MN 22. KINH VÍ DỤ CON RẮN
(Alagaddūpamasutta)Bản tóm tắt→
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
2. Lúc bấy giờ, một tỳ kheo tên là Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, khởi lên một quan điểm sai lầm (ác kiến / diṭṭhigata) tồi tệ như sau: "Theo như tôi hiểu Điều dạy (pháp / dhamma) do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại (chướng ngại pháp / antarāyikā dhammā) mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn làm điều đó, [thì không sao]chúng không là chướng ngại."
Nhiều tỳ kheo nghe được: "Nghe nói tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại.'" Rồi các tỳ kheo ấy đi đến chỗ tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền; sau khi đến, họ nói với tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, điều này: "Này hiền giả Ariṭṭha, có đúng là bạn đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại' không?"
3. "Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng như thế này: những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại."
Sau đó, các tỳ kheo ấy, muốn can ngăn tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ra khỏi quan điểm sai lầm đó, liền gạn hỏi, tra vấn và chất vấn vị ấy: "Này hiền giả Ariṭṭha, đừng nói như vậy, đừng hiểu sai lời Đức Thế Tôn; vu khống Đức Thế Tôn là điều không tốt, Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Ariṭṭha, bằng nhiều cách khác nhau, Đức Thế Tôn đã nói những Điều là chướng ngại thực sự là chướng ngại, và khi thực hành theo chúng, chúng đủ khả năng gây chướng ngại. Đức Thế Tôn đã nói bản năng (dục / kāmā) mang lại ít vị ngọt, nhiều đau khổ (khổ / dukkha), nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như khúc xương xẩu... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như miếng thịt... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như bó đuốc cỏ... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như hố than hồng... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như giấc mơ... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như đồ đi mượn... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như trái cây trên cây... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như lò mổ và dao phay... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như mũi kiếm và ngọn giáo... Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như đầu con rắn độc, mang lại nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn."
Dù bị các tỳ kheo ấy gạn hỏi, tra vấn và chất vấn như vậy, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm đó và tuyên bố: "Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng như thế này: những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại."
Vì các tỳ kheo ấy không thể tách tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ra khỏi quan điểm sai lầm đó, nên họ đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ kheo ấy thưa với Đức Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại.' Bạch Thế Tôn, chúng con nghe rằng: 'Nghe nói tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau—Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại.'
Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền; sau khi đến, chúng con nói với tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, điều này: 'Này hiền giả Ariṭṭha, có đúng là bạn đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau—Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại không?'
Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, đã nói với chúng con: 'Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng như thế này: những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại.' Bạch Thế Tôn, sau đó chúng con, muốn tách tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ra khỏi quan điểm sai lầm đó, liền gạn hỏi, tra vấn và chất vấn vị ấy: 'Này hiền giả Ariṭṭha, đừng nói như vậy, đừng hiểu sai lời Đức Thế Tôn; vu khống Đức Thế Tôn là điều không tốt, Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Ariṭṭha, bằng nhiều cách khác nhau, Đức Thế Tôn đã nói những Điều là chướng ngại thực sự là chướng ngại, và khi thực hành theo chúng, chúng đủ khả năng gây chướng ngại. Đức Thế Tôn đã nói bản năng mang lại ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như khúc xương xẩu [...lặp lại...] Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như đầu con rắn độc, mang lại nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn.'
Bạch Thế Tôn, dù bị chúng con gạn hỏi, tra vấn và chất vấn như vậy, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai lầm đó và tuyên bố: 'Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng như thế này: những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại.' Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể tách tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ra khỏi quan điểm sai lầm đó, nên chúng con đến báo cáo sự việc này cho Đức Thế Tôn."
5. Khi ấy, Đức Thế Tôn gọi một tỳ kheo khác: "Này tỳ kheo, hãy đến đây, nhân danh Ta, hãy gọi tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền: 'Này hiền giả Ariṭṭha, Bậc Đạo Sư gọi bạn.'"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", tỳ kheo ấy vâng lời Đức Thế Tôn, đi đến chỗ tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền; sau khi đến, vị ấy nói với tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền: "Này hiền giả Ariṭṭha, Bậc Đạo Sư gọi bạn."
"Thưa vâng, hiền giả", tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, vâng lời tỳ kheo ấy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, đã ngồi một bên, Đức Thế Tôn nói với vị ấy điều này:
"Này Ariṭṭha, có đúng là con đã khởi lên một quan điểm sai lầm như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng, thì những Điều là chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại' không?"
