MN 38. ĐẠI KINH VỀ SỰ CẠN KIỆT CỦA SỰ THÈM KHÁT
(Mahātaṇhāsaṅkhayasutta)
Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại tu viện của Anāthapiṇḍika, trong rừng Jeta.
Lúc bấy giờ, một tỷ-kheo tên là Sāti, con của một người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: "Tôi hiểu Điều dạy (pháp/dhamma) do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' (thức/viññāṇa) này trôi dạt và luân hồi (luân chuyển sinh tử/sandhāvati saṁsarati), không thay đổi (bất dị/anañña)."
Nhiều tỷ-kheo nghe được rằng: "Tỷ-kheo Sāti, con của người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: 'Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi'." Rồi các tỷ-kheo ấy đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân; sau khi đến, họ nói với tỷ-kheo Sāti: "Này hiền giả Sāti, có đúng là bạn đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: 'Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi' không?"
"Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi."
Khi ấy, các tỷ-kheo muốn tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, liền chất vấn, gạn hỏi và quở trách: "Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói rằng 'Cái Biết' là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh/paṭiccasamuppanna), nếu không có Điều kiện (duyên/paccaya) thì không có sự hình thành của 'Cái Biết'."
Dù bị các tỷ-kheo chất vấn, gạn hỏi và quở trách như vậy, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm tồi tệ đó và tuyên bố: "Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi."
Khi các tỷ-kheo không thể tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, họ liền đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỷ-kheo bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: 'Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi'. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe được điều đó, liền đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti và hỏi: 'Này hiền giả Sāti, có đúng là bạn đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như vậy không?'. Khi được hỏi vậy, tỷ-kheo Sāti trả lời chúng con: 'Đúng vậy, thưa các hiền giả, tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi'. Rồi chúng con, muốn tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm tồi tệ đó, đã chất vấn, gạn hỏi và quở trách: 'Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn... Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói rằng 'Cái Biết' là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của 'Cái Biết''. Dù bị chúng con chất vấn như vậy, tỷ-kheo Sāti vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm đó. Vì chúng con không thể tách tỷ-kheo Sāti ra khỏi quan điểm sai lầm đó, nên chúng con đến báo lại sự việc này cho Thế Tôn."
Khi ấy, Thế Tôn gọi một tỷ-kheo khác: "Này tỷ-kheo, hãy đến gọi tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, nhân danh Ta: 'Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi bạn'."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tỷ-kheo Sāti và nói: "Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi bạn."
"Thưa vâng, hiền giả", tỷ-kheo Sāti vâng lời tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với tỷ-kheo Sāti đang ngồi một bên: "Này Sāti, có đúng là ông đã khởi lên quan điểm sai lầm tồi tệ như sau: 'Tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi' không?"
"Đúng vậy, bạch Thế Tôn, con hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: chính 'Cái Biết' này trôi dạt và luân hồi, không thay đổi."
"Này Sāti, 'Cái Biết' đó là gì?"
"Bạch Thế Tôn, đó là cái nói năng, cái cảm nhận, cái trải nghiệm kết quả của các hành động thiện và ác ở chỗ này chỗ kia."
"Này kẻ u mê kia, ông nghe Ta thuyết giảng Điều dạy như vậy cho ai? Này kẻ u mê, chẳng phải Ta đã dùng nhiều cách để nói rằng 'Cái Biết' là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của 'Cái Biết' sao? Thế mà ông, này kẻ u mê, do tự mình nắm giữ sai lầm, không những xuyên tạc Ta, mà còn tự đào hố chôn mình, và tạo ra nhiều điều không phước. Này kẻ u mê, điều đó sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ (khổ/dukkha) lâu dài cho ông."
Rồi Thế Tôn gọi các tỷ-kheo: "Các ông nghĩ sao, này các tỷ-kheo, tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân này, có còn chút hơi ấm nào trong Điều dạy và kỷ luật này không?"
"Làm sao có được, bạch Thế Tôn? Không thể có, bạch Thế Tôn." Khi nghe nói vậy, tỷ-kheo Sāti im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào.
Thấy tỷ-kheo Sāti im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào, Thế Tôn nói với tỷ-kheo Sāti: "Này kẻ u mê, ông sẽ bị nhận diện bởi chính quan điểm sai lầm tồi tệ này của ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các tỷ-kheo."
