƯỜI KỂ MỘT. Giờ đây là một câu chuyện cuối cùng, cho thấy Tăng đoàn non trẻ vẫn tiếp tục sinh hoạt sau khi Đấng Sáng lập qua đời và tự khẳng định mình là một thực thể vững vàng—một đoàn thể đã tồn tại liên tục và phát triển rực rỡ suốt hai thiên niên kỷ rưỡi cho đến tận ngày nay.

GIỌNG ĐỌC THỨ BA. Tôi nghe như vầy. Một thời, đại đức Ānanda đang ngụ tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng sóc, không lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn hoàn toàn.

Vào thời điểm đó, Vua Ajātasattu Vedehiputta xứ Magadha đang cho củng cố các thành lũy phòng thủ của Rājagaha, vì ông luôn nghi kỵ Vua Pajjota xứ Avanti.

Vào buổi sáng, đại đức Ānanda đắp y, cầm bát và đại y, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Bấy giờ ngài nghĩ: "Giờ này đi khất thực trong thành Rājagaha hãy còn quá sớm. Hay là mình đến xem công trường đang thi công của quan đại thần Moggallāna, vị Bà-la-môn phụ trách quốc phòng?"

Ngài liền đi đến đó. Vị Bà-la-môn trông thấy ngài từ xa đi tới, liền nói: "Kính mời Tôn giả Ānanda bước vào. Nhiệt liệt hoan nghênh Tôn giả Ānanda. Đã lâu lắm rồi Tôn giả Ānanda mới lại ghé qua đây. Kính mời Tôn giả ngồi. Chỗ ngồi đã được dọn sẵn."

Đại đức Ānanda ngồi xuống chỗ đã chuẩn bị sẵn, trong khi vị Bà-la-môn lấy một chiếc ghế thấp hơn và ngồi xuống một bên. Ông hỏi: "Thưa Tôn giả Ānanda, liệu có một vị tỳ-kheo nào sở hữu trọn vẹn về mọi phương diện tất cả những phẩm chất mà Tôn giả Gotama từng có không?"

"Không có đâu, này Bà-la-môn. Bởi vì Đức Thế Tôn là người làm khởi sinh con đường chưa từng được khởi sinh, người khai mở con đường chưa từng được khai mở, người công bố con đường chưa từng được công bố, là bậc thấu suốt đạo, thấy rõ đạo, am tường về đạo. Còn các đệ tử ngày nay sống phù hợp với con đường ấy, họ chỉ là những người tiếp bước theo sau Ngài."

Tuy nhiên, cuộc trò chuyện giữa họ phải tạm dừng ở đây, vì Bà-la-môn Vassakāra, quan đại thần xứ Magadha, người đang đi kiểm tra các công trình phòng thủ tại Rājagaha, đã đến chỗ đại đức Ānanda, nơi công trường của đại thần Moggallāna đang tiến hành. Ông ngỏ lời chào hỏi xã giao, sau khi dứt những lời thăm hỏi lịch thiệp, ông ngồi xuống một bên và hỏi: "Hai vị đang bàn luận chuyện gì vậy? Và câu chuyện dang dở lúc nãy là gì?"

Đại đức Ānanda kể lại cho ông nghe cuộc đàm đạo vừa diễn ra, rồi nói thêm: "Đó là câu chuyện dở dang của chúng tôi, vừa lúc ngài đến."

"Thưa Tôn giả Ānanda, có vị tỳ-kheo nào từng được Tôn giả Gotama chỉ định như vầy: 'Vị này sẽ là nơi nương tựa cho các ngươi khi ta qua đời,' để giờ đây quý vị có thể nương tựa vào vị ấy không?"

"Không có vị tỳ-kheo nào được Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác chỉ định như vậy cả."

"Vậy thì, thưa Tôn giả Ānanda, có vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chọn lựa, được đa số các vị trưởng lão tỳ-kheo đồng lòng suy cử như vầy: 'Vị này sẽ là nơi nương tựa cho chúng ta khi Đức Thế Tôn qua đời,' để quý vị có thể nương tựa vào lúc này không?"

