Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 137. KINH PHÂN TÍCH CHI TIẾT VỀ SÁU TRƯỜNG GIAO TIẾP

(Saḷāyatanavibhaṅgasutta)

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn ngự tại Sāvatthi (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

2. “Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các vị sự phân tích chi tiết về sáu Trường giao tiếp (lục nhập phân biệt / saḷāyatanavibhaṅgaṁ). Hãy lắng nghe điều đó, suy nghĩ (tác ý / manasi karotha) cẩn thận, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

3. "‘Sáu Trường giao tiếp (xứ / āyatanāni) bên trong cần được biết, sáu Trường giao tiếp bên ngoài cần được biết, sáu nhóm Nhận Biết (thức thân / viññāṇakāyā) cần được biết, sáu nhóm Xúc (xúc thân / phassakāyā) cần được biết, mười tám sự khám phá của trí não (ý cận hành / manopavicārā) cần được biết, ba mươi sáu trạng thái tâm lý (hữu tình cú / sattapadā) cần được biết; ở đây, dựa vào (duyên / nissāya) điều này hãy từ bỏ (đoạn trừ / pajahatha) điều kia; ba nơi thiết lập sự chú tâm (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā) mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng; vị ấy được gọi là bậc thầy huấn luyện (đạo sư / yoggācariyānaṁ), người đánh xe điều khiển những người cần được rèn luyện (vô thượng sĩ điều ngự trượng phu / purisadammasārathī) vô thượng’—đây là phần tóm tắt của sự phân tích chi tiết về sáu Trường giao tiếp.

4. ‘Sáu Trường giao tiếp bên trong cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? ‘Giác quan mắt (nhãn căn / cakkhāyatanaṁ), giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân, giác quan trí não (ý căn / manāyatanaṁ)—sáu Trường giao tiếp bên trong cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

5. ‘Sáu Trường giao tiếp bên ngoài cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? ‘Hình ảnh (sắc / rūpāyatanaṁ), âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, mọi Điều (pháp / dhammāyatanaṁ)—sáu Trường giao tiếp bên ngoài cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

6. ‘Sáu nhóm Nhận Biết cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? ‘Nhận biết ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇaṁ), nhận biết ở tai, nhận biết ở mũi, nhận biết ở lưỡi, nhận biết ở thân, sự nhận biết ở trí não (ý thức / manoviññāṇaṁ)—sáu nhóm Nhận Biết cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

7. ‘Sáu nhóm Xúc cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? ‘Xúc ở mắt, Xúc ở tai, Xúc ở mũi, Xúc ở lưỡi, Xúc ở thân, Xúc ở trí não—sáu nhóm Xúc cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

8. ‘Mười tám sự khám phá của trí não cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? 'Sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, vị ấy khám phá hình ảnh mang lại sự thư thái (hỷ / somanassa), khám phá hình ảnh mang lại sự ưu phiền (ưu / domanassa), khám phá hình ảnh mang lại sự bình thản (xả / upekkhā). Sau khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] sau khi ngửi mùi bằng mũi […lặp lại…] sau khi nếm vị bằng lưỡi […lặp lại…]

sau khi chạm vào xúc chạm bằng thân […lặp lại…] sau khi nhận biết (thức tri / viññāya) mọi Điều bằng trí não (ý / manasā), vị ấy khám phá mọi Điều mang lại sự thư thái, khám phá mọi Điều mang lại sự ưu phiền, khám phá mọi Điều mang lại sự bình thản. Như vậy có sáu sự khám phá mang lại thư thái, sáu sự khám phá mang lại ưu phiền, sáu sự khám phá mang lại bình thản; mười tám sự khám phá của trí não cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

9. ‘Ba mươi sáu trạng thái tâm lý cần được biết’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? Sáu sự thư thái thuộc về đời sống gia đình (y gia / gehasitāni), sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ (y xuất ly / nekkhammasitāni), sáu sự ưu phiền thuộc về đời sống gia đình, sáu sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ, sáu sự bình thản thuộc về đời sống gia đình, sáu sự bình thản thuộc về sự rời bỏ.