"Bạch Thế Tôn, đúng là con hiểu Điều dạy do Đức Thế Tôn giảng như thế này: 'những Điều gây chướng ngại mà Đức Thế Tôn đã nói, nếu một người vẫn đi theo điều đó, chúng [thực] không đủ để là chướng ngại'."
6. "Này kẻ ngu ngốc, con hiểu Ta đã giảng Điều dạy như vậy cho ai? Này kẻ ngu ngốc, chẳng phải Ta đã dùng nhiều cách khác nhau để nói rằng những Điều là chướng ngại thực sự là chướng ngại sao? Và khi thực hành theo chúng, chúng đủ khả năng gây chướng ngại. Ta đã nói bản năng mang lại ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Ta đã nói bản năng giống như khúc xương xẩu... Ta đã nói bản năng giống như miếng thịt... Ta đã nói bản năng giống như bó đuốc cỏ... Ta đã nói bản năng giống như hố than hồng... Ta đã nói bản năng giống như giấc mơ... Ta đã nói bản năng giống như đồ đi mượn... Ta đã nói bản năng giống như trái cây trên cây... Ta đã nói bản năng giống như lò mổ và dao phay... Ta đã nói bản năng giống như mũi kiếm và ngọn giáo... Ta đã nói bản năng giống như đầu con rắn độc, mang lại nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Thế mà, này kẻ ngu ngốc, do tự mình nắm bắt sai lầm, con không những hiểu sai Ta, mà còn tự đào hố chôn mình, và sinh ra nhiều điều không phước. Này kẻ ngu ngốc, điều đó sẽ mang lại cho con sự bất lợi và đau khổ lâu dài."
7. Khi ấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền này, có chút tia sáng nào trong Điều dạy và Kỷ luật này không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được; thưa không, bạch Thế Tôn." Khi được nói như vậy, tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào.
Thấy tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào, Đức Thế Tôn nói với tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền, điều này: "Này kẻ ngu ngốc, con sẽ được biết đến bởi chính quan điểm sai lầm này của con. Ở đây, Ta sẽ hỏi các tỳ kheo."
8. Khi ấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các ông có hiểu Điều dạy do Ta giảng giống như cách tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền này, do tự mình nắm bắt sai lầm, không những hiểu sai Ta, mà còn tự đào hố chôn mình, và sinh ra nhiều điều không phước không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn. Bằng nhiều cách khác nhau, bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn đã nói những Điều là chướng ngại thực sự là chướng ngại; và khi chạy [thực hành] theo chúng, chúng đủ khả năng gây chướng ngại. Đức Thế Tôn đã nói bản năng mang lại ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như khúc xương xẩu [...lặp lại...] Đức Thế Tôn đã nói bản năng giống như đầu con rắn độc, mang lại nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn."
"Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ kheo, tốt lắm, các ông đã hiểu Điều dạy do Ta giảng như vậy. Bằng nhiều cách khác nhau, này các tỳ kheo, Ta đã nói những Điều là chướng ngại thực sự là chướng ngại, và khi thực hành theo chúng, chúng đủ khả năng gây chướng ngại.
Ta đã nói bản năng mang lại ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Ta đã nói bản năng giống như khúc xương xẩu [...lặp lại...] Ta đã nói bản năng giống như đầu con rắn độc, mang lại nhiều đau khổ, nhiều tuyệt vọng, sự nguy hiểm ở đây là rất lớn. Thế mà tỳ kheo Ariṭṭha người từng làm nghề săn kền kền này, do tự mình nắm bắt sai lầm, không những hiểu sai Ta, mà còn tự đào hố chôn mình, và sinh ra nhiều điều không phước. Điều đó sẽ mang lại cho kẻ ngu ngốc ấy sự bất lợi và đau khổ lâu dài. Này các tỳ kheo, việc một người có thể thực hành bản năng mà không cần đến bản năng, không cần đến nhận thức (tưởng / saññā) về bản năng, không cần đến suy nghĩ về bản năng—điều đó là không thể xảy ra.
10. Này các tỳ kheo, ở đây, một số kẻ ngu ngốc học thuộc Điều dạy—bao gồm kinh văn, thi kệ, diễn giải, kệ ngôn, lời cảm hứng, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Sau khi học thuộc Điều dạy đó, họ không dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa của những Điều ấy. Vì họ không dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa, những Điều ấy không mang lại sự thấu hiểu cho họ. Họ học thuộc Điều dạy chỉ vì lợi ích bắt bẻ người khác và vì lợi ích giải thoát mình khỏi các cuộc tranh luận. Họ không trải nghiệm được mục đích thực sự mà vì đó họ học thuộc Điều dạy. Đối với họ, những Điều bị nắm bắt sai lầm đó sẽ dẫn đến sự bất lợi và đau khổ lâu dài. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt sai lầm các Điều dạy.