Rồi Thế Tôn hỏi các tỷ-kheo: "Này các tỷ-kheo, các ông có hiểu Điều dạy Ta thuyết giảng giống như tỷ-kheo Sāti này, do tự mình nắm giữ sai lầm, đã xuyên tạc Ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều không phước không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì Thế Tôn đã dùng nhiều cách để nói với chúng con rằng 'Cái Biết' là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của 'Cái Biết'."
"Tốt lắm, tốt lắm, này các tỷ-kheo. Tốt lắm, các ông đã hiểu Điều dạy do Ta thuyết giảng như vậy. Ta đã dùng nhiều cách để nói với các ông rằng 'Cái Biết' là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, nếu không có Điều kiện thì không có sự hình thành của 'Cái Biết'. Thế mà tỷ-kheo Sāti này, do tự mình nắm giữ sai lầm, đã xuyên tạc Ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều không phước. Điều đó sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ u mê ấy.
Này các tỷ-kheo, phụ thuộc vào Điều kiện nào mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào giác quan mắt (nhãn căn/cakkhu) và hình ảnh (sắc/rūpa) mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'cái biết' ở mắt (nhãn thức/cakkhuviññāṇa); phụ thuộc vào tai và âm thanh mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'cái biết' ở tai; phụ thuộc vào mũi và mùi hương mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'cái biết' ở mũi; phụ thuộc vào lưỡi và vị mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'cái biết' ở lưỡi; phụ thuộc vào thân và sự va chạm mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'cái biết' ở thân; phụ thuộc vào giác quan trí não (ý căn/mana) và mọi Điều (pháp/dhamma) mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi là 'Cái Biết' ở trí não (ý thức/manoviññāṇa).
Này các tỷ-kheo, giống như phụ thuộc vào điều kiện nào mà ngọn lửa bốc cháy, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào củi mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa củi; phụ thuộc vào dăm bào mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa dăm bào; phụ thuộc vào cỏ mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa cỏ; phụ thuộc vào phân bò mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa phân bò; phụ thuộc vào trấu mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa trấu; phụ thuộc vào rác mà lửa bốc cháy, thì gọi là lửa rác.
Cũng vậy, này các tỷ-kheo, phụ thuộc vào Điều kiện nào mà 'Cái Biết' sinh ra, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào mắt và hình ảnh mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'cái biết' ở mắt; phụ thuộc vào tai và âm thanh mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'cái biết' ở tai; phụ thuộc vào mũi và mùi hương mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'cái biết' ở mũi; phụ thuộc vào lưỡi và vị mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'cái biết' ở lưỡi; phụ thuộc vào thân và sự va chạm mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'cái biết' ở thân; phụ thuộc vào trí não và mọi Điều mà 'Cái Biết' sinh ra, thì gọi là 'Cái Biết' ở trí não.
Này các tỷ-kheo, các ông có thấy rằng: 'Cái này đã hình thành' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy rằng: 'Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng (thực/āhāra)' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy rằng: 'Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn (diệt/nirodha), thì cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô (diệt pháp/nirodhadhamma)' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, do nghi ngờ 'Không biết cái này có hình thành hay không?', sự nghi ngờ sinh ra phải không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Do nghi ngờ 'Không biết nó có hình thành từ nguồn nuôi dưỡng hay không?', sự nghi ngờ sinh ra phải không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Do nghi ngờ 'Không biết khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó có chịu sự cạn khô hay không?', sự nghi ngờ sinh ra phải không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: 'Cái này đã hình thành', thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: 'Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng', thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Đối với người nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật rằng: 'Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô', thì sự nghi ngờ đó có bị loại bỏ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc 'Cái này đã hình thành' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc 'Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có hoàn toàn hết nghi ngờ về việc 'Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, việc 'Cái này đã hình thành' có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Việc 'Nó hình thành từ nguồn nuôi dưỡng' có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Việc 'Khi nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái đã hình thành đó chịu sự cạn khô' có được các ông nhìn thấy rõ ràng bằng trí tuệ đúng đắn đúng như sự thật không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, nếu các ông bám víu, nâng niu, cất giữ, và xem là của mình cái quan điểm dù đã thanh tịnh và trong sáng như thế này, thì các ông có hiểu rằng Ta thuyết giảng Điều dạy giống như chiếc bè, cốt để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn." "Này các tỷ-kheo, nếu các ông không bám víu, không nâng niu, không cất giữ, và không xem là của mình cái quan điểm đã thanh tịnh và trong sáng như thế này, thì các ông có hiểu rằng Ta thuyết giảng Điều dạy giống như chiếc bè, cốt để vượt qua chứ không phải để nắm giữ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, có bốn nguồn nuôi dưỡng này để duy trì các chúng sinh đã sinh ra, hoặc để hỗ trợ cho những chúng sinh đang tìm kiếm sự sinh ra. Bốn nguồn đó là gì? Thứ nhất là thức ăn vật lý, dù thô hay tế; thứ hai là Xúc (phassa); thứ ba là ý chí của tâm (manosañcetanā); thứ tư là 'Cái Biết'.
