MN 25. KINH MỒI NHỬ
(Nivāpasutta)Bản tóm tắt→
1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Kỳ Viên, trong tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
2. "Này các tỳ kheo, người thợ săn không gieo mồi nhử cho bầy nai (migajātānaṁ) với suy nghĩ: 'Mong rằng bầy nai ăn mồi nhử do ta gieo xuống sẽ được sống lâu, có sắc vóc, và duy trì mạng sống trong một thời gian dài.' Mà này các tỳ kheo, người thợ săn gieo mồi nhử cho bầy nai với suy nghĩ: 'Bầy nai xâm nhập vào và mê mẩn (mucchitā) ăn mồi nhử do ta gieo xuống; khi xâm nhập và mê mẩn ăn, chúng sẽ trở nên say sưa (madaṁ āpajjissanti); khi đã say sưa, chúng sẽ sao nhãng (phóng dật / pamādaṁ); khi đã sao nhãng, chúng sẽ bị thao túng theo ý muốn (yathākāmakaraṇīyā) của ta ngay tại mồi nhử này.'
3. Ở đó, này các tỳ kheo, bầy nai thứ nhất xâm nhập vào và mê mẩn ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống; tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, chúng trở nên say sưa; khi đã say sưa, chúng sao nhãng; khi đã sao nhãng, chúng bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy. Như vậy, này các tỳ kheo, bầy nai thứ nhất đã không thoát khỏi quyền lực (thần lực / iddhānubhāvā) của người thợ săn.
4. Ở đó, này các tỳ kheo, bầy nai thứ hai suy nghĩ như sau: 'Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia đã xâm nhập vào và mê mẩn ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, chúng trở nên say sưa; khi đã say sưa, chúng sao nhãng; khi đã sao nhãng, chúng bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy. Như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng (bhayabhogā), đi sâu vào những khu rừng sâu (araññāyatanāni) và sinh sống tại đó.' Chúng hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó. Vào tháng cuối của mùa hè, khi cỏ và nước cạn kiệt, cơ thể chúng trở nên vô cùng gầy gò ốm yếu. Vì cơ thể vô cùng gầy gò ốm yếu, sức mạnh và nỗ lực (balavīriyaṁ) của chúng bị suy giảm. Khi sức mạnh và nỗ lực bị suy giảm, chúng quay trở lại chính mồi nhử do người thợ săn gieo xuống. Tại đó, chúng xâm nhập vào và mê mẩn ăn. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, chúng trở nên say sưa; khi đã say sưa, chúng sao nhãng; khi đã sao nhãng, chúng bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy. Như vậy, này các tỳ kheo, bầy nai thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn.
5. Ở đó, này các tỳ kheo, bầy nai thứ ba suy nghĩ như sau: 'Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia đã ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Những con nai thuộc bầy thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: "Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia đã ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó." Chúng hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó. Vào tháng cuối của mùa hè, khi cỏ và nước cạn kiệt, cơ thể chúng trở nên vô cùng gầy gò ốm yếu. Vì cơ thể vô cùng gầy gò ốm yếu, sức mạnh và nỗ lực của chúng bị suy giảm. Khi sức mạnh và nỗ lực bị suy giảm, chúng quay trở lại chính mồi nhử do người thợ săn gieo xuống. Tại đó, chúng xâm nhập vào và mê mẩn ăn. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, chúng trở nên say sưa; khi đã say sưa, chúng sao nhãng; khi đã sao nhãng, chúng bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy. Như vậy, bầy thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn (āsayaṁ) ngay gần mồi nhử do người thợ săn gieo xuống. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn; khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa; khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng; khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy.' Chúng thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do người thợ săn gieo xuống. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn; tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng không trở nên say sưa; khi không say sưa, chúng không sao nhãng; khi không sao nhãng, chúng không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy.