Này các tỳ kheo, giống như một người cần rắn nước (rắn độc / alagadda), đi tìm rắn nước, lang thang tìm kiếm rắn nước. Người ấy nhìn thấy một con rắn nước lớn. Người ấy nắm lấy nó ở thân hoặc ở đuôi. Con rắn nước đó sẽ quay lại cắn vào tay, vào cánh tay, hoặc vào một bộ phận nào đó trên cơ thể người ấy. Do nguyên nhân đó, người ấy có thể đi đến cái chết hoặc chịu đau khổ gần như chết. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt con rắn nước sai lầm.
Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây một số kẻ ngu ngốc học thuộc Điều dạy—bao gồm kinh văn, thi kệ, diễn giải, kệ ngôn, lời cảm hứng, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Sau khi học thuộc Điều dạy đó, họ không dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa của những Điều ấy. Vì họ không dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa, những Điều ấy không mang lại sự thấu hiểu cho họ. Họ học thuộc Điều dạy chỉ vì lợi ích bắt bẻ người khác và vì lợi ích giải thoát mình khỏi các cuộc tranh luận. Họ không trải nghiệm được mục đích thực sự mà vì đó họ học thuộc Điều dạy. Đối với họ, những Điều bị nắm bắt sai lầm đó sẽ dẫn đến sự bất lợi và đau khổ lâu dài. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt sai lầm các Điều dạy.
11. Nhưng ở đây, này các tỳ kheo, một số thiện nam tử học thuộc Điều dạy—bao gồm kinh văn, thi kệ, diễn giải, kệ ngôn, lời cảm hứng, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Sau khi học thuộc Điều dạy đó, họ dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa của những Điều ấy. Vì họ dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa, những Điều ấy mang lại sự thấu hiểu cho họ. Họ học thuộc Điều dạy không phải vì lợi ích bắt bẻ người khác, cũng không phải vì lợi ích giải thoát mình khỏi các cuộc tranh luận. Họ trải nghiệm được mục đích thực sự mà vì đó họ học thuộc Điều dạy. Đối với họ, những Điều được nắm bắt đúng đắn đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt đúng đắn các Điều dạy.
Này các tỳ kheo, giống như một người cần rắn nước, đi tìm rắn nước, lang thang tìm kiếm rắn nước. Người ấy nhìn thấy một con rắn nước lớn. Người ấy dùng một cây gậy có chạc đè chặt nó xuống. Sau khi dùng cây gậy có chạc đè chặt nó xuống, người ấy nắm chặt lấy cổ nó. Này các tỳ kheo, cho dù con rắn nước đó có quấn thân nó quanh tay, quanh cánh tay, hoặc quanh một bộ phận nào đó trên cơ thể người ấy, thì do nguyên nhân đó, người ấy cũng không đi đến cái chết hoặc chịu đau khổ gần như chết. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt con rắn nước đúng đắn.
Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây một số thiện nam tử học thuộc Điều dạy—bao gồm kinh văn, thi kệ, diễn giải, kệ ngôn, lời cảm hứng, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Sau khi học thuộc Điều dạy đó, họ dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa của những Điều ấy. Vì họ dùng trí tuệ để kiểm tra ý nghĩa, những Điều ấy mang lại sự thấu hiểu cho họ. Họ học thuộc Điều dạy không phải vì lợi ích bắt bẻ người khác, cũng không phải vì lợi ích giải thoát mình khỏi các cuộc tranh luận. Họ trải nghiệm được mục đích thực sự mà vì đó họ học thuộc Điều dạy. Đối với họ, những Điều được nắm bắt đúng đắn đó sẽ dẫn đến mục đích tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lâu dài. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này các tỳ kheo, là do nắm bắt đúng đắn các Điều dạy.
12. Do đó, này các tỳ kheo, khi các ông hiểu được ý nghĩa lời Ta nói, các ông nên ghi nhớ nó như vậy. Còn nếu các ông không hiểu ý nghĩa lời Ta nói, các ông nên hỏi lại Ta ngay tại đó, hoặc hỏi những tỳ kheo có kinh nghiệm.
13. Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông Điều dạy giống như ví dụ về chiếc bè (kulla), dùng để vượt qua, không phải để nắm giữ. Hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ (tác ý / manasikāra) kỹ, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ kheo ấy vâng lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
"Này các tỳ kheo, giống như một người đang đi trên một con đường dài. Người ấy nhìn thấy một vùng nước lớn, bờ bên này đầy rẫy nguy hiểm và đáng sợ, bờ bên kia an toàn và không đáng sợ; nhưng không có thuyền để qua sông, cũng không có cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Người ấy nghĩ thế này: 'Vùng nước này thật lớn, bờ bên này đầy rẫy nguy hiểm và đáng sợ, bờ bên kia an toàn và không đáng sợ; nhưng không có thuyền để qua sông, cũng không có cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Hay là ta thu gom cỏ, cành cây, nhánh cây và lá cây, buộc thành một chiếc bè, rồi dựa vào chiếc bè đó, nỗ lực bằng tay và chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn.' Sau đó, này các tỳ kheo, người ấy thu gom cỏ, cành cây, nhánh cây và lá cây, buộc thành một chiếc bè, rồi dựa vào chiếc bè đó, nỗ lực bằng tay và chân, vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi người ấy đã vượt qua và đến được bờ bên kia, người ấy nghĩ thế này: 'Chiếc bè này đã mang lại nhiều lợi ích (đa tác dụng / bahukāro) cho ta; dựa vào chiếc bè này, nỗ lực bằng tay và chân, ta đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Hay là ta đội chiếc bè này lên đầu, hoặc vác nó lên vai, rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn.'
Này các tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào, người đó làm như vậy có phải là đang làm đúng chức năng đối với chiếc bè đó không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, người đó phải làm thế nào mới là làm đúng chức năng đối với chiếc bè đó? Ở đây, này các tỳ kheo, khi người ấy đã vượt qua và đến được bờ bên kia, người ấy nghĩ thế này: 'Chiếc bè này đã mang lại nhiều lợi ích cho ta; dựa vào chiếc bè này, nỗ lực bằng tay và chân, ta đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Hay là ta kéo chiếc bè này lên bờ khô, hoặc để nó nổi trên mặt nước, rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn.' Này các tỳ kheo, người đó làm như vậy mới là làm đúng chức năng đối với chiếc bè đó.
Cũng vậy, này các tỳ kheo, Ta đã giảng Điều dạy giống như ví dụ về chiếc bè, dùng để vượt qua, không phải để nắm giữ. Này các tỳ kheo, khi các ông hiểu Điều dạy giống như ví dụ về chiếc bè, các ông cần phải từ bỏ (đoạn trừ / pahātabbā) ngay cả những Điều dạy, huống hồ là những Điều sai (phi pháp / adhammā).
15. Này các tỳ kheo, có sáu nền tảng của quan điểm sai lầm (kiến xứ / diṭṭhiṭṭhānāni). Sáu nền tảng đó là gì? Ở đây, này các tỳ kheo, một người thường không học, không thấy các bậc thánh, không thành thạo Điều dạy của các bậc thánh, không được rèn luyện trong Điều dạy của các bậc thánh, không thấy các chân nhân, không thành thạo Điều dạy của các chân nhân, không được rèn luyện trong Điều dạy của các chân nhân, người ấy nhận thấy cơ thể (sắc / rūpa) như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã (attā) của tôi'; người ấy nhận thấy cảm giác (thọ / vedanā) như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; người ấy nhận thấy nhận thức (tưởng / saññā) như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; người ấy nhận thấy hoạt động (hành / saṅkhāre) như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; bất cứ điều gì được nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận, nhận biết, đạt được, tìm kiếm, hoặc suy nghĩ trong tâm trí, người ấy cũng quan sát điều đó như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; và đối với nền tảng của quan điểm sai lầm này—'thế giới đó là tự ngã đó, sau khi chết tôi sẽ trở thành như vậy, thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không chịu sự hoại diệt, tôi sẽ tồn tại mãi mãi như vậy'—người ấy cũng quan sát điều đó như sau: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.
16. Nhưng này các tỳ kheo, một đệ tử thánh có học, thấy các bậc thánh, thành thạo Điều dạy của các bậc thánh, được rèn luyện tốt trong Điều dạy của các bậc thánh, thấy các chân nhân, thành thạo Điều dạy của các chân nhân, được rèn luyện tốt trong Điều dạy của các chân nhân, vị ấy quan sát cơ thể như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; vị ấy quan sát cảm giác như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; vị ấy quan sát nhận thức như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; vị ấy quan sát hoạt động như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; bất cứ điều gì được nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận, nhận biết, đạt được, tìm kiếm, hoặc suy nghĩ trong tâm trí, vị ấy cũng quan sát điều đó như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; và đối với nền tảng của quan điểm sai lầm này—'thế giới đó là tự ngã đó, sau khi chết tôi sẽ trở thành như vậy, thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không chịu sự hoại diệt, tôi sẽ tồn tại mãi mãi như vậy'—vị ấy cũng quan sát điều đó như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.
