Skip to content

MN 26. KINH THÁNH CẦU

(Pāsarāsisutta)Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

2. Vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát đi vào Sāvatthi để khất thực. Khi ấy, nhiều tỳ kheo đi đến chỗ tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ nói với tôn giả Ānanda điều này: "Đã lâu rồi, thưa hiền giả Ānanda, chúng tôi không được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý (pháp thoại / dhammī kathā) trực tiếp từ Thế Tôn. Thật tốt đẹp thay, thưa hiền giả Ānanda, nếu chúng tôi được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý trực tiếp từ Thế Tôn."

"Vậy thì, thưa các hiền giả, hãy đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka; rất có thể các vị sẽ được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý trực tiếp từ Thế Tôn."

"Vâng, thưa hiền giả," các tỳ kheo ấy vâng đáp tôn giả Ānanda.

3. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthi, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Lộc Mẫu Giảng Đường ở Đông Viên để nghỉ ngơi ban ngày."

"Vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Lộc Mẫu Giảng Đường ở Đông Viên để nghỉ ngơi ban ngày. Vào buổi chiều, sau khi xuất định, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Đông Các để tắm gội cơ thể."

"Vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Đông Các để tắm gội cơ thể. Sau khi tắm gội ở Đông Các và bước lên bờ, Ngài đứng đắp một y, để cho cơ thể khô ráo. Khi ấy, tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, am thất của bà-la-môn Rammaka ở không xa đây. Am thất của bà-la-môn Rammaka thật đáng yêu, bạch Thế Tôn; am thất của bà-la-môn Rammaka thật tĩnh lặng, bạch Thế Tôn. Thật tốt đẹp thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng thương xót mà đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka." Thế Tôn im lặng nhận lời.

4. Rồi Thế Tôn đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, có nhiều tỳ kheo đang ngồi tụ họp tại am thất của bà-la-môn Rammaka để bàn luận về Chân lý (pháp / dhamma). Thế Tôn đứng ngoài cửa chờ cho cuộc bàn luận kết thúc. Khi biết cuộc bàn luận đã kết thúc, Thế Tôn hắng giọng và gõ cửa. Các tỳ kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Thế Tôn bước vào am thất của bà-la-môn Rammaka và ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây để bàn luận về chủ đề gì? Và câu chuyện gì đang bị bỏ dở giữa chừng?"

"Bạch Thế Tôn, cuộc nói chuyện về Chân lý của chúng con đang hướng về chính Thế Tôn thì bị bỏ dở, rồi Thế Tôn quang lâm."

"Tốt lắm, này các tỳ kheo. Thật là phù hợp cho các vị, những thiện nam tử vì niềm tin mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khi các vị ngồi tụ họp lại để bàn luận về Chân lý. Này các tỳ kheo, khi các vị tụ họp lại, có hai việc cần làm: hoặc là cuộc nói chuyện về Chân lý, hoặc là giữ im lặng của bậc thánh.

5. Này các tỳ kheo, có hai sự tìm kiếm (tầm cầu / pariyesanā): sự tìm kiếm cao thượng và sự tìm kiếm không cao thượng.

Và này các tỳ kheo, thế nào là sự tìm kiếm không cao thượng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự mình chịu sự sinh ra (sanh pháp / jātidhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu (lão pháp / jarādhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu; tự mình chịu sự ốm đau (bệnh pháp / byādhidhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau; tự mình chịu sự chết chóc (tử pháp / maraṇadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc; tự mình chịu sự sầu muộn (sầu pháp / sokadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn; tự mình chịu sự vấy bẩn (uế nhiễm pháp / saṅkilesadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn.

6. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự sinh ra? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự sinh ra; tôi tớ nam nữ là chịu sự sinh ra; dê cừu là chịu sự sinh ra; gà lợn là chịu sự sinh ra; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự sinh ra; vàng bạc là chịu sự sinh ra. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự sinh ra (pháp bị sanh/Jātidhammā) này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình (chấp thủ/ upadhayo). Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự sinh ra, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra.

7. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự già yếu? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự già yếu; tôi tớ nam nữ là chịu sự già yếu; dê cừu là chịu sự già yếu; gà lợn là chịu sự già yếu; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự già yếu; vàng bạc là chịu sự già yếu. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự già yếu này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự già yếu, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu.

8. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự ốm đau? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự ốm đau; tôi tớ nam nữ là chịu sự ốm đau; dê cừu là chịu sự ốm đau; gà lợn là chịu sự ốm đau; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự ốm đau. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự ốm đau này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự ốm đau, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau.

9. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự chết chóc? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự chết chóc; tôi tớ nam nữ là chịu sự chết chóc; dê cừu là chịu sự chết chóc; gà lợn là chịu sự chết chóc; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự chết chóc. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự chết chóc này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự chết chóc, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc.

10. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự sầu muộn? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự sầu muộn; tôi tớ nam nữ là chịu sự sầu muộn; dê cừu là chịu sự sầu muộn; gà lợn là chịu sự sầu muộn; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự sầu muộn. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự sầu muộn này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự sầu muộn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn.

11. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự vấy bẩn? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự vấy bẩn; tôi tớ nam nữ là chịu sự vấy bẩn; dê cừu là chịu sự vấy bẩn; gà lợn là chịu sự vấy bẩn; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự vấy bẩn; vàng bạc là chịu sự vấy bẩn. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự vấy bẩn này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự vấy bẩn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn. Đây, này các tỳ kheo, là sự tìm kiếm không cao thượng.

12. Và này các tỳ kheo, thế nào là sự tìm kiếm cao thượng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, liền tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc (vô thượng an ổn khỏi các ách / anuttaraṁ yogakkhemaṁ), Niết-bàn (nibbāna); tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, liền tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, liền tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, liền tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, liền tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, liền tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn. Đây, này các tỳ kheo, là sự tìm kiếm cao thượng.

13. Này các tỳ kheo, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là Bồ-tát chưa hoàn toàn giác ngộ, tự mình chịu sự sinh ra, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu; tự mình chịu sự ốm đau, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau; tự mình chịu sự chết chóc, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc; tự mình chịu sự sầu muộn, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn; tự mình chịu sự vấy bẩn, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Tại sao Ta tự mình chịu sự sinh ra, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu, lại đi tìm kiếm [...lặp lại...] chịu sự ốm đau [...lặp lại...] chịu sự chết chóc [...lặp lại...] chịu sự sầu muộn [...lặp lại...] tự mình chịu sự vấy bẩn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn? Hay là Ta, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, hãy tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, hãy tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, hãy tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, hãy tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, hãy tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, hãy tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn.'

14. Này các tỳ kheo, vào một thời gian sau đó, khi Ta còn trẻ, tóc đen nhánh, tràn đầy tuổi thanh xuân tươi đẹp, trong giai đoạn đầu của cuộc đời, mặc cho cha mẹ không mong muốn, khóc lóc nước mắt đầm đìa, Ta đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.

15. Sau khi xuất gia như vậy, tìm kiếm những điều thiện (thiện pháp / kusala), tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng (vô thượng tịch tịnh / anuttaraṁ santivarapadaṁ), Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: 'Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) trong Quy luật (pháp / dhamma) và kỷ luật này.'

Được nói vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma nói với Ta: 'Tôn giả hãy ở lại; Quy luật này là như vậy, nơi mà một người trí không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā), và an trú trong giáo lý của chính vị thầy mình.'

Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Quy luật ấy. Này các tỳ kheo, chỉ qua việc mấp máy môi, chỉ qua việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được những lời về tri thức và những lời của các bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: 'Tôi biết, tôi thấy.'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Āḷāra Kālāma không chỉ tuyên bố Quy luật này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú; chắc chắn Āḷāra Kālāma sống biết và thấy Quy luật này.'

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: 'Thưa hiền giả Kālāma, theo những cách nào (kittāvatā) mà hiền giả tuyên bố rằng hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?' Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma tuyên bố về cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana).

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tập trung chú ý (niệm / sati), Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có Định (samādhi), Ta cũng có Định; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Quy luật mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú.' Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật ấy.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: 'Thưa hiền giả Kālāma, có phải đến mức độ này mà hiền giả tuyên bố rằng hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?'

'Đến mức độ này, thưa hiền giả, tôi tuyên bố rằng tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này.'

'Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này đến mức độ đó.'

'Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi được thấy một người bạn đồng tu như tôn giả. Như vậy, Quy luật nào tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, thì Quy luật đó hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú. Quy luật nào hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú, thì Quy luật đó tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Quy luật nào tôi biết, Quy luật đó hiền giả biết; Quy luật nào hiền giả biết, Quy luật đó tôi biết. Như vậy, tôi như thế nào, hiền giả như thế ấy; hiền giả như thế nào, tôi như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, hãy đến đây, cả hai chúng ta hãy cùng nhau dẫn dắt hội chúng này.'