Này các tỷ-kheo, bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành (tập/samudaya), lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy sự thèm khát (ái/taṇhā) làm nguyên nhân, lấy sự thèm khát làm sự hình thành, lấy sự thèm khát làm nơi sinh ra, lấy sự thèm khát làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, sự thèm khát này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Sự thèm khát lấy cảm giác (thọ/vedanā) làm nguyên nhân, lấy cảm giác làm sự hình thành, lấy cảm giác làm nơi sinh ra, lấy cảm giác làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, cảm giác này lấy gì làm nguyên nhân...? Cảm giác lấy Xúc làm nguyên nhân, lấy Xúc làm sự hình thành, lấy Xúc làm nơi sinh ra, lấy Xúc làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, Xúc này lấy gì làm nguyên nhân...? Xúc lấy sáu Trường giao tiếp (lục nhập/saḷāyatana) làm nguyên nhân, lấy sáu Trường giao tiếp làm sự hình thành, lấy sáu Trường giao tiếp làm nơi sinh ra, lấy sáu Trường giao tiếp làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, sáu Trường giao tiếp này lấy gì làm nguyên nhân...? Sáu Trường giao tiếp lấy Danh–sắc (nāmarūpa) làm nguyên nhân, lấy Danh–sắc làm sự hình thành, lấy Danh–sắc làm nơi sinh ra, lấy Danh–sắc làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, Danh–sắc này lấy gì làm nguyên nhân...? Danh–sắc lấy 'Cái Biết' làm nguyên nhân, lấy 'Cái Biết' làm sự hình thành, lấy 'Cái Biết' làm nơi sinh ra, lấy 'Cái Biết' làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, 'Cái Biết' này lấy gì làm nguyên nhân...? 'Cái Biết' lấy các hoạt động (hành/saṅkhārā) làm nguyên nhân, lấy các hoạt động làm sự hình thành, lấy các hoạt động làm nơi sinh ra, lấy các hoạt động làm nguồn gốc.
Này các tỷ-kheo, các hoạt động này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm sự hình thành, lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Các hoạt động lấy Không Hiểu Biết (vô minh/avijjā) làm nguyên nhân, lấy Không Hiểu Biết làm sự hình thành, lấy Không Hiểu Biết làm nơi sinh ra, lấy Không Hiểu Biết làm nguồn gốc.
Như vậy, này các tỷ-kheo, với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]; với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' [sinh ra]; với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]; với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]; với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]; với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]; với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]; với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ (thủ/upādāna) [sinh ra]; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh (hữu/bhava) [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh (sinh/jāti) [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết (lão tử/jarāmaraṇa), sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
'Với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết [sinh ra]."
"'Với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]."
"'Với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]."
"'Với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra]."
"'Với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]."
"'Với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Xúc là Điều kiện, cảm giác sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với Xúc là Điều kiện, cảm giác sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]."
"'Với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]."
"'Với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]."
"'Với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]."
"'Với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' [sinh ra]."
"'Với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động sinh ra hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động sinh ra; ở đây chúng con hiểu là: với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]."