17. Khi quan sát như vậy, nếu không có [những thứ đó], vị ấy không hoảng sợ."
18. Khi được nói như vậy, một tỳ kheo thưa với Đức Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, có thể nào có trường hợp những gì ở bên ngoài không còn mà làm phát sinh sự đau khổ không?"
"Có thể có, này tỳ kheo", Đức Thế Tôn nói. "Ở đây, này tỳ kheo, một người nghĩ như sau: 'Ôi, ta đã từng có điều đó, nhưng nay ta điều đó không còn nữa; ước gì ta có điều đó, nhưng ta không thể đạt được điều đó.' Người ấy sầu não, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la và rơi vào sự u mê. Như vậy này tỳ kheo, là có sự sự đau khổ vì một thứ bên ngoài mình không còn."
19. "Bạch Thế Tôn, có thể nào có trường hợp những gì ở bên ngoài không còn mà không làm phát sinh sự đau khổ không?"
"Có thể có, này tỳ kheo", Đức Thế Tôn nói. "Ở đây, này tỳ kheo, một người không nghĩ như sau: 'Ôi, ta đã từng có điều đó, nhưng nay ta điều đó không còn nữa; ước gì ta có điều đó, nhưng ta không thể đạt được điều đó.' Người ấy không sầu não, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la và không rơi vào sự u mê. Như vậy này tỳ kheo, là không có sự sự đau khổ vì một thứ bên ngoài mình không còn."
20. "Bạch Thế Tôn, có thể nào có sự đau khổ (chấn động / paritassanā) khi cái thuộc nội tại không còn nữa không?"
"Có thể, này các tỳ kheo," Thế Tôn nói. "Ở đây, này tỳ kheo, có người có quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi) như sau: 'Thế giới đó chính là tự ngã đó, sau khi chết tôi sẽ trở thành thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tôi sẽ tồn tại mãi mãi như vậy'. Người ấy nghe Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) hoặc đệ tử của Người Đến Như Vậy giảng dạy Quy luật (pháp / dhamma) nhằm nhổ bỏ mọi nền tảng của quan điểm sai, sự cố chấp, sự ám ảnh, sự bám víu và sự chảy ngầm (tùy miên / anusaya), nhằm làm lắng dịu (chỉ tức / samatha) mọi hoạt động (hành / saṅkhāra), nhằm từ bỏ mọi nền tảng bám víu (sanh y / upadhi), nhằm làm cạn kiệt (đoạn tận / khaya) mong muốn (tham ái / taṇhā), nhằm cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), nhằm hết sạch (diệt / nirodha), nhằm đạt đến Niết-bàn. Người ấy nghĩ thế này: 'Ta sẽ bị cắt đứt, ta sẽ bị tiêu diệt, ta sẽ không còn tồn tại nữa'. Người ấy sầu não, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào sự u mê (si / sammoha). Như vậy, này tỳ kheo, là có sự đau khổ khi cái thuộc nội tại không còn nữa."
21. "Bạch Thế Tôn, có thể nào không có sự đau khổ khi cái thuộc nội tại không còn nữa không?"
"Có thể, này các tỳ kheo," Thế Tôn nói. "Ở đây, này tỳ kheo, có người không có quan điểm sai như sau: 'Thế giới đó chính là tự ngã đó, sau khi chết tôi sẽ trở thành thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tôi sẽ tồn tại mãi mãi như vậy'. Người ấy nghe Người Đến Như Vậy hoặc đệ tử của Người Đến Như Vậy giảng dạy Quy luật nhằm nhổ bỏ mọi nền tảng của quan điểm sai, sự cố chấp, sự ám ảnh, sự bám víu và sự chảy ngầm, nhằm làm lắng dịu mọi hoạt động, nhằm từ bỏ mọi nền tảng bám víu, nhằm làm cạn kiệt mong muốn, nhằm cạn hết đắm nhiễm, nhằm hết sạch, nhằm đạt đến Niết-bàn. Người ấy không nghĩ thế này: 'Ta sẽ bị cắt đứt, ta sẽ bị tiêu diệt, ta sẽ không còn tồn tại nữa'. Người ấy không sầu não, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào sự u mê. Như vậy, này tỳ kheo, là không có sự đau khổ khi cái thuộc nội tại không còn nữa.