"Cũng không có vị tỳ-kheo nào như thế, này Bà-la-môn."

"Nhưng nếu không có một vị lãnh đạo làm nơi nương tựa, thưa Tôn giả Ānanda, thì điều gì giữ cho quý vị luôn hòa hợp được?"

"Chúng tôi không hề thiếu nơi nương tựa, này Bà-la-môn. Chúng tôi có một nơi nương tựa vững chắc. Giáo Pháp chính là nơi nương tựa của chúng tôi."

"Thưa Tôn giả Ānanda, ý nghĩa của lời khẳng định này nên được hiểu như thế nào?"

"Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, đã ban hành các điều luật tu học cho các tỳ-kheo, và Ngài đã thiết lập Giới bổn Pātimokkha. Cứ mỗi nửa tháng vào ngày Bố-tát (Uposatha), tất cả những ai trong chúng tôi cùng cư trú trong một ranh giới địa phương đều tập hợp lại, và khi họp nhau như thế, chúng tôi cử ra vị thông thuộc Giới bổn Pātimokkha để tụng đọc. Nếu một tỳ-kheo nào có vi phạm, có lầm lỗi, khi Giới bổn này được tuyên đọc, chúng tôi sẽ xử lý vị ấy theo đúng Pháp, đúng Luật: chắc chắn không phải con người chi phối chúng tôi, mà chính Giáo Pháp hướng dẫn và chi phối hành động của chúng tôi."

"Thưa Tôn giả Ānanda, vậy hiện nay có vị tỳ-kheo nào mà quý vị tôn kính, kính trọng, sùng kính, ngưỡng mộ, và nương tựa để sống, luôn một lòng tôn kính và nể phục vị ấy không?"

"Có một vị tỳ-kheo như vậy, này Bà-la-môn."

"Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, khi được hỏi: 'Có vị tỳ-kheo nào được Tôn giả Gotama chỉ định rằng: “Vị này sẽ là nơi nương tựa của các ngươi khi ta qua đời” không?' thì ngài đáp không có. Và khi được hỏi: 'Vậy có vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chọn lựa, được đa số các trưởng lão tỳ-kheo suy cử rằng: “Vị này sẽ là nơi nương tựa của chúng ta khi Đức Thế Tôn qua đời” để quý vị nương tựa không?' ngài cũng đáp không có. Thế nhưng khi được hỏi: 'Có vị tỳ-kheo nào mà quý vị tôn kính, kính trọng, sùng kính, ngưỡng mộ và nương tựa để sống, luôn tôn kính và nể phục vị ấy không?' thì ngài lại đáp là có. Vậy ý nghĩa của những lời này cần phải được hiểu ra sao?"

"Này Bà-la-môn, có mười phẩm hạnh khơi dậy niềm tin và lòng kính ngưỡng đã được Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác thuyết giảng. Khi một người trong chúng tôi thể hiện rõ mười phẩm hạnh ấy, chúng tôi sẽ tôn kính, kính trọng, sùng kính và ngưỡng mộ vị ấy, đồng thời nương tựa nơi vị ấy để sống trong sự tôn kính và nể trọng. Mười điều ấy là gì?