"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Như vậy, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này có mặt, cái kia có mặt; do sự sinh khởi của cái này, cái kia sinh khởi. Tức là: với Không Hiểu Biết là Điều kiện, các hoạt động [sinh ra]; với các hoạt động là Điều kiện, 'Cái Biết' [sinh ra]; với 'Cái Biết' là Điều kiện, Danh–sắc [sinh ra]; với Danh–sắc là Điều kiện, sáu Trường giao tiếp [sinh ra]; với sáu Trường giao tiếp là Điều kiện, Xúc [sinh ra]; với Xúc là Điều kiện, cảm giác [sinh ra]; với cảm giác là Điều kiện, sự thèm khát [sinh ra]; với sự thèm khát là Điều kiện, sự Bám giữ [sinh ra]; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
Nhưng do sự phai nhạt và bị chặn hoàn toàn của chính Không Hiểu Biết, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn; do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn; do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt (diệt/nirujjhati). Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.
'Do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự Tái sinh bị chặn, già-chết bị chặn."
"'Do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn."
"'Do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn."
"'Do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn."
"'Do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn."
"'Do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn."
"'Do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn."
"'Do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn."
"'Do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn."
"'Do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn."
"'Do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỷ-kheo, có phải do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn hay không, hay ở đây là như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; ở đây chúng con hiểu là: do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn."
"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Như vậy, các ông nói như thế này, và Ta cũng nói như thế này: khi cái này không có mặt, cái kia không có mặt; do sự chấm dứt của cái này, cái kia chấm dứt. Tức là: do Không Hiểu Biết bị chặn, các hoạt động bị chặn; do các hoạt động bị chặn, 'Cái Biết' bị chặn; do 'Cái Biết' bị chặn, Danh–sắc bị chặn; do Danh–sắc bị chặn, sáu Trường giao tiếp bị chặn; do sáu Trường giao tiếp bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, cảm giác bị chặn; do cảm giác bị chặn, sự thèm khát bị chặn; do sự thèm khát bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.
Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy ngược về quá khứ và nghĩ rằng: 'Ta có tồn tại trong quá khứ không? Ta không tồn tại trong quá khứ sao? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Trước kia là gì, rồi ta đã trở thành gì trong quá khứ?' không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy tới tương lai và nghĩ rằng: 'Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai sao? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Trước kia là gì, rồi ta sẽ trở thành gì trong tương lai?' không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nghi ngờ về hiện tại ngay trong nội tâm mình rằng: 'Ta có tồn tại không? Ta không tồn tại sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến, và nó sẽ đi về đâu?' không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: 'Bậc Đạo Sư là người chúng ta tôn kính, và vì tôn kính Bậc Đạo Sư nên chúng ta mới nói như vậy' không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: 'Vị sa-môn đã nói như vậy, và vì là sa-môn nên chúng ta mới nói như vậy' không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có đi tìm một vị đạo sư nào khác không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay lại với những nghi thức, lễ hội ồn ào của các sa-môn, bà-la-môn khác và xem đó là cốt lõi không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỷ-kheo, có phải các ông chỉ nói những gì chính các ông đã tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Tốt lắm, này các tỷ-kheo. Các ông đã được Ta dẫn dắt bởi Điều dạy này, một Điều dạy có thể thấy ngay trong hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, mời đến để thấy, có khả năng dẫn thượng, được người trí tự mình trải nghiệm. 'Điều dạy này có thể thấy ngay trong hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, mời đến để thấy, có khả năng dẫn thượng, được người trí tự mình trải nghiệm' — điều đã được nói như vậy, chính là nói dựa vào điều này.
Này các tỷ-kheo, sự hình thành bào thai diễn ra do sự hội tụ của ba yếu tố. Ở đây, nếu cha mẹ có giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ thụ thai, và mầm sống đi tái sinh (hương ấm/gandhabba) không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Ở đây, nếu cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, nhưng mầm sống đi tái sinh không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Nhưng này các tỷ-kheo, khi cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, và mầm sống đi tái sinh hiện diện — do sự hội tụ của ba yếu tố này mà bào thai hình thành.
Này các tỷ-kheo, người mẹ mang bào thai ấy trong bụng suốt chín hay mười tháng với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đứa trẻ ra với sự lo âu lớn lao, mang một gánh nặng. Khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các tỷ-kheo, trong kỷ luật của bậc thánh, sữa mẹ chính là máu.
