KINH SỢ HÃI VÀ KHIẾP ĐẢM
(Bhayabheravasutta)
Tôi đã nghe như vầy, một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, tại tu viện của Anāthapiṇḍika.
Khi ấy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi thân hữu với Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi thưa với Thế Tôn điều này:
"Thưa Gotama, những thanh niên gia đình tử tế vì niềm tin nơi Gotama mà từ bỏ gia đình sống không gia đình, Gotama là người dẫn đầu của họ, Gotama là người mang lại nhiều lợi ích cho họ, Gotama là người khích lệ họ; và nhóm người ấy noi theo quan điểm của Gotama."
"Đúng vậy, này Bà-la-môn, đúng vậy, này Bà-la-môn. Những thanh niên gia đình tử tế vì niềm tin nơi Ta mà từ bỏ gia đình sống không gia đình, Ta là người dẫn đầu của họ, Ta là người mang lại nhiều lợi ích cho họ, Ta là người khích lệ họ; và nhóm người ấy noi theo quan điểm của Ta."
"Thưa Gotama, thật khó mà chịu đựng được những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, thật khó để sống tách biệt, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự cô độc. Tôi nghĩ rằng, rừng núi cướp đi tâm trí của vị tỳ kheo chưa đạt được Định (samādhi)."
"Đúng vậy, này Bà-la-môn, đúng vậy, này Bà-la-môn. Thật khó mà chịu đựng được những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, thật khó để sống tách biệt, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự cô độc. Ta nghĩ rằng, rừng núi cướp đi tâm trí của vị tỳ kheo chưa đạt được Định.
Này Bà-la-môn, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là một người đang hướng đến giác ngộ (Bồ-tát / bodhisatta) chưa hoàn toàn giác ngộ, Ta cũng đã suy nghĩ như sau: 'Thật khó mà chịu đựng được những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, thật khó để sống tách biệt, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự cô độc. Ta nghĩ rằng, rừng núi cướp đi tâm trí của vị tỳ kheo chưa đạt được Định.'
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào có hành động không trong sạch (aparisuddhakāyakammantā) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm của hành động không trong sạch ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện (akusala) là sợ hãi và khiếp đảm (bhayabherava). Nhưng Ta không có hành động không trong sạch khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người có hành động trong sạch (parisuddhakāyakammanto). Trong số các bậc thánh có hành động trong sạch lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự hành động trong sạch này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào có lời nói không trong sạch [...lặp lại...] tâm không trong sạch [...lặp lại...] nghề nghiệp không trong sạch (aparisuddhājīvā) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm của nghề nghiệp không trong sạch ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có nghề nghiệp không trong sạch khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người có nghề nghiệp trong sạch (parisuddhājīvo). Trong số các bậc thánh có nghề nghiệp trong sạch lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự nghề nghiệp trong sạch này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào có lòng tham (abhijjhā) và đắm nhiễm (rāga) mãnh liệt trong bản năng (kāma) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm của lòng tham và đắm nhiễm mãnh liệt trong bản năng ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có lòng tham và đắm nhiễm mãnh liệt trong bản năng khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người không có lòng tham. Trong số các bậc thánh không có lòng tham lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự không có lòng tham này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào có tâm ác ý hãm hại (byāpāda) và suy nghĩ độc ác mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm của tâm ác ý hãm hại và suy nghĩ độc ác ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có tâm ác ý hãm hại và suy nghĩ độc ác khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người có tâm yêu thương. Trong số các bậc thánh có tâm yêu thương lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy tâm yêu thương này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ (thīna-middha) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã rũ bỏ uể oải, buồn ngủ. Trong số các bậc thánh đã rũ bỏ uể