10. Ở đây, sáu sự thư thái thuộc về đời sống gia đình là gì? Đối với các hình ảnh được nhận biết bởi mắt, đáng khao khát (khả lạc / iṭṭhānaṁ), đáng yêu thích (khả hỷ / kantānaṁ), vừa ý (khả ý / manāpānaṁ), làm vui trí não (khả ái / manoramānaṁ), liên quan đến vật chất thế gian (thế gian tài vật / lokāmisapaṭisaṁyuttānaṁ), khi quan sát sự đạt được hoặc đã đạt được, hoặc nhớ lại những gì đã đạt được trong quá khứ nay đã qua đi, đã chấm dứt (diệt / niruddhaṁ), đã thay đổi (biến hoại / vipariṇataṁ), sự thư thái sinh ra. Sự thư thái có hình thức như vậy, đây gọi là sự thư thái thuộc về đời sống gia đình. Đối với các âm thanh được nhận biết bởi tai… đối với các mùi được nhận biết bởi mũi… đối với các vị được nhận biết bởi lưỡi… đối với các xúc chạm được nhận biết bởi thân… đối với mọi Điều được nhận biết bởi trí não, đáng khao khát, đáng yêu thích, vừa ý […lặp lại…] sự thư thái sinh ra. Sự thư thái có hình thức như vậy, đây gọi là sự thư thái thuộc về đời sống gia đình. Đây là sáu sự thư thái thuộc về đời sống gia đình.

11. Ở đây, sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ là gì? Sau khi biết rõ sự không bền vững của các hình ảnh, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāga), sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả các hình ảnh đó đều không bền vững, là đau khổ (khổ / dukkhā), chịu sự thay đổi (biến hoại pháp / vipariṇāmadhammā)’, sự thư thái sinh ra. Sự thư thái có hình thức như vậy, đây gọi là sự thư thái thuộc về sự rời bỏ. Đối với các âm thanh… đối với các mùi… đối với các vị… đối với các xúc chạm… đối với mọi Điều, sau khi biết rõ sự không bền vững, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả mọi Điều đó đều không bền vững, là đau khổ, chịu sự thay đổi’, sự thư thái sinh ra. Sự thư thái có hình thức như vậy, đây gọi là sự thư thái thuộc về sự rời bỏ. Đây là sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ.

12. Ở đây, sáu sự ưu phiền thuộc về đời sống gia đình là gì? Đối với các hình ảnh được nhận biết bởi mắt […lặp lại…] đối với các âm thanh được nhận biết bởi tai… đối với các mùi được nhận biết bởi mũi… đối với các vị được nhận biết bởi lưỡi… đối với các xúc chạm được nhận biết bởi thân… đối với mọi Điều được nhận biết bởi trí não, đáng khao khát, đáng yêu thích, vừa ý, làm vui trí não, liên quan đến vật chất thế gian, khi quan sát sự không đạt được hoặc chưa đạt được, hoặc nhớ lại những gì không đạt được trong quá khứ nay đã qua đi, đã chấm dứt, đã thay đổi, sự ưu phiền sinh ra. Sự ưu phiền có hình thức như vậy, đây gọi là sự ưu phiền thuộc về đời sống gia đình. Đây là sáu sự ưu phiền thuộc về đời sống gia đình.

13. Ở đây, sáu sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ là gì? Sau khi biết rõ sự không bền vững của các hình ảnh, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả các hình ảnh đó đều không bền vững, là đau khổ, chịu sự thay đổi’, vị ấy khởi lên sự khao khát đối với các sự giải thoát vô thượng: ‘Khi nào ta mới có thể đạt đến và an trú trong Trường giao tiếp mà các bậc thánh hiện đang đạt đến và an trú?’ Do khởi lên sự khao khát đối với các sự giải thoát vô thượng như vậy, sự ưu phiền sinh ra với khao khát làm Điều kiện (duyên / paccayā). Sự ưu phiền có hình thức như vậy, đây gọi là sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ. Đối với các âm thanh […lặp lại…] đối với các mùi… đối với các vị… đối với các xúc chạm… đối với mọi Điều, sau khi biết rõ sự không bền vững, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả mọi Điều đó đều không bền vững, là đau khổ, chịu sự thay đổi’, vị ấy khởi lên sự khao khát đối với các sự giải thoát vô thượng: ‘Khi nào ta mới có thể đạt đến và an trú trong Trường giao tiếp mà các bậc thánh hiện đang đạt đến và an trú?’ Do khởi lên sự khao khát đối với các sự giải thoát vô thượng như vậy, sự ưu phiền sinh ra với khao khát làm Điều kiện. Sự ưu phiền có hình thức như vậy, đây gọi là sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ. Đây là sáu sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ.