Như vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma, vị thầy của Ta, đã đặt Ta, người học trò của ông, ngang hàng với chính mình, và tôn vinh Ta bằng một sự tôn vinh cao cả.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Quy luật này không dẫn đến sự chán ghét, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), không dẫn đến bị chặn đứng hoàn toàn (diệt / nirodhāya), không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến việc tái sinh vào cõi Không Có Vật Gì.' Này các tỳ kheo, không thỏa mãn với Quy luật ấy, Ta đã chán ghét Quy luật ấy và bỏ đi.

16. Này các tỳ kheo, tìm kiếm những điều thiện, tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: 'Thưa hiền giả, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện trong Quy luật và kỷ luật này.'

Được nói vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta nói với Ta: 'Tôn giả hãy ở lại; Quy luật này là như vậy, nơi mà một người trí không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm, và an trú trong giáo lý của chính vị thầy mình.'

Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Quy luật ấy. Này các tỳ kheo, chỉ qua việc mấp máy môi, chỉ qua việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được những lời về tri thức và những lời của các bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: 'Tôi biết, tôi thấy.'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Rāma không chỉ tuyên bố Quy luật này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú; chắc chắn Rāma sống biết và thấy Quy luật này.'

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: 'Thưa hiền giả, theo những cách nào mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?'

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta tuyên bố về xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Không phải chỉ Rāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Rāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Rāma mới có tập trung chú ý, Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Rāma mới có Định, Ta cũng có Định; không phải chỉ Rāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Quy luật mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú.' Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật ấy.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: 'Thưa hiền giả, có phải đến mức độ này mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?'

'Đến mức độ này, thưa hiền giả, Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này.'

'Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này đến mức độ đó.'

'Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi được thấy một người bạn đồng tu như tôn giả. Như vậy, Quy luật nào Rāma tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, thì Quy luật đó hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú. Quy luật nào hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú, thì Quy luật đó Rāma tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Quy luật nào Rāma biết, Quy luật đó hiền giả biết; Quy luật nào hiền giả biết, Quy luật đó Rāma biết. Như vậy, Rāma như thế nào, hiền giả như thế ấy; hiền giả như thế nào, Rāma như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, hãy đến đây, hiền giả hãy dẫn dắt hội chúng này.'

Như vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta, người bạn đồng tu của Ta, đã đặt Ta vào vị trí của một người thầy, và tôn vinh Ta bằng một sự tôn vinh cao cả.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Quy luật này không dẫn đến sự chán ghét, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, không dẫn đến bị chặn đứng hoàn toàn, không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến việc tái sinh vào xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức".' Này các tỳ kheo, không thỏa mãn với Quy luật ấy, Ta đã chán ghét Quy luật ấy và bỏ đi.

17. Này các tỳ kheo, tìm kiếm những điều thiện, tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng, Ta đi du hành qua xứ Magadha và cuối cùng đến thị trấn Senānigama ở Uruvelā. Tại đó, Ta thấy một vùng đất đáng yêu, một khu rừng tĩnh lặng, một dòng sông trong trẻo chảy qua với những bến nước đẹp đẽ và dễ chịu, và xung quanh là những ngôi làng có thể đi khất thực.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Vùng đất này thật đáng yêu, khu rừng thật tĩnh lặng, dòng sông trong trẻo chảy qua với những bến nước đẹp đẽ và dễ chịu, và xung quanh là những ngôi làng có thể đi khất thực. Nơi này thật thích hợp cho một thiện nam tử đang mong muốn nỗ lực tu tập.' Này các tỳ kheo, Ta đã ngồi xuống ngay tại đó, nghĩ rằng: 'Nơi này thật thích hợp để nỗ lực tu tập.'

18. Này các tỳ kheo, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn.

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: 'Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển, đây là lần sinh ra cuối cùng, nay không còn sự tái sinh nào nữa.'

19. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Chân lý (pháp) mà Ta đã đạt được này thật sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, bình an, vi diệu, vượt ngoài phạm vi của lý luận, tinh tế, chỉ những người trí mới có thể trải nghiệm. Nhưng nhân loại này lại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu. Đối với một nhân loại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu, thì điều này thật khó thấy, đó là: tính Phụ thuộc cùng sinh này (y tánh duyên khởi / idappaccayatā) và sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppādo). Điều này cũng thật khó thấy, đó là: sự lắng dịu (tịch chỉ / samatho) của mọi hoạt động (hành / saṅkhāra), sự buông bỏ (từ bỏ / paṭinissaggo) mọi nền tảng bám víu, sự cạn kiệt mong muốn (ái tận / taṇhākkhayo), cạn hết đắm nhiễm, bị chặn đứng hoàn toàn, Niết-bàn. Nếu Ta giảng dạy Chân lý này, và những người khác không hiểu Ta, thì đó sẽ là sự mệt mỏi cho Ta, đó sẽ là sự phiền toái cho Ta.'