oải, buồn ngủ lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự rũ bỏ uể oải, buồn ngủ này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào bồn chồn (uddhacca) và tâm không lắng dịu (vūpasama) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm bồn chồn và tâm không lắng dịu ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không bồn chồn và tâm không lắng dịu khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người có tâm lắng dịu. Trong số các bậc thánh có tâm lắng dịu lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy tâm lắng dịu này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào hoang mang, nghi ngờ (vicikicchā) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm hoang mang, nghi ngờ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không hoang mang, nghi ngờ khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã vượt qua nghi ngờ. Trong số các bậc thánh đã vượt qua nghi ngờ lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự vượt qua nghi ngờ này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào tự khen mình, chê bai người khác mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm tự khen mình, chê bai người khác ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không tự khen mình, chê bai người khác khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người không tự khen mình, không chê bai người khác. Trong số các bậc thánh không tự khen mình, không chê bai người khác lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự không tự khen mình, không chê bai người khác này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào kinh hãi, bản tính run sợ mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm kinh hãi, bản tính run sợ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không kinh hãi, bản tính run sợ khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã dứt sạch sự sợ hãi dựng tóc gáy. Trong số các bậc thánh đã dứt sạch sự sợ hãi dựng tóc gáy lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự dứt sạch sợ hãi dựng tóc gáy này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào khao khát lợi lộc, tôn kính và danh tiếng mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm khao khát lợi lộc, tôn kính và danh tiếng ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không khao khát lợi lộc, tôn kính và danh tiếng khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người ít mong cầu. Trong số các bậc thánh ít mong cầu lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự ít mong cầu này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào lười biếng, thiếu nỗ lực thiện (vīriya) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm lười biếng, thiếu nỗ lực thiện ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không lười biếng, thiếu nỗ lực thiện khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã khơi dậy nỗ lực thiện. Trong số các bậc thánh đã khơi dậy nỗ lực thiện lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự khơi dậy nỗ lực thiện này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào quên mất sự chú tâm (sati) và không nhận biết rõ ràng (sampajāno) mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm quên mất sự chú tâm và không nhận biết rõ ràng ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không quên mất sự chú tâm và không nhận biết rõ ràng khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã thiết lập sự chú tâm. Trong số các bậc thánh đã thiết lập sự chú tâm lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự thiết lập chú tâm này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào không có Định và tâm tán loạn mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm không có Định và tâm tán loạn ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không phải là người không có Định và tâm tán loạn khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã thành tựu Định. Trong số các bậc thánh đã thành tựu Định lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự thành tựu Định này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Bất kỳ những sa-môn hay bà-la-môn nào thiếu trí tuệ, đần độn mà lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, chính vì lỗi lầm thiếu trí tuệ, đần độn ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn đang tự rước lấy những điều không thiện là sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không thiếu trí tuệ, đần độn khi lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh; Ta là người đã thành tựu trí tuệ. Trong số các bậc thánh đã thành tựu trí tuệ lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh, Ta là một trong số đó.' Này Bà-la-môn, khi tự mình nhận thấy sự thành tựu trí tuệ này trong chính mình, Ta càng thêm vững tâm để sống trong rừng.