14. Ở đây, sáu sự bình thản thuộc về đời sống gia đình là gì? Sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, sự bình thản sinh ra ở người ngu si, u mê, người thường (phàm phu / puthujjanassa), người chưa chiến thắng giới hạn, người chưa chiến thắng kết quả, người không thấy rõ sự nguy hiểm, người không học (vô văn / assutavato), người thường. Sự bình thản có hình thức như vậy, nó không vượt qua được hình ảnh. Do đó, sự bình thản ấy được gọi là ‘thuộc về đời sống gia đình’. Sau khi nghe âm thanh bằng tai… sau khi ngửi mùi bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi chạm vào xúc chạm bằng thân… sau khi nhận biết mọi Điều bằng trí não, sự bình thản sinh ra ở người ngu si, u mê, người thường, người chưa chiến thắng giới hạn, người chưa chiến thắng kết quả, người không thấy rõ sự nguy hiểm, người không học, người thường. Sự bình thản có hình thức như vậy, nó không vượt qua được mọi Điều. Do đó, sự bình thản ấy được gọi là ‘thuộc về đời sống gia đình’. Đây là sáu sự bình thản thuộc về đời sống gia đình.

15. Ở đây, sáu sự bình thản thuộc về sự rời bỏ là gì? Sau khi biết rõ sự không bền vững của các hình ảnh, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả các hình ảnh đó đều không bền vững, là đau khổ, chịu sự thay đổi’, sự bình thản sinh ra. Sự bình thản có hình thức như vậy, nó vượt qua được hình ảnh. Do đó, sự bình thản ấy được gọi là ‘thuộc về sự rời bỏ’. Đối với các âm thanh… đối với các mùi… đối với các vị… đối với các xúc chạm… đối với mọi Điều, sau khi biết rõ sự không bền vững, sự thay đổi, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, vị ấy thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn như thật rằng: ‘Trước kia cũng như hiện nay, tất cả mọi Điều đó đều không bền vững, là đau khổ, chịu sự thay đổi’, sự bình thản sinh ra. Sự bình thản có hình thức như vậy, nó vượt qua được mọi Điều. Do đó, sự bình thản ấy được gọi là ‘thuộc về sự rời bỏ’. Đây là sáu sự bình thản thuộc về sự rời bỏ. ‘Ba mươi sáu trạng thái tâm lý cần được biết’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

16. ‘Ở đây, dựa vào điều này hãy từ bỏ điều kia’—điều này đã được nói như vậy; Dựa vào đâu mà điều này được nói?

Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ, nương tựa vào chúng, các vị hãy từ bỏ sáu sự thư thái thuộc về đời sống gia đình, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.

Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sáu sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ, nương tựa vào chúng, các vị hãy từ bỏ sáu sự ưu phiền thuộc về đời sống gia đình, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.

Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sáu sự bình thản thuộc về sự rời bỏ, nương tựa vào chúng, các vị hãy từ bỏ sáu sự bình thản thuộc về đời sống gia đình, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.

Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ, nương tựa vào chúng, các vị hãy từ bỏ sáu sự ưu phiền thuộc về sự rời bỏ, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.

Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sáu sự bình thản thuộc về sự rời bỏ, nương tựa vào chúng, các vị hãy từ bỏ sáu sự thư thái thuộc về sự rời bỏ, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.

17. Này các tỳ kheo, có sự bình thản đa dạng và dựa trên sự đa dạng (đa chủng y đa chủng / nānattā nānattasitā), có sự bình thản đồng nhất và dựa trên sự đồng nhất (nhất chủng y nhất chủng / ekattā ekattasitā).

18. Này các tỳ kheo, thế nào là sự bình thản đa dạng và dựa trên sự đa dạng? Này các tỳ kheo, có sự bình thản đối với các hình ảnh, có đối với các âm thanh, có đối với các mùi, có đối với các vị, có đối với các xúc chạm—này các tỳ kheo, đây là sự bình thản đa dạng và dựa trên sự đa dạng.

19. Này các tỳ kheo, thế nào là sự bình thản đồng nhất và dựa trên sự đồng nhất? Này các tỳ kheo, có sự bình thản dựa trên tầng Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatananissitā), có sự bình thản dựa trên tầng Nhận Biết Là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatananissitā), có sự bình thản dựa trên tầng Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatananissitā), có sự bình thản dựa trên tầng Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatananissitā)—này các tỳ kheo, đây là sự bình thản đồng nhất và dựa trên sự đồng nhất.