"Ở đây, một tỳ-kheo là người có giới hạnh, phòng hộ nghiêm mật theo Giới bổn Pātimokkha, trọn vẹn trong oai nghi và chánh hạnh; thấy sự nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhặt nhất, vị ấy nghiêm túc rèn luyện theo các học giới. Vị ấy là người nghe nhiều hiểu rộng, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã nghe; những lời dạy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối cả về ý nghĩa lẫn văn tự, hiển bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh—những lời dạy ấy vị ấy học kỹ, ghi nhớ, trùng tuyên bằng lời, suy xét trong tâm, và thấu suốt trọn vẹn bằng chánh kiến. Vị ấy biết bằng lòng với y áo, vật thực khất thực, chỗ ở và thuốc men trị bệnh. Vị ấy có thể chứng đạt tùy ý, không chút khó khăn hay trở ngại, bốn tầng thiền định thuộc về tâm thượng đẳng, đem lại sự an trú lạc thọ ngay trong hiện tại. Vị ấy thi triển được nhiều loại thần thông: từ một thân hóa ra nhiều thân, từ nhiều thân trở lại một thân; thoắt ẩn thoắt hiện; đi xuyên qua tường vách, xuyên qua thành lũy, xuyên qua núi non như đi trong hư không; lặn xuống đất trồi lên như ở trong nước; ngồi kiết già bay liệng trên không trung như chim trời; dùng tay chạm và vuốt ve cả mặt trăng lẫn mặt trời vốn đầy oai lực và rực rỡ; vận dụng quyền năng của thân cho đến tận cõi Phạm thiên. Với thiên nhĩ thanh tịnh vượt xa người phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, âm thanh cõi trời lẫn cõi người, ở xa cũng như ở gần. Vị ấy dùng tâm mình thấu suốt tâm của các chúng sinh khác, của những người khác; vị ấy biết rõ tâm có tham là tâm có tham... (xem Chương 12, tr. 243) ...và tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát. Vị ấy nhớ lại muôn vàn đời sống quá khứ của mình... (xem Chương 2, tr. 23). Với thiên nhãn thanh tịnh vượt xa người phàm, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh... (xem Chương 2, tr. 24) ...Vị ấy hiểu rõ các chúng sinh lưu chuyển theo nghiệp báo của họ như thế nào. Nhờ tự mình chứng ngộ với thắng trí, ngay trong hiện tại vị ấy nhập và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, nhờ sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc. Đó chính là mười phẩm hạnh."

Nghe xong những lời ấy, Bà-la-môn Vassakāra quay sang Đại tướng Upananda hỏi: "Ý tướng quân thế nào? Nếu những bậc tôn quý này tôn kính một người xứng đáng được tôn kính theo cách ấy, thì chẳng phải họ đang làm điều hoàn toàn đúng đắn sao? Vì nếu không làm thế, họ biết lấy ai để tôn kính, kính trọng, sùng bái, ngưỡng mộ, và biết nương tựa vào ai để sống trong sự cung kính và nể trọng đây?"

Bà-la-môn Vassakāra sau đó hỏi đại đức Ānanda: "Hiện nay Tôn giả Ānanda đang ngụ ở đâu?"

"Hiện tôi đang ngụ tại Trúc Lâm, này Bà-la-môn."

"Tôi hy vọng, thưa Tôn giả Ānanda, Trúc Lâm vẫn là nơi thanh nhã, yên tĩnh, không bị tiếng ồn quấy rầy, mang bầu không khí u tịch, có thể ẩn cư lánh xa người đời và vô cùng thuận lợi cho việc tĩnh tu?"

"Quả thực, này Bà-la-môn, Trúc Lâm có được tất cả những phẩm chất ấy chính là nhờ vào những người bảo hộ và che chở như các ngài."

"Thưa Tôn giả Ānanda, Trúc Lâm có được những phẩm chất ấy chính là nhờ vào các bậc thiện nhân tu tập và thực hành thiền định; bởi vì các bậc thiện nhân này thực sự chứng đắc thiền và thực hành thiền. Có lần Tôn giả Gotama ngụ tại Vesālī trong ngôi Giảng đường Trùng Các ở Đại Lâm. Khi ấy tôi đã đến đó yết kiến Ngài. Tại đó, Tôn giả Gotama đã đàm luận về thiền định theo nhiều phương diện. Tôn giả Gotama là người thực hành thiền và rất thuần thục với thiền định. Trên thực tế, Tôn giả Gotama tán thán mọi hình thức thiền định."

"Đức Thế Tôn không hề tán thán mọi hình thức thiền định đâu, này Bà-la-môn; Ngài cũng không chỉ trích mọi hình thức thiền định. Những loại thiền nào mà Đức Thế Tôn không tán thán? Ở đây, có kẻ an trú với tâm bị dục vọng xâm chiếm, làm mồi cho dục vọng, và không hiểu biết đúng đắn con đường giải thoát khỏi dục vọng. Hắn vẫn đặt dục vọng lên hàng đầu, cho dù hắn có thiền, thiền quá mức, buông thiền rồi lại thiền trở lại. Tương tự như vậy, hắn bị sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử lo âu, hay hoài nghi chi phối. Đức Thế Tôn không tán thán lối thiền như thế.