Và này các tỳ kheo, những vần kệ kỳ diệu này, trước đây chưa từng được nghe, đã hiện lên trong Ta:

Khó khăn thay Ta mới đạt được,
Nay đâu cần phải tuyên thuyết ra;
Những kẻ bị tham sân chi phối,
Pháp này thật khó để nhận ra.

Đi ngược dòng đời, thật tinh tế,
Sâu thẳm, khó thấy, rất vi tế;
Kẻ đắm nhiễm tham không thể thấy,
Bị khối vô minh che khuất rồi.

Này các tỳ kheo, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.

20. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati, sau khi biết được suy nghĩ trong tâm Ta bằng tâm của mình, đã nghĩ như sau: 'Thế giới này sẽ tiêu vong, thế giới này sẽ bị hủy diệt, vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.'

Rồi này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati—nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra—đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Ta. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati đắp y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Ta và nói điều này: 'Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giảng dạy Chân lý, xin Thiện Thệ hãy giảng dạy Chân lý. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, họ đang suy tàn vì không được nghe Chân lý. Sẽ có những người hiểu được Chân lý.'

Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, này các tỳ kheo. Sau khi nói điều này, vị ấy lại nói thêm:

Xưa kia tại xứ Ma-kiệt-đà,
Kẻ uế ra pháp xấu;
Xin mở cửa bất tử,
Chánh Pháp bậc Vô Cấu ngộ.

Trên đỉnh cao nhìn xuống,
Thấy dân ở bốn bề;
Cũng vậy, bậc Đại Trí,
Trên cao Pháp toàn tri;
Bậc Vô Sầu nhìn thấu,
Rõ quần chúng sinh linh,
Chìm đắm trong sinh lão.

Hãy đứng lên, bậc Anh Hùng,
Bậc Đạo Sư không nợ, đi khắp đời;
Xin Thế Tôn hãy tuyên thuyết Chánh Pháp,
Sẽ có người thấu hiểu được Pháp mầu.

21. Khi ấy, này các tỳ kheo, sau khi hiểu được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng thương xót đối với chúng sinh, Ta đã quan sát thế giới bằng Phật nhãn. Này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những có chúng sinh ít bụi trong mắt, có chúng sinh nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần (căn / indriya) nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia. Giống như trong một hồ hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng, một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên ngang bằng mặt nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên cao khỏi mặt nước và không bị nước làm ướt; cũng vậy, này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những chúng sinh có ít bụi trong mắt, có nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đã đáp lại Phạm thiên Sahampati bằng vần kệ:

Cửa bất tử đã mở cho họ,
Ai có tai hãy buông niềm tin;
Tưởng sẽ phiền nhọc, Ta không nói,
Pháp vi diệu giữa chốn nhân quần.

Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati nghĩ rằng: 'Thế Tôn đã cho phép ta thỉnh cầu việc giảng dạy Chân lý,' vị ấy đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh Ta về phía bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

22. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Āḷāra Kālāma là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Āḷāra Kālāma đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.'

Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: 'Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.'

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: 'Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Āḷāra Kālāma đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.'

23. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Udaka Rāmaputta là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Udaka Rāmaputta đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.'

Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: 'Bạch Thế Tôn, Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.'

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: 'Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Udaka Rāmaputta đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.'

24. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Nhóm năm tỳ kheo đã mang lại nhiều lợi ích (đa hữu ích / bahukārā) cho Ta, họ đã phục vụ Ta khi Ta đang nỗ lực tu tập. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho nhóm năm tỳ kheo đầu tiên.'

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Hiện nay nhóm năm tỳ kheo đang sống ở đâu?' Bằng mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá khả năng của con người, Ta thấy nhóm năm tỳ kheo đang sống ở Vārāṇasī, tại Vườn Nai ở Isipatana. Rồi này các tỳ kheo, sau khi ở lại Uruvelā bao lâu tùy thích, Ta bắt đầu chuyến du hành hướng về Vārāṇasī.