Khi ấy, này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn suy nghĩ như sau: 'Bầy nai thứ ba này thật tinh khôn, xảo quyệt, bầy nai thứ ba này là những kẻ có mánh khóe xa lạ; chúng ăn mồi nhử được gieo xuống này, nhưng chúng ta không biết đường đến hay đường đi của chúng. Hay là chúng ta hãy dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống này, biết đâu chúng ta sẽ nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ ba, nơi chúng đi đến để ẩn nấp.' Họ dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống. Này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn đã nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ ba, nơi chúng đi đến để ẩn nấp. Như vậy, này các tỳ kheo, bầy nai thứ ba cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn.
6. Ở đó, này các tỳ kheo, bầy nai thứ tư suy nghĩ như sau: 'Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Những con nai thuộc bầy thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: "Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó." Chúng hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Những con nai thuộc bầy thứ ba kia cũng suy nghĩ như sau: "Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Những con nai thuộc bầy thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: 'Những con nai thuộc bầy thứ nhất kia [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó.' Chúng hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử [...lặp lại...] như vậy, bầy thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do người thợ săn gieo xuống, sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy." Chúng thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do người thợ săn gieo xuống, sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn, tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy. Khi ấy người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn suy nghĩ như sau: "Bầy nai thứ ba này thật xảo trá, lừa lọc, bầy nai thứ ba này là những kẻ có mánh khóe xa lạ, chúng ăn mồi nhử được gieo xuống này. Nhưng chúng ta không biết đường đến hay đường đi của chúng. Hay là chúng ta hãy dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống này, biết đâu chúng ta sẽ nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ ba, nơi chúng đi đến để ẩn nấp." Họ dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống. Người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn đã nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ ba, nơi chúng đi đến để ẩn nấp. Như vậy, bầy thứ ba cũng không thoát khỏi quyền lực của người thợ săn. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn ở nơi mà người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn không thể đi tới, sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy.' Chúng thiết lập nơi trú ẩn ở nơi mà người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn không thể đi tới. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ăn mồi nhử do người thợ săn gieo xuống mà không xâm nhập, không mê mẩn, tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng không bị thao túng theo ý muốn của người thợ săn ngay tại mồi nhử ấy.
Khi ấy, này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn suy nghĩ như sau: 'Bầy nai thứ tư này thật xảo trá, lừa lọc, bầy nai thứ tư này là những kẻ có mánh khóe xa lạ. Chúng ăn mồi nhử được gieo xuống này, nhưng chúng ta không biết đường đến hay đường đi của chúng. Hay là chúng ta hãy dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống này, biết đâu chúng ta sẽ nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ tư, nơi chúng đi đến để ẩn nấp.' Họ dùng những hàng rào cọc lớn bao vây toàn bộ khu vực xung quanh mồi nhử được gieo xuống. Nhưng này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn hoàn toàn không nhìn thấy nơi trú ẩn của bầy nai thứ tư, nơi chúng đi đến để ẩn nấp. Khi ấy, này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn suy nghĩ như sau: 'Nếu chúng ta quấy rầy bầy nai thứ tư, khi bị quấy rầy chúng sẽ báo động cho những con khác, những con bị báo động sẽ lại báo động cho những con khác nữa. Như vậy, toàn bộ bầy nai sẽ bỏ đi khỏi mồi nhử được gieo xuống này. Hay là chúng ta hãy phớt lờ bầy nai thứ tư.' Này các tỳ kheo, người thợ săn và đoàn tùy tùng của người thợ săn đã phớt lờ bầy nai thứ tư. Như vậy, này các tỳ kheo, bầy nai thứ tư đã thoát khỏi quyền lực của người thợ săn.
7. Này các tỳ kheo, Ta đưa ra ẩn dụ này để làm rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó—
Này các tỳ kheo, mồi nhử là từ đồng nghĩa với năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇānaṁ).
Này các tỳ kheo, người thợ săn là từ đồng nghĩa với Ác ma (Māra / mārassetaṁ) tội lỗi.
Này các tỳ kheo, đoàn tùy tùng của người thợ săn là từ đồng nghĩa với đoàn tùy tùng của Ác ma.
Này các tỳ kheo, bầy nai là từ đồng nghĩa với các sa-môn, bà-la-môn.