20. Ở đây, này các tỳ kheo, dựa vào sự bình thản đồng nhất và dựa trên sự đồng nhất này, nương tựa vào nó, các vị hãy từ bỏ sự bình thản đa dạng và dựa trên sự đa dạng này, hãy vượt qua nó. Như vậy là sự từ bỏ nó, như vậy là sự vượt qua nó.

Này các tỳ kheo, dựa vào sự không đồng hóa (phi ngã sở tạo / atammayataṁ), nương tựa vào sự không đồng hóa, các vị hãy từ bỏ sự bình thản đồng nhất và dựa trên sự đồng nhất này, hãy vượt qua nó. Như vậy là sự từ bỏ nó, như vậy là sự vượt qua nó. ‘Ở đây, dựa vào điều này hãy từ bỏ điều kia’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

21. ‘Ba nơi thiết lập sự chú tâm mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng’—điều này đã được nói như vậy; dựa vào đâu mà điều này được nói?

22. Ở đây, này các tỳ kheo, bậc đạo sư giảng Giáo pháp (pháp / dhamma) cho các đệ tử vì lòng thương xót, mong muốn lợi ích, khởi lên lòng thương xót: ‘Điều này là vì lợi ích của các vị, điều này là vì hạnh phúc của các vị’. Các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lóng tai, không hướng tâm đến sự hiểu biết, và đi chệch khỏi lời dạy của bậc đạo sư. Ở đây, này các tỳ kheo, Như Lai (Tathāgata) không hề không hài lòng, không cảm nhận sự không hài lòng, và sống không bị rỉ lậu (không nhiễm ô / anavassuto), tập trung chú ý (niệm / sato), nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno). Này các tỳ kheo, đây là nơi thiết lập sự chú tâm thứ nhất mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng.

23. Lại nữa, này các tỳ kheo, bậc đạo sư giảng Giáo pháp cho các đệ tử vì lòng thương xót, mong muốn lợi ích, khởi lên lòng thương xót: ‘Điều này là vì lợi ích của các vị, điều này là vì hạnh phúc của các vị’. Một số đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lóng tai, không hướng tâm đến sự hiểu biết, và đi chệch khỏi lời dạy của bậc đạo sư; một số đệ tử muốn nghe, lóng tai, hướng tâm đến sự hiểu biết, và không đi chệch khỏi lời dạy của bậc đạo sư. Ở đây, này các tỳ kheo, Như Lai không hề không hài lòng, không cảm nhận sự không hài lòng; cũng không hài lòng, không cảm nhận sự hài lòng. Tránh xa cả hai điều đó—sự không hài lòng và sự hài lòng—vị ấy sống bình thản, tập trung chú ý, nhận biết rõ ràng. Này các tỳ kheo, đây được gọi là nơi thiết lập sự chú tâm thứ hai mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng.

24. Lại nữa, này các tỳ kheo, bậc đạo sư giảng Giáo pháp cho các đệ tử vì lòng thương xót, mong muốn lợi ích, khởi lên lòng thương xót: ‘Điều này là vì lợi ích của các vị, điều này là vì hạnh phúc của các vị’. Các đệ tử của vị ấy muốn nghe, lóng tai, hướng tâm đến sự hiểu biết, và không đi chệch khỏi lời dạy của bậc đạo sư. Ở đây, này các tỳ kheo, Như Lai hài lòng, cảm nhận sự hài lòng, và sống không bị rỉ lậu, tập trung chú ý, nhận biết rõ ràng. Này các tỳ kheo, đây được gọi là nơi thiết lập sự chú tâm thứ ba mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng. ‘Ba nơi thiết lập sự chú tâm mà bậc thánh thực hành, bậc thánh thực hành điều đó xứng đáng là bậc đạo sư giảng dạy cho hội chúng’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói.

25. ‘Vị ấy được gọi là bậc thầy huấn luyện, người đánh xe điều khiển những người cần được rèn luyện vô thượng’—điều này đã được nói như vậy. Dựa vào đâu mà điều này được nói? Này các tỳ kheo, con voi cần được rèn luyện khi bị người luyện voi điều khiển, nó chỉ chạy theo một hướng—hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam.