22. Này các tỳ kheo, các vị có thể nắm giữ một vật sở hữu nào mà vật sở hữu ấy là thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tồn tại mãi mãi như vậy không? Các vị có thấy một vật sở hữu nào mà vật sở hữu ấy là thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tồn tại mãi mãi như vậy không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Tốt lắm, này các tỳ kheo. Ta cũng không thấy một vật sở hữu nào mà vật sở hữu ấy là thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tồn tại mãi mãi như vậy.
23. Này các tỳ kheo, các vị có thể bám giữ (chấp thủ / upādāna) vào một học thuyết về tự ngã (ngã luận / attavāda) nào mà khi bám giữ vào học thuyết về tự ngã ấy, sầu não, than khóc, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng không sinh khởi không? Các vị có thấy một học thuyết về tự ngã nào mà khi bám giữ vào học thuyết về tự ngã ấy, sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng không sinh khởi không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Tốt lắm, này các tỳ kheo. Ta cũng không thấy một học thuyết về tự ngã nào mà khi bám giữ vào học thuyết về tự ngã ấy, sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng không sinh khởi.
24. Này các tỳ kheo, các vị có thể nương tựa vào một chỗ nương tựa của quan điểm sai nào mà khi nương tựa vào chỗ nương tựa của quan điểm sai ấy, sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng không sinh khởi không? Các vị có thấy một chỗ nương tựa của quan điểm sai nào mà khi nương tựa vào chỗ nương tựa của quan điểm sai ấy, sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng không sinh khởi không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Tốt lắm, này các tỳ kheo. Ta cũng không thấy một chỗ nương tựa của quan điểm sai nào mà khi nương tựa vào chỗ nương tựa của quan điểm sai ấy, sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng không sinh khởi.
25. Này các tỳ kheo, nếu có tự ngã, liệu có ý nghĩ 'cái này thuộc về tự ngã của tôi' không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, nếu có cái thuộc về tự ngã, liệu có ý nghĩ 'đây là tự ngã của tôi' không?"
"Thưa có, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, vì tự ngã và cái thuộc về tự ngã không thể được tìm thấy một cách chân thật và chắc chắn, nên cái lập trường của quan điểm sai này: 'Thế giới đó chính là tự ngã đó, sau khi chết tôi sẽ trở thành thường còn, vững chắc, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, tôi sẽ tồn tại mãi mãi như vậy' — này các tỳ kheo, đó chẳng phải hoàn toàn và trọn vẹn là đặc tính của kẻ u mê (ngu phu pháp / bāladhammo) sao?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không phải? Đó hoàn toàn và trọn vẹn là đặc tính của kẻ u mê."
26. "Này các tỳ kheo, các vị nghĩ thế nào, vật chất (sắc / rūpa) là thường còn hay không bền vững (vô thường / anicca)?"
"Không bền vững, bạch Thế Tôn."
"Cái gì không bền vững, cái đó là đau khổ hay hạnh phúc (lạc / sukha)?"
"Đau khổ, bạch Thế Tôn."
"Cái gì không bền vững, đau khổ, chịu sự biến đổi, liệu có hợp lý không khi quan sát nó là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, các vị nghĩ thế nào, cảm giác (thọ / vedanā) [...lặp lại...] nhận thức (tưởng / saññā) ... hoạt động (hành / saṅkhārā) ... 'cái biết' (thức / viññāṇa) là thường còn hay không bền vững?"
"Không bền vững, bạch Thế Tôn."
"Cái gì không bền vững, cái đó là đau khổ hay hạnh phúc?"
"Đau khổ, bạch Thế Tôn."
"Cái gì không bền vững, đau khổ, chịu sự biến đổi, liệu có hợp lý không khi quan sát nó là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?"
"Không, bạch Thế Tôn."
27. "Do đó, này các tỳ kheo, bất kỳ vật chất nào thuộc quá khứ, tương lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, tính máy móc (thô / oḷārika) hay vi tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, toàn bộ vật chất phải được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'. Bất kỳ cảm giác nào [...lặp lại...] bất kỳ nhận thức nào ... bất kỳ hoạt động nào ... bất kỳ 'cái biết' nào thuộc quá khứ, tương lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, tính máy móc hay vi tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, toàn bộ 'cái biết' phải được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.