Này các tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó chơi đùa với những đồ chơi của trẻ con, như là: con quay, xe đẩy bằng đất, cung tên nhỏ, xe ngựa nhỏ.
Này các tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó tận hưởng và đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục/kāmaguṇa) — những hình ảnh nhận biết bằng mắt, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ; những âm thanh nhận biết bằng tai... những mùi hương nhận biết bằng mũi... những vị nhận biết bằng lưỡi... những sự va chạm nhận biết bằng thân, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ.
Người ấy, sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, liền đắm nhiễm (tham/sārajjati) vào hình ảnh dễ thương, và ác ý hãm hại (sân hận/byāpajjati) đối với hình ảnh không dễ thương; người ấy sống mà không có sự chú tâm (niệm/sati) vào cơ thể, với một tâm trí hạn hẹp. Người ấy không biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm (tâm giải thoát/cetovimutti) và sự giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti), nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.
Bị rơi vào trạng thái thuận theo và chống đối (thuận nghịch/anurodhavirodha) như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu (thọ lạc/sukha), cảm giác khó chịu (thọ khổ/dukkha), hay không dễ chịu không khó chịu (adukkhamasukha) — người ấy liền vui thú chạy theo (dục hỷ/abhinandati), chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu (hỷ/nandī) sinh ra. Sự thích thú bám víu đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
Sau khi nghe âm thanh bằng tai [...lặp lại...] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi [...lặp lại...] Sau khi nếm vị bằng lưỡi [...lặp lại...] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân [...lặp lại...] Sau khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy liền đắm nhiễm vào Điều dễ thương, và ác ý hãm hại đối với Điều không dễ thương; người ấy sống mà không có sự chú tâm vào cơ thể, với một tâm trí hạn hẹp. Người ấy không biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.
Bị rơi vào trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy liền vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu sinh ra. Sự thích thú bám víu đối với các cảm giác chính là sự Bám giữ; với sự Bám giữ là Điều kiện, Mầm sinh [sinh ra]; với Mầm sinh là Điều kiện, sự Tái sinh [sinh ra]; với sự Tái sinh là Điều kiện, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
Này các tỷ-kheo, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, đấng Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng, người điều ngự những kẻ đáng được điều ngự, bậc Thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ trực tiếp và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài thuyết giảng Điều dạy tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài làm sáng tỏ đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và trong sạch.
Một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Điều dạy ấy. Sau khi nghe Điều dạy ấy, người ấy khởi lên niềm tin đối với Như Lai. Có được niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: 'Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.' Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.
Sau khi xuất gia như vậy, sống theo các điều học và sinh kế của các tỷ-kheo, người ấy từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, biết xấu hổ, có lòng từ bi, sống với tâm thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh.
Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh khiết, không trộm cắp.
Người ấy từ bỏ đời sống không thánh thiện, sống đời sống thánh thiện, sống xa lánh, tránh xa việc giao cấu là pháp của người làng.
Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, chắc chắn, đáng tin (paccayiko), không lừa dối đời.
Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ — nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp; người ấy vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Người ấy từ bỏ lời nói thô lỗ, tránh xa lời nói thô lỗ — người ấy chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người yêu thích, làm vui lòng nhiều người.
Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có ý nghĩa, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, đúng thời điểm, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
Người ấy tránh xa việc làm hại hạt giống và cây cỏ; chỉ ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn phi thời. Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi biểu diễn; tránh xa việc đeo vòng hoa, dùng hương liệu, bôi mỹ phẩm, trang điểm và làm đẹp; tránh xa việc dùng giường cao và giường lớn; tránh xa việc nhận vàng và bạc; tránh xa việc nhận ngũ cốc sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ và các cô gái; tránh xa việc nhận nô tỳ và nô bộc; tránh xa việc nhận dê và cừu; tránh xa việc nhận gà và lợn; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản; tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc; tránh xa việc mua và bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu đo lường; tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co; tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, chặn đường cướp bóc, cướp đoạt và dùng bạo lực.
Người ấy bằng lòng với y phục để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ dạ dày. Đi đến đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Giống như con chim có cánh, bay đến đâu cũng mang theo đôi cánh của mình mà bay; cũng vậy, tỷ-kheo bằng lòng với y phục để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ dạ dày, đi đến đâu cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Được trang bị bằng nền tảng Giới (sīlakkhandha) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không tì vết ở nội tâm.