"Và loại thiền nào được Đức Thế Tôn tán thán? Ở đây, một người hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và an trú vào Sơ thiền, trạng thái hỷ lạc do viễn ly sinh, có tầm và tứ. Rồi vị ấy chứng và an trú vào Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Đó là loại thiền mà Đức Thế Tôn tán thán."

"Như vậy, thưa Tôn giả Ānanda, có vẻ như Tôn giả Gotama chỉ bài bác loại thiền đáng bị bài bác và tán thán loại thiền xứng đáng được tán thán. Và giờ đây, thưa Tôn giả Ānanda, chúng tôi xin phép cáo lui; chúng tôi rất bận rộn và còn nhiều việc phải làm."

"Thưa Bà-la-môn, xin ngài cứ tùy nghi."

Sau đó, Bà-la-môn Vassakāra, quan đại thần xứ Magadha, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sau khi đã hoan hỷ đồng thuận với những lời của đại đức Ānanda, ông liền ra về. Chẳng bao lâu sau khi ông đi khỏi, quan đại thần quốc phòng, Bà-la-môn Moggallāna, liền nói: "Tôn giả Ānanda vẫn chưa trả lời câu hỏi của chúng tôi."

"Chẳng phải tôi đã nói với ngài rồi sao, này Bà-la-môn: 'Không có một tỳ-kheo nào sở hữu trọn vẹn về mọi phương diện tất cả những phẩm chất mà Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác từng sở hữu; bởi vì Đức Thế Tôn là người làm khởi sinh con đường chưa từng khởi sinh, người khai mở con đường chưa từng khai mở, người công bố con đường chưa từng được công bố, là bậc thấu suốt đạo, thấy rõ đạo, am tường về đạo; còn các đệ tử ngày nay sống phù hợp với con đường ấy, họ chỉ là những người tiếp bước theo sau Ngài'?"

MN-108

NGƯỜI KỂ HAI. Trong khi đó, Vua Ajātasattu quyết tâm tiêu diệt nước láng giềng quá hùng mạnh của mình là Liên minh Vajjī, có thủ đô là Vesālī nằm ở phía đông bắc bên kia sông Hằng. Để giúp vua đạt được mục đích này, Vassakāra đã đóng giả làm một kẻ mưu phản; ông cố tình để mình bị kết tội phản quốc rồi chạy sang Vesālī xin tị nạn. Ba năm tiếp theo được ông dùng để khéo léo gieo rắc mối ngờ vực và nghi kỵ lẫn nhau giữa các thành viên trong liên minh. Khi nhận thấy thời cơ đã chín muồi, ông bí mật báo tin cho Vua Ajātasattu. Giới lãnh đạo Vesālī lúc bấy giờ đã quá chia rẽ, không còn sức tự vệ cho đất nước, và Ajātasattu nhanh chóng kết thúc một cuộc xâm lược thắng lợi bằng một cuộc tàn sát đẫm máu trên diện rộng đối với dân chúng. Đó là dấu chấm hết cho nền độc lập của xứ Vajjī. Vua Viḍūḍabha xứ Kosala nhanh chóng noi gương người anh em họ của mình bằng cách xua quân tràn qua lãnh thổ của người Sakya và Koliya ở biên giới phía đông bắc, và đối xử tàn bạo với dân chúng nơi đó theo cùng một cách.