28. Thấy vậy, này các tỳ kheo, vị đệ tử có học (hữu học / sutavā) của bậc thánh (thánh nhân / ariya) trở nên chán ngán (yếm ly / nibbindati) đối với vật chất, chán ngán đối với cảm giác, chán ngán đối với nhận thức, chán ngán đối với hoạt động, chán ngán đối với 'cái biết'. Do chán ngán, vị ấy phai nhạt đắm nhiễm (ly tham / virajjati); do phai nhạt đắm nhiễm, vị ấy được giải thoát (giải thoát / vimuccati). Khi được giải thoát, có 'cái biết' khởi lên rằng: 'Đã được giải thoát'.
29. Vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) rằng: 'Sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt (đoạn tận / khīṇā), đời sống thánh thiện đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa'.
30. Này các tỳ kheo, tỳ kheo này được gọi là người đã nhổ bỏ chốt cửa (khước quan / ukkhittapaligho), người đã lấp hào rãnh (khước hào / saṅkiṇṇaparikkho), người đã nhổ cột trụ (bạt trụ / abbūḷhesiko), người đã tháo tung ổ khóa (vô triền / niraggaḷo), bậc thánh đã hạ cờ, đặt gánh nặng xuống, không còn bị trói buộc.
31. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo người đã nhổ bỏ chốt cửa? Ở đây, này các tỳ kheo, đối với tỳ kheo, sự không hiểu biết (vô minh / avijjā) đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây cọ bị chặt đầu, không thể hình thành lại, chịu tính chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo người đã nhổ bỏ chốt cửa.
32. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo người đã lấp hào rãnh? Ở đây, này các tỳ kheo, đối với tỳ kheo, vòng luân hồi tái sinh mang lực tồn tại trở lại đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây cọ bị chặt đầu, không thể hình thành lại, chịu tính chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo người đã lấp hào rãnh.
33. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo người đã nhổ cột trụ? Ở đây, này các tỳ kheo, đối với tỳ kheo, mong muốn đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây cọ bị chặt đầu, không thể hình thành lại, chịu tính chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo người đã nhổ cột trụ.
34. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo người đã tháo tung ổ khóa? Ở đây, này các tỳ kheo, đối với tỳ kheo, năm xiềng xích trói buộc bề dưới đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây cọ bị chặt đầu, không thể hình thành lại, chịu tính chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo người đã tháo tung ổ khóa.
35. Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo bậc thánh đã hạ cờ, đặt gánh nặng xuống, không còn bị trói buộc? Ở đây, này các tỳ kheo, đối với tỳ kheo, sự ngạo mạn "tôi là" (ngã mạn / asmimāno) đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây cọ bị chặt đầu, không thể hình thành lại, chịu tính chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo bậc thánh đã hạ cờ, đặt gánh nặng xuống, không còn bị trói buộc.
36. Này các tỳ kheo, với tỳ kheo có tâm giải thoát như vậy, chư thiên cùng với Indra, Brahmā và Pajāpati dù có tìm kiếm cũng không thể tìm thấy: 'Đây là chỗ nương tựa của 'cái biết' của Người Đến Như Vậy'. Vì sao vậy? Này các tỳ kheo, Ta tuyên bố rằng ngay trong hiện tại, Người Đến Như Vậy là không thể bị truy tầm.
37. Khi Ta nói như vậy, tuyên bố như vậy, một số sa-môn và bà-la-môn đã xuyên tạc Ta một cách sai trái, trống rỗng, dối trá, không đúng sự thật rằng: 'Sa-môn Gotama là kẻ chủ trương hủy diệt, ông ta tuyên bố (thi thiết / paññāpeti) sự cắt đứt, sự hủy diệt, sự không tồn tại (phi hữu / vibhava) của một chúng sinh đang tồn tại'. Này các tỳ kheo, Ta không phải như vậy, Ta không nói như vậy, nhưng các tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy lại xuyên tạc Ta một cách sai trái, trống rỗng, dối trá, không đúng sự thật rằng: 'Sa-môn Gotama là kẻ chủ trương hủy diệt, ông ta tuyên bố sự cắt đứt, sự hủy diệt, sự không tồn tại của một chúng sinh đang tồn tại'. Này các tỳ kheo, trước đây cũng như hiện nay, Ta chỉ tuyên bố về đau khổ và sự hết sạch của đau khổ. Trong việc này, này các tỳ kheo, nếu người khác mắng chửi, nhục mạ, chọc tức, quấy rối Người Đến Như Vậy, thì ở đó, Người Đến Như Vậy không có sự oán giận, không có sự bất mãn, không có sự bực tức trong tâm.
