MN 60. KINH CHẮC CHẮN
(Apaṇṇakasutta)Bản tóm tắt→
1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo, Ngài đi đến một ngôi làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Sālā.
2. Các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā nghe tin:
"Sa-môn Gotama là con trai nhà Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo đã đến Sālā. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: 'Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, bậc Đạo sư của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn'. Ngài đã tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā) và trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người rồi tuyên bố. Ngài giảng dạy Giáo pháp (pháp / dhamma) toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, Ngài công bố cốt lõi đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh. Thật tốt đẹp thay khi được chiêm ngưỡng một bậc A-la-hán như vậy."
3. Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người chào hỏi Thế Tôn; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Một số người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người xưng tên và dòng họ trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Khi các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với họ điều này:
4. "Này các gia chủ, các vị có vị đạo sư nào ưng ý, nơi các vị đặt niềm tin (tín / saddhā) có cơ sở không?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị đạo sư nào ưng ý, nơi chúng con đặt niềm tin có cơ sở."
"Này các gia chủ, vì các vị chưa tìm được vị đạo sư ưng ý, các vị nên thọ trì và thực hành quy luật (pháp / dhammo) chắc chắn (bất bão / apaṇṇako) này. Này các gia chủ, quy luật chắc chắn khi được thọ trì một cách trọn vẹn sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc (lạc / sukha) lâu dài cho các vị. Này các gia chủ, thế nào là quy luật chắc chắn?
5. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự; không có quả báo của các hành động thiện và ác, không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có chúng sinh sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika); không có các sa-môn và bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn ở đời, những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau'
6. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: 'Có bố thí, có cúng dường, có tế tự; có quả báo của các hành động thiện và ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có chúng sinh sinh ra tự nhiên; có các sa-môn và bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn ở đời, những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau.'
Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào: 'Những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?'"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
7. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có bố thí, không có cúng dường [...lặp lại...] những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau', điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện là: hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện (bất thiện pháp / akusale dhamme) là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn (phiền não / saṅkilesa) của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ (viễn ly / nekkhamme), phần thanh tịnh của những điều thiện.
8. Trong khi thực sự có đời sau, thì vị ấy lại có quan điểm 'không có đời sau'; đó là quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại suy nghĩ 'không có đời sau'; đó là suy nghĩ sai (tà tư duy / micchāsaṅkappo) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại nói 'không có đời sau'; đó là lời nói sai (tà ngữ / micchāvācā) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại nói 'không có đời sau'; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người biết rõ đời sau. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại thuyết phục người khác 'không có đời sau'; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện (duyên / paccaya).
9. Ở đây, này các gia chủ, người có trí cần thận trọng suy xét như sau: 'Nếu không có đời sau, thì người này sau khi chết sẽ được an toàn; nhưng nếu có đời sau, thì người này sau khi chết sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hơn nữa, dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy đúng, không có đời sau; thì ngay trong hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách, đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết hư vô.' Nếu thực sự có đời sau, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt: ngay trong đời hiện tại thì bị những người có trí chê trách, sau khi chết sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.
10. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Có bố thí [...lặp lại...] những người đã tự mình hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau rồi tuyên bố', điều này có thể được dự đoán cho họ: họ sẽ từ bỏ ba điều không thiện : hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.
11. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy có quan điểm 'có đời sau'; đó là Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy suy nghĩ 'có đời sau'; đó là Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappo) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy nói 'có đời sau'; đó là Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy nói 'có đời sau'; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người biết rõ đời sau. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy thuyết phục người khác 'có đời sau'; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.
12. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: 'Nếu có đời sau, thì người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có đời sau; thì ngay trong đời hiện tại, người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định.' Nếu thực sự có đời sau, thì người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.
13. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Người tự làm, người sai bảo làm, người cắt xén, người sai bảo cắt xén, người nướng chín, người sai bảo nướng chín, người gây sầu khổ, người sai bảo gây sầu khổ, người làm mệt mỏi, người sai bảo làm mệt mỏi, người làm rung động, người sai bảo làm rung động, người giết hại sinh mệnh, người lấy của không cho, người đào ngạch khoét vách, người cướp bóc, người trộm cắp nhà vắng, người phục kích trên đường, người đi lại với vợ người, người nói dối; người làm [những việc ấy] không tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát, cắt xén, sai bảo cắt xén, nướng chín, sai bảo nướng chín; thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí, sai bảo bố thí, tế tự, sai bảo tế tự; thì từ nguyên nhân đó cũng không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu.'
14. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: 'Người tự làm, người sai bảo làm, người cắt xén, người sai bảo cắt xén, người nướng chín, người sai bảo nướng chín, người gây sầu khổ, người sai bảo gây sầu khổ, người làm mệt mỏi, người sai bảo làm mệt mỏi, người làm rung động, người sai bảo làm rung động, người giết hại sinh mệnh, người lấy của không cho, người đào ngạch khoét vách, người cướp bóc, người trộm cắp nhà vắng, người phục kích trên đường, người đi lại với vợ người, người nói dối; người làm [những việc ấy] có tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát, cắt xén, sai bảo cắt xén, nướng chín, sai bảo nướng chín; thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí, sai bảo bố thí, tế tự, sai bảo tế tự; thì từ nguyên nhân đó có phước báu, có sự tích lũy phước báu. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, có phước báu, có sự tích lũy phước báu.'
Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
15. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Người tự làm, người sai bảo làm, [...lập lại...] thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát [...lặp lại...] do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu', điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.
16. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại có quan điểm 'không có hành động tạo nghiệp'; đó là quan điểm sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại suy nghĩ 'không có hành động tạo nghiệp'; đó là suy nghĩ sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại nói 'không có hành động tạo nghiệp'; đó là lời nói sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại nói 'không có hành động tạo nghiệp'; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về hành động tạo nghiệp. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại thuyết phục người khác 'không có hành động tạo nghiệp'; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện.
17. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: 'Nếu không có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại sẽ làm cho mình được an toàn; nhưng nếu có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có hành động tạo nghiệp; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách—đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết vô tác.' Nếu thực sự có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại bị những người có trí chê trách và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.
18. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Người tự làm, người sai bảo làm, [...lập lại...] thì từ nguyên nhân ấy có tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát [...lập lại...]. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật có phước báu, có sự tích lũy phước báu', điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.
19. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy có quan điểm 'có hành động tạo nghiệp'; đó là Thấy Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy suy nghĩ 'có hành động tạo nghiệp'; đó là Suy nghĩ Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy nói 'có hành động tạo nghiệp'; đó là Lời nói Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy nói 'có hành động tạo nghiệp'; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về hành động tạo nghiệp. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy thuyết phục người khác 'có hành động tạo nghiệp'; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.
20. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: 'Nếu có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có hành động tạo nghiệp; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định hành động.' Nếu thực sự có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.
21. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Không có sức mạnh, không có nỗ lực, không có sức lực của con người, không có sự phấn đấu của con người; tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ (khổ / dukkha) trong sáu loại dòng dõi.'
22. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: 'Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Có sức mạnh, có nỗ lực, có sức lực của con người, có sự phấn đấu của con người; không phải tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi.'
Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
23. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Không có sức mạnh, không có nỗ lực, không có sức lực của con người, không có sự phấn đấu của con người; tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi', điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.
24. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại có quan điểm 'không có gốc nguyên nhân'; đó là quan điểm sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại suy nghĩ 'không có gốc nguyên nhân'; đó là suy nghĩ sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại nói 'không có gốc nguyên nhân'; đó là lời nói sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại nói 'không có gốc nguyên nhân'; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về gốc nguyên nhân. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại thuyết phục người khác 'không có gốc nguyên nhân'; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện.
25. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: 'Nếu không có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại sẽ làm cho mình được an toàn; nhưng nếu có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có gốc nguyên nhân; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách—đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết vô nhân.' Nếu thực sự có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại bị những người có trí chê trách và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.
26. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Có sức mạnh, có nỗ lực, có sức lực của con người, có sự phấn đấu của con người; không phải tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi', điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.
27. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy có quan điểm 'có gốc nguyên nhân'; đó là Thấy Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy suy nghĩ 'có gốc nguyên nhân'; đó là Suy nghĩ Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy nói 'có gốc nguyên nhân'; đó là Lời nói Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy nói 'có gốc nguyên nhân'; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về gốc nguyên nhân. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy thuyết phục người khác 'có gốc nguyên nhân'; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.
28. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: 'Nếu có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có gốc nguyên nhân; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định nguyên nhân.' Nếu thực sự có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.
29. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Hoàn toàn không có cõi phi vật chất (vô sắc / āruppā).'
30. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: 'Hoàn toàn có cõi phi vật chất.'
Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
31. "Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau—đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Hoàn toàn không có cõi phi vật chất', điều này ta chưa thấy; và đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Hoàn toàn có cõi phi vật chất', điều này ta cũng chưa biết. Nếu ta không biết, không thấy mà lại quả quyết chấp nhận và tuyên bố—chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác là sai lầm, thì điều đó không thích hợp với ta. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Hoàn toàn không có cõi phi vật chất', nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên có hình thể, do tâm tạo. Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Hoàn toàn có cõi phi vật chất', nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên không có hình thể, do Nhận Thức (tưởng / saññā) tạo. Lại nữa, người ta thấy rõ vì có hình thể mà sinh ra việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh luận, mắng mỏ nhau, vu khống và nói dối. 'Nhưng những điều này hoàn toàn không có ở cõi phi vật chất.' Sau khi suy xét như vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, để cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), để sự hoại diệt (diệt / nirodha) các hình thể.
32. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có sự chấm dứt hoàn toàn (hữu diệt / bhavanirodho).'
33. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: 'Có sự chấm dứt hoàn toàn.'
Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
34. "Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau—đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có sự chấm dứt hoàn toàn', điều này ta chưa thấy; và đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Có sự chấm dứt hoàn toàn', điều này ta cũng chưa biết. Nếu ta không biết, không thấy mà lại quả quyết chấp nhận và tuyên bố—chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác là sai lầm, thì điều đó không thích hợp với ta. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có sự chấm dứt hoàn toàn', nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên không có hình thể, do Nhận Thức tạo. Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Có sự chấm dứt hoàn toàn', nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ nhập Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Không có sự chấm dứt hoàn toàn', quan điểm của họ gần với sự tham luyến, gần với sự trói buộc, gần với sự vui thú chạy theo (hỷ lạc / abhinandanā), gần với sự dính mắc, gần với sự bám giữ (thủ / upādāna). Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: 'Có sự chấm dứt hoàn toàn', quan điểm của họ gần với sự không tham luyến, gần với sự không trói buộc, gần với sự không vui thú chạy theo, gần với sự không dính mắc, gần với sự không bám giữ. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, để cạn hết đắm nhiễm, để sự hoại diệt các sự tồn tại.
35. Này các gia chủ, có bốn hạng người này đang tồn tại, đang hiện hữu ở đời. Bốn hạng người nào? Ở đây, này các gia chủ, có hạng người hành hạ bản thân (tự hành khổ / attantapo), chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người hành hạ người khác (hành khổ tha / parantapo), chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng.
36. Này các gia chủ, thế nào là hạng người hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân? Ở đây, này các gia chủ, có người sống lõa thể, phóng uế bừa bãi, liếm tay cho sạch [...lặp lại...] như vậy vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều hình thức thiêu đốt và hành hạ thân thể. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân.
37. Này các gia chủ, thế nào là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Ở đây, này các gia chủ, có người làm nghề mổ cừu, mổ lợn [...lặp lại...] hay bất kỳ ai làm những nghề nghiệp tàn ác khác. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
38. Này các gia chủ, thế nào là hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Ở đây, này các gia chủ, có người là vua chúa đã được làm lễ quán đảnh [...lặp lại...] những người phục vụ của họ bị đe dọa bởi hình phạt, bị đe dọa bởi sợ hãi, với khuôn mặt đẫm nước mắt, khóc lóc mà làm các công việc. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
39. Này các gia chủ, thế nào là hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng?
40-54. Ở đây, này các gia chủ, Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác [...lặp lại...] vị ấy sau khi từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) năm điều làm mờ yếu tâm trí (ngũ triền cái / nīvaraṇe) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt được và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm và tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Do sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (vô tầm vô tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định [...lặp lại...] đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba [...lặp lại...] đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư.
55. Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là—một đời, hai đời [...lặp lại...] như vậy vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự chết và sự tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp hèn và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, sinh vào cõi lành hay cõi dữ [...lặp lại...] vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo hành động tạo nghiệp của họ.
Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) của các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Vị ấy biết rõ như thật 'đây là đau khổ' [...lặp lại...] vị ấy biết rõ như thật 'đây là con đường đưa đến sự hết sạch các nguồn ác'. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát (xuất ly / vimuccati) khỏi nguồn ác của bản năng, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của sự tồn tại, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của sự không hiểu biết (vô minh / avijjā). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết (thức tri / ñāṇaṁ) rằng 'đã được giải thoát'.
Vị ấy biết rõ: 'sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
56. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng."
57. Khi được nói như vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā nói với Thế Tôn điều này: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama, thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama. Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay đem ngọn đèn vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các hình sắc; cũng vậy, Giáo pháp đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp và quy y đại chúng tỳ-kheo. Xin Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."
Kết thúc Kinh Chắc Chắn, kinh thứ mười.
Kết thúc Phẩm Gia Chủ, phẩm thứ nhất.