(Kết thúc mười sáu phần)
Này Bà-la-môn, Ta đã suy nghĩ như sau: 'Vào những đêm được biết đến và được đánh dấu [ngày lễ, ngày rằm], ngày mười bốn, ngày rằm, và mùng tám của nửa tháng, vào những đêm như vậy, ta hãy đến trú tại những đền tháp hoang vắng, đền tháp trong rừng, đền tháp dưới gốc cây, những nơi đáng sợ và làm dựng tóc gáy; biết đâu ta có thể nhìn thấy sự sợ hãi và khiếp đảm đó.' Này Bà-la-môn, vào một thời gian sau, vào những đêm được biết đến và được đánh dấu, ngày mười bốn, ngày rằm, và mùng tám của nửa tháng, vào những đêm như vậy, Ta đến trú tại những đền tháp hoang vắng, đền tháp trong rừng, đền tháp dưới gốc cây, những nơi đáng sợ và làm dựng tóc gáy. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang trú tại đó, một con nai đi tới, hoặc một con công làm rơi cành cây khô, hoặc gió thổi xào xạc đám lá rụng; lúc ấy Ta suy nghĩ: 'Chắc chắn sự sợ hãi và khiếp đảm đó đang đến.' Này Bà-la-môn, Ta suy nghĩ: 'Tại sao ta chịu sống ở cảnh chờ đợi nỗi sợ hãi và sống trong nỗi sợ hãi ? Tại sao ta không loại trừ sự sợ hãi và khiếp đảm đó ngay khi nó xuất hiện, ở ngay tư thế mà ta đang ở?' Vậy Bà-la-môn, khi Ta đang đi kinh hành mà sự sợ hãi và khiếp đảm đó ập đến. Thì Bà-la-môn, lúc đó Ta sẽ không đứng lại, không ngồi xuống, không nằm xuống, mà Ta tiếp tục đi kinh hành cho đến khi loại trừ được sự sợ hãi và khiếp đảm đó. Này Bà-la-môn, khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi và khiếp đảm đó ập đến. Này Bà-la-môn, lúc đó Ta sẽ không đi kinh hành, không ngồi xuống, không nằm xuống, mà Ta tiếp tục đứng cho đến khi loại trừ được sự sợ hãi và khiếp đảm đó. Này Bà-la-môn, khi Ta đang ngồi mà sự sợ hãi và khiếp đảm đó ập đến. Này Bà-la-môn, lúc đó Ta sẽ không nằm xuống, không đứng lên, không đi kinh hành, mà Ta tiếp tục ngồi cho đến khi loại trừ được sự sợ hãi và khiếp đảm đó. Này Bà-la-môn, khi Ta đang nằm mà sự sợ hãi và khiếp đảm đó ập đến. Này Bà-la-môn, lúc đó Ta sẽ không ngồi dậy, không đứng lên, không đi kinh hành, mà Ta tiếp tục nằm cho đến khi loại trừ được sự sợ hãi và khiếp đảm đó.
Này Bà-la-môn, có một số sa-môn, bà-la-môn nhận thức ban đêm giống như ban ngày, nhận thức ban ngày giống như ban đêm. Ta nói rằng những sa-môn, bà-la-môn này đang sống trong sự u mê. Còn Ta, này Bà-la-môn, nhận thức ban đêm chính là ban đêm, nhận thức ban ngày chính là ban ngày. Này Bà-la-môn, nếu có ai nói một cách đúng đắn rằng: 'Một chúng sinh không u mê đã xuất hiện trên đời vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người', thì người ấy phải nói về chính Ta rằng: 'Một chúng sinh không u mê đã xuất hiện trên đời vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.'
Này Bà-la-môn, trong ta sự nỗ lực (tinh tấn/vīriyaṁ) được khơi dậy không lùi, sự chú tâm được thiết lập không xao lãng, cơ thể lắng dịu không căng thẳng, tâm Định và hợp thành một (chuyên nhất/ekaggaṁ).
Này Bà-la-môn, rời bỏ được khỏi ham muốn bản năng, rời bỏ được khỏi những điều không thiện (ly dục ly ác pháp/vivicceva kāmehi vivicca akusalehi), có sự chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (pīti) và hạnh phúc (sukha) được sinh ra từ sự rời bỏ [được khỏi bản năng và những điều không thiện], Ta đạt đến và an trú Thiền-na (jhāna) thứ nhất.
Với sự lắng xuống(vūpasama) của sự chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, tâm trở nên trong sáng (nội tĩnh/ajjhattaṁ sampasādanaṁ), và tâm chuyển thành một (nhất tâm/etaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, Ta đạt đến và an trú Thiền-na thứ hai.
Với sự phai nhạt (virāga) của hân hoan (hỷ), Ta an trú trong tâm bình quân (xả/upekkhā), sự chú tâm (sato) và nhận biết rõ ràng, trải nghiệm cảm giác dễ chịu nơi cơ thể; điều mà các bậc thánh gọi là: 'Người ở trong bình an với tâm bình quân và chú tâm (xả niệm lạc trú)', Ta đạt đến và an trú Thiền-na thứ ba.