38. Trong việc này, này các tỳ kheo, nếu người khác tôn kính, tôn trọng, kính trọng, cúng dường Người Đến Như Vậy, thì ở đó, Người Đến Như Vậy không có sự vui sướng, không có sự thanh thản (hỷ / somanassa), không có sự phấn khích trong tâm. Trong việc này, này các tỳ kheo, nếu người khác tôn kính, tôn trọng, kính trọng, cúng dường Người Đến Như Vậy, thì ở đó, Người Đến Như Vậy chỉ nghĩ thế này: 'Đối với những gì đã được hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññāta) từ trước, những sự đối xử như thế này đang được thực hiện đối với ta'.
39. Do đó, này các tỳ kheo, nếu người khác mắng chửi, nhục mạ, chọc tức, quấy rối các vị, thì ở đó các vị không được có sự oán giận, không được có sự bất mãn, không được có sự bực tức trong tâm. Do đó, này các tỳ kheo, nếu người khác tôn kính, tôn trọng, kính trọng, cúng dường các vị, thì ở đó các vị không được có sự vui sướng, không được có sự thanh thản, không được có sự phấn khích trong tâm. Do đó, này các tỳ kheo, nếu người khác tôn kính, tôn trọng, kính trọng, cúng dường các vị, thì ở đó các vị nên nghĩ thế này: 'Đối với những gì đã được hiểu biết trọn vẹn từ trước, những sự đối xử như thế này đang được thực hiện đối với ta'.
40. Do đó, này các tỳ kheo, cái gì không phải của các vị, hãy từ bỏ (đoạn trừ / pajahatha) nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài.
41. Và này các tỳ kheo, cái gì không phải của các vị? Vật chất, này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài.
Cảm giác, này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài. Nhận thức, này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài. Hoạt động, này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ chúng; sự từ bỏ chúng sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài. 'Cái biết', này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài.
Này các tỳ kheo, các vị nghĩ thế nào, nếu có người mang đi, đốt cháy, hoặc làm theo ý muốn đối với cỏ, củi, cành cây và lá rụng trong khu rừng Jeta này. Liệu các vị có nghĩ thế này: 'Người ta đang mang chúng ta đi, đang đốt cháy chúng ta, hoặc đang làm theo ý muốn đối với chúng ta' không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Vì sao vậy?"
"Bạch Thế Tôn, vì đó không phải là tự ngã hay cái thuộc về tự ngã của chúng con."
"Cũng vậy, này các tỳ kheo, cái gì không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài. Và này các tỳ kheo, cái gì không phải của các vị? Vật chất, này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài. Cảm giác, này các tỳ kheo... [...lặp lại...] nhận thức, này các tỳ kheo... hoạt động, này các tỳ kheo... [...lặp lại...] 'cái biết', này các tỳ kheo, không phải của các vị, hãy từ bỏ nó; sự từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các vị lâu dài.
42. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách [che giấu]. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những tỳ kheo nào là bậc A-la-hán, đã hết sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsavā), đã hoàn tất đời sống thánh thiện, đã làm xong những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối thượng, đã phá hủy hoàn toàn các xiềng xích của sự tồn tại (hữu / bhava), đã được giải thoát nhờ trí tuệ chân chính, thì không có vòng luân hồi nào có thể gọi tên (chế định / paññāpanāya) cho họ.
43. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những tỳ kheo nào đã từ bỏ năm xiềng xích trói buộc bề dưới, tất cả họ đều sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātikā), nhập Niết-bàn tại đó, chịu tính chất không bao giờ trở lại từ thế giới ấy.
44. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những tỳ kheo nào đã từ bỏ ba xiềng xích, làm suy yếu đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa) và sự u mê (si / moha), tất cả họ đều là người sẽ trở lại [cõi người] một lần nữa (Nhất lai / sakadāgāmino), chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.
45. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những tỳ kheo nào đã từ bỏ ba xiềng xích, tất cả họ đều là người đã vào dòng thánh (bậc dự lưu / sotāpannā), không còn chịu tính chất rơi vào cõi khổ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.
46. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những tỳ kheo nào là người đi theo Quy luật (tùy pháp / dhammānusārino), người đi theo niềm tin (tùy tín / saddhānusārino), tất cả họ đều hướng đến giác ngộ.
47. Này các tỳ kheo, Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách. Trong Quy luật đã được Ta khéo léo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, mở rộng, hiển lộ, không còn những mảnh vải rách, những ai chỉ có niềm tin nơi Ta, chỉ có tình thương mến đối với Ta, tất cả họ đều hướng đến cõi trời."
Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Kết thúc Kinh Ví Dụ Con Rắn, bài kinh thứ hai.