NGƯỜI KỂ MỘT. Bức màn của giai đoạn đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ khép lại tại đây. Trong suốt một thế kỷ rưỡi tiếp theo (150 năm), cho đến khi Đế chế Maurya trỗi dậy với triều đại mới, lịch sử không ghi chép điều gì ngoài tên tuổi của các vị vua xứ Magadha và bản tường thuật về Đại hội kết tập lần thứ hai của các vị A-la-hán một trăm năm sau ngày Đức Phật Đại Bát-niết-bàn. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, vương quốc Kosala hùng mạnh ở phương bắc đã biến mất (bằng cách nào thì chúng ta không rõ), và Chandragupta (nhà du hành Hy Lạp Megasthenes gọi là 'Sandrocottos'), với tư cách là người kế thừa của xứ Magadha cổ xưa, đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ lưu vực sông Hằng với thủ đô lúc này dời về Patna (Pāṭaliputta).

Bản tường thuật về Đại hội kết tập lần thứ hai chắc chắn đã được bổ sung vào Luật Tạng (Vinaya Piṭaka) vào chính thời điểm diễn ra kỳ đại hội đó. Kinh điển lại được trùng tuyên một lần nữa, và người ta có thể phỏng đoán rằng chính vào lúc này, một số ít bài kinh đề cập đến giai đoạn sau Đại hội kết tập lần thứ nhất đã được sáp nhập vào Kinh Tạng (Sutta Piṭaka). Tại kỳ đại hội kết tập lần thứ ba diễn ra dưới thời trị vì của Hoàng đế Asoka (cháu nội của Chandragupta), Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) đã được hoàn tất bằng việc bổ sung một cuốn sách luận giải về các dị kiến tà thuyết, và Tam Tạng (Tipiṭaka) xem như được chính thức khép lại.

Vào thời kỳ này, mười tám bộ phái khác nhau đã nảy sinh. Bộ phái Theravāda (Trưởng Lão Bộ) chiếm ưu thế áp đảo dưới thời vua Asoka, người đã đích thân quy y Phật pháp. Con trai ngài (hoặc theo một số truyền thống, là cháu ngài), Trưởng lão A-la-hán Mahinda, đã truyền bá Tam Tạng Pāli cùng các Chú giải sang Ceylon (Tích Lan/Sri Lanka), 2 trong khi các vị trưởng lão khác đi hoằng hóa ở các quốc gia khác. Chính bộ Tam Tạng Pāli này đã được gìn giữ nguyên vẹn cho đến tận ngày nay ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan và Campuchia, nơi truyền thống Theravāda vẫn đang nở rộ.

Nếu chúng ta căn cứ theo những ghi chép của nhà du hành Trung Hoa Nghĩa Tịnh, người đã đến Ấn Độ (nhưng không sang Tích Lan) vào cuối thế kỷ thứ bảy, thì Trưởng Lão Bộ (Theravāda) chiếm ưu thế trên toàn bộ nửa phía nam Ấn Độ, trong khi Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda, với kinh điển bằng tiếng Phạn được coi là ít cổ xưa hơn tiếng Pāli. Sarvāstivāda = "học thuyết cho rằng tất cả đều tồn tại"; sarvakālāstitva-vāda: chủ trương rằng các pháp có sự tồn tại xuyên suốt (quá khứ, hiện tại, vị lai) ) chiếm ưu thế ở nửa phía bắc, dù các bộ phái khác cũng phân bố rộng rãi ở nhiều vùng. Kinh điển của Nhất Thiết Hữu Bộ lan truyền về phía bắc và phía đông, còn Kinh điển Pāli lan truyền về phía nam và phía đông nam. Đại thừa (Mahāyāna), mà Nghĩa Tịnh (bản thân là một tu sĩ thuộc Nhất Thiết Hữu Bộ) dường như ngụ ý rằng vào thời của ông đã có mầm mống trong tất cả hoặc hầu hết các bộ phái, thường được cho là đã khởi nguồn từ một trong số đó, cụ thể là Đại Chúng Bộ (Mahāsanghika). Dù từng có những thời kỳ phát triển rực rỡ ở Tích Lan và Miến Điện, Đại thừa chưa bao giờ lấn át được người đối trọng cổ xưa hơn của mình tại các quốc gia này. Nhưng tại chính quê hương Ấn Độ, Phật giáo dưới mọi hình thức dường như đã biến mất hoàn toàn vào khoảng thế kỷ thứ mười lăm.