Từ bỏ (pahāna) của cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu [của thân] cùng với sự tan biến(atthaṅgama) của thanh thản ưu phiền(hỷ ưu/somanassadomanassānaṁ) từ trước [của tâm], Ta đạt đến và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, sự thanh tịnh của nhớ lại (niệm) và tâm bình quân (xả niệm thanh tịnh/upekkhāsatipārisuddhiṁ)
Khi tâm đã có Định như vậy, trong sáng, thuần khiết, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động, Ta hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các đời sống quá khứ. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: 'Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ (dukkha) như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ nơi đó, ta tái sinh ở nơi này; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ nơi nọ, ta tái sinh ở đây.' Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Này Bà-la-môn, đây là hiểu biết thứ nhất mà Ta đạt được trong canh đầu của đêm; sự không hiểu biết bị phá vỡ, sự hiểu biết sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu đối với một người sống không sao nhãng (appamatta), nhiệt tâm và quyết tâm.
Khi tâm đã có Định như vậy, trong sáng, thuần khiết, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, Ta nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và tái sinh, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, sinh vào cõi lành và cõi dữ, Ta nhận biết rõ ràng các chúng sinh đi theo nghiệp của mình: 'Thật vậy, những chúng sinh này có hành động xấu xa qua cơ thể, lời nói và tâm trí, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai lầm và hành động theo quan điểm sai lầm; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ, cõi khốn khổ, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này có hành động tốt đẹp qua cơ thể, lời nói và tâm trí, không phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm đúng đắn và hành động theo quan điểm đúng đắn; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi lành, thế giới thiên giới.' Như vậy, với mắt thần thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, Ta nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và tái sinh, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, sinh vào cõi lành và cõi dữ, Ta nhận biết rõ ràng các chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Này Bà-la-môn, đây là hiểu biết thứ hai mà Ta đạt được trong canh giữa của đêm; không hiểu biết bị phá vỡ, sự hiểu biết sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu đối với một người sống không sao nhãng, nhiệt tâm và quyết tâm.
Khi tâm đã có Định như vậy, trong sáng, thuần khiết, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự cạn kiệt các nguồn ác (āsava). Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là đau khổ'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là sự hình thành (samudaya) của đau khổ'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là sự chấm dứt (nirodha) của đau khổ'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là con đường đưa đến (paṭipadā) sự chấm dứt đau khổ'. Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là các nguồn ác'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là sự hình thành của các nguồn ác'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là sự chấm dứt của các nguồn ác'; Ta hiểu trực tiếp đúng như thật: 'Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác'.
Khi Ta biết như vậy, thấy như vậy, tâm Ta thoát khỏi nguồn ác của bản năng (kāmāsava), tâm Ta thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), tâm Ta thoát khỏi nguồn ác của không hiểu biết (avijjāsava). Khi đã được giải thoát, trí tuệ khởi lên rằng: 'Đã được giải thoát.'
Ta hiểu trực tiếp rằng: 'Sự tái sinh (jāti) đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa.'
Này Bà-la-môn, đây là hiểu biết thứ ba mà Ta đạt được trong canh cuối của đêm; không hiểu biết bị phá vỡ, sự hiểu biết sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu đối với một người sống không sao nhãng, nhiệt tâm và quyết tâm.
Này Bà-la-môn, có thể ông sẽ nghĩ như thế này: 'Cho đến tận hôm nay, sa-môn Gotama vẫn chưa cạn hết đắm nhiễm, chưa cạn hết ác ý hãm hại, chưa cạn hết u mê, vì thế ông ấy mới lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh.' Này Bà-la-môn, không nên nhìn nhận điều đó như vậy. Này Bà-la-môn, Ta lui tới những nơi hoang vu, rừng sâu hẻo lánh vì nhìn thấy hai lý do: nhìn thấy sự an trú hạnh phúc cho chính mình ngay trong hiện tại, và vì lòng thương tưởng đối với các thế hệ mai sau."
"Thật là một lòng thương tưởng lớn lao mà Gotama dành cho các thế hệ mai sau, đúng như một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác. Thật tuyệt vời, thưa Gotama! Thật tuyệt vời, thưa Gotama! Thưa Gotama, giống như người dựng đứng lại những gì đã bị lật úp, phơi bày ra những gì đã bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc lối, hoặc cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy các hình ảnh; cũng vậy, Gotama đã dùng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ Quy luật. Ta xin nương tựa vào Gotama, nương tựa vào Quy luật và nương tựa vào Tăng chúng. Xin Gotama nhận Ta làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."
(Kết thúc Kinh Sợ hãi và Khiếp đảm, bài thứ tư)