25. Này các tỳ kheo, du sĩ Upaka thấy Ta đang đi trên đường cái giữa Gayā và cội Bồ-đề. Thấy Ta, ông ấy nói điều này: 'Thưa hiền giả, các giác quan của ngài thật trong sáng, màu da của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Thưa hiền giả, ngài đã xuất gia nhân danh ai, ai là thầy của ngài, hoặc ngài thích Chân lý của ai?'

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta đã đáp lại du sĩ Upaka bằng những vần kệ:

Ta vượt qua tất cả, biết tất cả,
Không bị vấy bẩn bởi mọi pháp;
Từ bỏ tất cả, giải thoát ái tận,
Tự mình thắng tri, gọi ai là thầy?

Ta không có bậc đạo sư nào,
Người giống như Ta không tồn tại;
Trong thế giới cùng với chư thiên,
Không có ai sánh bằng Ta cả.

Ta là bậc A-la-hán trên đời,
Ta là bậc Đạo Sư vô thượng;
Ta là bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất,
Đã trở nên mát mẻ, tịch diệt.

Để chuyển bánh xe Chánh Pháp này,
Ta đi đến thành phố Kāsi;
Trong thế giới đang bị mù lòa,
Ta gióng lên tiếng trống bất tử.

'Theo như ngài tự nhận, thưa hiền giả, ngài xứng đáng là bậc chiến thắng vô tận.'

Những ai đạt đến lậu hoặc tận,
Chính là những bậc chiến thắng như Ta;
Ta đã chiến thắng các ác pháp,
Do vậy, Upaka, Ta là người chiến thắng.

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, du sĩ Upaka nói: 'Có thể là như vậy, thưa hiền giả,' rồi lắc đầu, rẽ sang một con đường khác và bỏ đi.

26. Rồi này các tỳ kheo, du hành dần dần, Ta đi đến Vārāṇasī, tại Vườn Nai ở Isipatana, nơi nhóm năm tỳ kheo đang ở. Này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo thấy Ta đang đi đến từ đằng xa. Thấy vậy, họ thỏa thuận với nhau: 'Thưa các hiền giả, sa-môn Gotama này đang đi đến, ông ta sống sung túc, đã từ bỏ sự nỗ lực, và quay trở lại đời sống sung túc. Chúng ta không nên chào hỏi ông ta, không nên đứng dậy đón tiếp, không nên nhận bát và y của ông ta. Nhưng chúng ta có thể dọn sẵn một chỗ ngồi, nếu ông ta muốn, ông ta sẽ ngồi.' Nhưng này các tỳ kheo, khi Ta càng đến gần, nhóm năm tỳ kheo càng không thể giữ được thỏa thuận của họ. Một số người tiến ra đón Ta và nhận bát y, một số dọn chỗ ngồi, một số chuẩn bị nước rửa chân. Tuy nhiên, họ vẫn gọi Ta bằng tên và bằng từ 'hiền giả' (āvuso).

27. Khi được gọi như vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: 'Này các tỳ kheo, đừng gọi Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) bằng tên và bằng từ "hiền giả". Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.'

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: 'Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?'

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: 'Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy không sống sung túc, không từ bỏ sự nỗ lực, không quay trở lại đời sống sung túc. Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.'

Lần thứ hai, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: 'Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?'

Lần thứ hai, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: 'Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy không sống sung túc [...lặp lại...] và an trú ngay trong hiện tại.'

Lần thứ ba, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: 'Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?'

28. Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: 'Này các tỳ kheo, các vị có nhớ trước đây Ta đã từng nói những lời như thế này chưa?'

'Bạch Thế Tôn, chưa từng.'

'Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.'

29. Này các tỳ kheo, Ta đã có thể thuyết phục được nhóm năm tỳ kheo. Này các tỳ kheo, Ta chỉ dạy cho hai tỳ kheo, trong khi ba tỳ kheo đi khất thực. Những gì ba tỳ kheo mang về sau khi đi khất thực, cả sáu chúng ta cùng ăn để duy trì mạng sống. Này các tỳ kheo, Ta chỉ dạy cho ba tỳ kheo, trong khi hai tỳ kheo đi khất thực. Những gì hai tỳ kheo mang về sau khi đi khất thực, cả sáu chúng ta cùng ăn để duy trì mạng sống.

30. Rồi này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo, được Ta khuyên bảo như vậy, được Ta chỉ dạy như vậy, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau [...lặp lại...] tự mình chịu sự chết chóc [...lặp lại...] tự mình chịu sự sầu muộn [...lặp lại...] tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn. Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong họ: 'Sự giải thoát của chúng tôi là không thể lay chuyển, đây là lần sinh ra cuối cùng, nay không còn sự tái sinh nào nữa.'