8. Ở đó, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất xâm nhập vào và mê mẩn ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian (lokāmisāni). Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, họ trở nên say sưa; khi đã say sưa, họ sao nhãng; khi đã sao nhãng, họ bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Như vậy, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Này các tỳ kheo, Ta nói rằng hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất này giống như bầy nai thứ nhất kia.
9. Ở đó, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai suy nghĩ như sau: 'Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã xâm nhập vào và mê mẩn ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, họ trở nên say sưa; khi đã say sưa, họ sao nhãng; khi đã sao nhãng, họ bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó.' Họ hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó. Họ hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó. Tại đó, họ ăn rau cỏ, ăn lúa miêu, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong rêu, ăn cám, ăn váng vớt, ăn bã vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, họ duy trì mạng sống bằng rễ cây và trái cây rừng, ăn những trái cây tự rụng.
Vào tháng cuối của mùa hè, khi cỏ và nước cạn kiệt, cơ thể họ trở nên vô cùng gầy gò ốm yếu. Vì cơ thể vô cùng gầy gò ốm yếu, sức mạnh và nỗ lực của họ bị suy giảm. Khi sức mạnh và nỗ lực bị suy giảm, sự giải thoát của tâm (cetovimutti) bị suy giảm. Khi sự giải thoát của tâm bị suy giảm, họ quay trở lại chính mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian ấy. Tại đó, họ xâm nhập vào và mê mẩn ăn. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, họ trở nên say sưa; khi đã say sưa, họ sao nhãng; khi đã sao nhãng, họ bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Như vậy, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Này các tỳ kheo, Ta nói rằng hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai này giống như bầy nai thứ hai kia.
10. Ở đó, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ ba suy nghĩ như sau: 'Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: "Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó." Họ hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian. Sợ hãi việc thụ hưởng, họ đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó. Tại đó, họ ăn rau cỏ [...lặp lại...] ăn những trái cây tự rụng. Vào tháng cuối của mùa hè, khi cỏ và nước cạn kiệt, cơ thể họ trở nên vô cùng gầy gò ốm yếu. Vì cơ thể vô cùng gầy gò ốm yếu, sức mạnh và nỗ lực của họ bị suy giảm, khi sức mạnh và nỗ lực bị suy giảm, sự giải thoát của tâm bị suy giảm, khi sự giải thoát của tâm bị suy giảm, họ quay trở lại chính mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian ấy. Tại đó, họ xâm nhập vào và mê mẩn ăn. Tại đó, khi xâm nhập và mê mẩn ăn, họ trở nên say sưa, khi đã say sưa, họ sao nhãng, khi đã sao nhãng, họ bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian, sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy.'
Họ thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, họ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn. Tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, họ không trở nên say sưa, khi không say sưa, họ không sao nhãng, khi không sao nhãng, họ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Tuy nhiên, họ lại có những quan điểm như sau—thế giới là vĩnh hằng, hoặc thế giới không vĩnh hằng; thế giới có giới hạn, hoặc thế giới không có giới hạn; sinh mệnh và cơ thể là một, hoặc sinh mệnh và cơ thể là khác nhau; Như Lai tồn tại sau khi chết, hoặc Như Lai không tồn tại sau khi chết, hoặc Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, hoặc Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Như vậy, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ ba cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Này các tỳ kheo, Ta nói rằng hạng sa-môn, bà-la-môn thứ ba này giống như bầy nai thứ ba kia.
11. Ở đó, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ tư suy nghĩ như sau: 'Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: 'Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó.' Họ hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ ba kia cũng suy nghĩ như sau: hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai kia cũng suy nghĩ như sau: hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ nhất kia đã không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian, sợ hãi việc thụ hưởng, đi sâu vào những khu rừng sâu và sinh sống tại đó.' Họ hoàn toàn tránh xa thức ăn là mồi nhử và mồi nhử của thế gian [...lặp lại...]. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Họ thiết lập nơi trú ẩn ngay gần mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, họ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn. Tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, họ không trở nên say sưa. Khi không say sưa, họ không sao nhãng. Khi không sao nhãng, họ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Tuy nhiên, họ lại có những quan điểm như sau: thế giới là vĩnh hằng [...lặp lại...] hoặc Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Như vậy, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ ba cũng không thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Hay là chúng ta hãy thiết lập nơi trú ẩn ở nơi mà Ác ma và đoàn tùy tùng của Ác ma không thể đi tới. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, chúng ta sẽ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, chúng ta sẽ không trở nên say sưa, khi không say sưa, chúng ta sẽ không sao nhãng, khi không sao nhãng, chúng ta sẽ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy.'