Khi thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng (tướng/nimitta), không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan mắt.
Sau khi nghe âm thanh bằng tai [...lặp lại...] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi [...lặp lại...] Sau khi nếm vị bằng lưỡi [...lặp lại...] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân [...lặp lại...] Khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan trí não. Được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan (căn thu thúc/indriyasaṁvara) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị pha trộn ở nội tâm.
Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác/sampajāno) khi bước tới bước lui; nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay; nhận biết rõ ràng khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y phục; nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.
Được trang bị bằng nền tảng Giới của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bằng lòng của bậc thánh này, được trang bị bằng sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, được trang bị bằng sự chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác/satisampajañña) của bậc thánh này, người ấy tìm đến một chỗ ở vắng vẻ — khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, bãi đất trống, hay đống rơm.
Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự chú tâm ở phía trước. Người ấy từ bỏ lòng tham (ái dục/abhijjhā) ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham; từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận/byāpāda), sống với tâm không ác ý, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại; từ bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên/thinamiddha), sống thoát khỏi uể oải buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, chú tâm và nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi uể oải buồn ngủ; từ bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá/uddhaccakukkucca), sống không bồn chồn, nội tâm lắng dịu, gột rửa tâm khỏi bồn chồn hối hận; từ bỏ nghi ngờ (nghi/vicikicchā), sống vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi nghi ngờ.
Sau khi từ bỏ năm điều làm mờ yếu (triền cái/nīvaraṇa) này — những thứ làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ — người ấy hoàn toàn rời bỏ khỏi các phản ứng bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na (jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ/vitakkavicāra), có hân hoan (hỷ/pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Lại nữa, này các tỷ-kheo, do sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, người ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái sự lắng trong nội tại (nội tĩnh/ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm/cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định [...lặp lại...] Thiền-na thứ ba [...lặp lại...] đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư.
Người ấy, sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, không đắm nhiễm vào hình ảnh dễ thương, không ác ý hãm hại đối với hình ảnh không dễ thương; người ấy sống có sự chú tâm vào cơ thể được thiết lập, với một tâm trí không giới hạn (vô lượng/appamāṇa). Người ấy biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.
Đã từ bỏ hoàn toàn trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu đối với các cảm giác bị chặn. Do sự thích thú bám víu của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.
Sau khi nghe âm thanh bằng tai [...lặp lại...] Sau khi ngửi mùi hương bằng mũi [...lặp lại...] Sau khi nếm vị bằng lưỡi [...lặp lại...] Sau khi chạm vào sự va chạm bằng thân [...lặp lại...] Sau khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, người ấy không đắm nhiễm vào Điều dễ thương, không ác ý hãm hại đối với Điều không dễ thương; người ấy sống có sự chú tâm vào cơ thể được thiết lập, với một tâm trí không giới hạn. Người ấy biết rõ đúng như sự thật sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, nơi mà những điều ác, những điều không thiện của người ấy bị chặn đứng hoàn toàn không còn dư tàn.
Đã từ bỏ hoàn toàn trạng thái thuận theo và chống đối như vậy, khi trải nghiệm bất kỳ cảm giác nào — dù là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, hay không dễ chịu không khó chịu — người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó. Khi người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy cảm giác đó, sự thích thú bám víu đối với các cảm giác bị chặn. Do sự thích thú bám víu của người ấy bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sinh bị chặn; do Mầm sinh bị chặn, sự Tái sinh bị chặn; do sự Tái sinh bị chặn, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này.
Này các tỷ-kheo, các ông hãy ghi nhớ sự giải thoát thông qua sự cạn kiệt (đoạn tận/khaya) của sự thèm khát được Ta nói một cách ngắn gọn này; còn tỷ-kheo Sāti, con người ngư dân, thì đã bị mắc kẹt trong tấm lưới lớn của sự thèm khát, trong mớ bòng bong của sự thèm khát."
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỷ-kheo ấy vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Kết thúc Đại kinh về sự cạn kiệt của sự thèm khát, bài kinh thứ tám.