31. Này các tỳ kheo, có năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇā). Năm sợi dây đó là gì? Những hình ảnh (sắc / rūpā) được nhận biết bởi 'cái biết' ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññeyyā), đáng ao ước, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng (dục / kāma), đầy cám dỗ; những âm thanh được nhận biết bởi 'cái biết' ở tai [...lặp lại...] những mùi hương được nhận biết bởi 'cái biết' ở mũi [...lặp lại...] những vị được nhận biết bởi 'cái biết' ở lưỡi [...lặp lại...] những xúc chạm được nhận biết bởi 'cái biết' ở thân, đáng ao ước, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ. Này các tỳ kheo, đây là năm sợi dây trói buộc của bản năng.

32. Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, không thấy rõ sự nguy hiểm, không có trí tuệ để thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) mà vẫn thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: 'Họ đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác (Ma vương) có thể làm gì họ tùy ý.'

Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng bị mắc vào bẫy. Con nai ấy phải được hiểu như sau: 'Nó đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và người thợ săn có thể làm gì nó tùy ý. Khi người thợ săn đến, nó không thể chạy trốn theo ý muốn.'

Cũng vậy, này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, không thấy rõ sự nguy hiểm, không có trí tuệ để thoát khỏi mà vẫn thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: 'Họ đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác có thể làm gì họ tùy ý.'

33. Nhưng này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào không bị trói buộc, không mê mẩn, không đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, thấy rõ sự nguy hiểm, có trí tuệ để thoát khỏi và thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: 'Họ không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác không thể làm gì họ tùy ý.'

Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng nằm nghỉ trên một cái bẫy nhưng không bị mắc bẫy. Con nai ấy phải được hiểu như sau: 'Nó không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và người thợ săn không thể làm gì nó tùy ý. Khi người thợ săn đến, nó có thể chạy trốn theo ý muốn.'

Cũng vậy, này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào không bị trói buộc, không mê mẩn, không đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, thấy rõ sự nguy hiểm, có trí tuệ để thoát khỏi và thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: 'Họ không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác không thể làm gì họ tùy ý.'

34. Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng đi lang thang trong rừng sâu, nó đi lại tự tin, đứng tự tin, ngồi tự tin, nằm nghỉ tự tin. Vì sao vậy? Vì nó nằm ngoài tầm nhìn của người thợ săn, này các tỳ kheo.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) các bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là người đã làm mù mắt Ác ma, đã tiêu diệt tầm nhìn của Ác ma khiến Ác ma không thể nhìn thấy dấu vết, và đã vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

35. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

36. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự cạn hết đắm nhiễm đối với hân hoan, tỳ kheo an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhā), tập trung chú ý (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), trải nghiệm hạnh phúc qua cơ thể, điều mà các bậc thánh gọi là 'người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc', đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

37. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúcđau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, tỳ kheo đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, một trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), nơi tập trung chú ý được thanh lọc hoàn toàn bởi Tâm quân bình. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

38. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn các nhận thức (tưởng / saññā) về vật chất (sắc / rūpa), với sự tan biến của các nhận thức về va chạm, không suy nghĩ (tác ý / amanasikārā) đến các nhận thức về sự đa dạng, tỳ kheo nghĩ rằng 'Không gian là vô tận', đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

39. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, tỳ kheo nghĩ rằng ''Cái Biết' là vô tận', đạt đến và an trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

40. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi 'Cái Biết' là Vô Tận, tỳ kheo nghĩ rằng 'Không có vật gì cả', đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

41. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, tỳ kheo đạt đến và an trú trong xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là [...lặp lại...] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

42. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", tỳ kheo đạt đến và an trú trong trạng thái làm ngưng cảm giác và nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), và sau khi thấy rõ bằng trí tuệ, các nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) của vị ấy bị cạn kiệt (đoạn tận / parikkhīṇā). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là người đã làm mù mắt Ác ma, đã tiêu diệt tầm nhìn của Ác ma khiến Ác ma không thể nhìn thấy dấu vết, và đã vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác. Vị ấy đã vượt qua sự bám víu ở đời, đi lại tự tin, đứng tự tin, ngồi tự tin, nằm nghỉ tự tin. Vì sao vậy? Vì vị ấy nằm ngoài tầm nhìn của Kẻ Ác, này các tỳ kheo."

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Thế Tôn.

Kết thúc Kinh Thánh Cầu, bài kinh thứ sáu.