Họ thiết lập nơi trú ẩn ở nơi mà Ác ma và đoàn tùy tùng của Ác ma không thể đi tới. Sau khi thiết lập nơi trú ẩn tại đó, họ ăn mồi nhử do Ác ma gieo xuống và những mồi nhử của thế gian mà không xâm nhập, không mê mẩn, tại đó, khi ăn mà không xâm nhập, không mê mẩn, họ không trở nên say sưa, khi không say sưa, họ không sao nhãng, khi không sao nhãng, họ không bị thao túng theo ý muốn của Ác ma ngay tại mồi nhử và mồi nhử của thế gian ấy. Như vậy, này các tỳ kheo, hạng sa-môn, bà-la-môn thứ tư đã thoát khỏi quyền lực của Ác ma. Này các tỳ kheo, Ta nói rằng hạng sa-môn, bà-la-môn thứ tư này giống như bầy nai thứ tư kia.
12. Và này các tỳ kheo, thế nào là nơi mà Ác ma và đoàn tùy tùng của Ác ma không thể đi tới? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo rời bỏ (vivicca) khỏi bản năng (kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (akusalehi dhammehi), đạt được và an trú trong Thiền-na (jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (savitakkaṁ), có nỗ lực duy trì sự chú ý (savicāraṁ), có hân hoan (pīti) và hạnh phúc (sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (vivekajaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là vị tỳ kheo đã làm mù mắt Ác ma (andhamakāsi māraṁ), xóa sạch dấu vết khiến con mắt của Ác ma không thể nhìn thấy.
13. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do lắng dịu (vūpasamā) chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (avitakkaṁ avicāraṁ), đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định (samādhijaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
14. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do cạn hết đắm nhiễm (virāgā) với hân hoan, trú trong Tâm quân bình (upekkhako), tập trung chú ý (sato) và nhận biết rõ ràng (sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh gọi là 'người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc'. Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
15. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do hoàn toàn từ bỏ (pahānā) hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ (dukkhassa), do sự biến mất (atthaṅgamā) của thanh thản (somanassa) và ưu phiền (domanassa) từ trước, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình và tập trung chú ý (upekkhāsatipārisuddhiṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
16. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do vượt qua hoàn toàn các nhận thức (saññānaṁ) về hình ảnh (rūpa), do sự biến mất của các nhận thức về va chạm (paṭighasaññānaṁ), do không suy nghĩ (amanasikārā) về các nhận thức đa dạng, với suy nghĩ 'Không gian là vô tận', đạt được và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (ākāsānañcāyatanaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
17. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, với suy nghĩ ''Cái Biết' là vô tận', đạt được và an trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (viññāṇañcāyatanaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
18. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do vượt qua hoàn toàn cõi 'Cái Biết' là Vô Tận, với suy nghĩ 'Không có vật gì', đạt được và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (ākiñcaññāyatanaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
19. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, đạt được và an trú trong xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Này các tỳ kheo, đây được gọi là [...lặp lại...] không thể nhìn thấy.
20. Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo do vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", đạt được và an trú trong trạng thái làm ngưng nhận thức và cảm giác (saññāvedayitanirodhaṁ). Và sau khi thấy rõ bằng trí tuệ, các nguồn ác (āsavā) của vị ấy bị cạn kiệt (parikkhīṇā). Này các tỳ kheo, đây được gọi là vị tỳ kheo đã làm mù mắt Ác ma, xóa sạch dấu vết khiến con mắt của Ác ma tội lỗi không thể nhìn thấy, đã vượt qua sự trói buộc ở đời."
Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Kết thúc Kinh Mồi Nhử, bài kinh thứ năm.