26. Này các tỳ kheo, con ngựa cần được rèn luyện khi bị người luyện ngựa điều khiển, nó chỉ chạy theo một hướng—hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam. Này các tỳ kheo, con bò cần được rèn luyện khi bị người luyện bò điều khiển, nó chỉ chạy theo một hướng—hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam. Nhưng này các tỳ kheo, người cần được rèn luyện khi bị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác điều khiển, người ấy chạy theo tám hướng.

27. Có vật chất (sắc / rūpī), vị ấy thấy các hình ảnh—đây là hướng thứ nhất; bên trong không có Nhận Thức (tưởng / saññī) về vật chất, vị ấy thấy các hình ảnh bên ngoài—đây là hướng thứ hai; vị ấy chú tâm vào cái đẹp—đây là hướng thứ ba; vượt qua hoàn toàn các Nhận Thức về vật chất, làm tan biến (diệt / atthaṅgamā) các Nhận Thức về sự chống đối (sân / paṭigha), không suy nghĩ (tác ý / amanasikārā) đến các Nhận Thức đa dạng, [nhận thức rằng] ‘Không gian là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong tầng Không Gian là Vô Tận—đây là hướng thứ tư; vượt qua hoàn toàn tầng Không Gian là Vô Tận, [nhận thức rằng] ‘Nhận biết là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong tầng Nhận Biết Là Vô Tận—đây là hướng thứ năm; vượt qua hoàn toàn tầng Nhận Biết Là Vô Tận, [nhận thức rằng] ‘Không có vật gì’, vị ấy đạt đến và an trú trong tầng Không Có Vật Gì—đây là hướng thứ sáu; vượt qua hoàn toàn tầng Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong tầng Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”—đây là hướng thứ bảy; vượt qua hoàn toàn tầng Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, vị ấy đạt đến và an trú trong định làm ngưng thọ tưởng (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhaṁ)—đây là hướng thứ tám. Này các tỳ kheo, người cần được rèn luyện khi bị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác điều khiển, người ấy chạy theo tám hướng này.

28. Vị ấy được gọi là: ‘bậc thầy huấn luyện, người đánh xe điều khiển những người cần được rèn luyện vô thượng’—điều gì đã được nói như vậy, chính là dựa vào điều này mà được nói."

Thế Tôn đã nói điều này. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn nói.

Kinh Phân Tích Chi Tiết Về Sáu Trường Giao Tiếp kết thúc, là bài kinh thứ bảy.

MN 137. KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ

(Salàyatanavibhanga Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” --“Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông phân biệt sáu xứ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.

Khi được nói đến “Sáu nội xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu thức thân cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu xúc thân cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sau khi mắt thấy sắc, (ý) chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe tiếng… ; sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc… sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ chạy theo pháp khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu hành, có sáu xả hành. Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly, sáu ưu liên hệ tại gia, sáu ưu liên hệ xuất ly, sáu xả liên hệ tại gia, sáu xả liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ tại gia? Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến tại gia. Sáu hỷ này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sáu hỷ này liên hệ đến xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ tại gia? Có ưu khởi lên; hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ tại gia. Có ưu khởi lên, hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ đến tại gia. Sáu ưu này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết được các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi sự thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sáu ưu này liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ tại gia? Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu thấy sắc với con mắt, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi sắc pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu nghe tiếng với tai… ngửi hương với mũi… nếm vị với lưỡi… cảm xúc với thân… nhận thức pháp với ý, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi các pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Sáu xả này liên hệ tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ xuất ly? Sau khi biết sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt, nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục,

biến diệt, nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến, hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sáu xả này liên hệ xuất ly.

Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Ở đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu ưu liên hệ xuất ly; đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu xả liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng.

Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Này các Tỷ-kheo, thế nào là xả đa diện, y cứ đa diện? Này các Tỷ-kheo, có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các hương, có xả đối với các vị có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả đa diện, y cứ đa diện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện? Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện, xả y cứ đa diện. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục, đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Khi được nói đến “Tại đây do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến: “Có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử của bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ nhất, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ hai, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Ðệ tử của bậc Ðạo Sư ấy khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí và không đi ngược lời dạy của bậc Ðạo

Sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như lai hoan hỷ, và cảm giác hoan hỷ, sống không dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ ba, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng.

Khi được nói đến “Có ba niệm xứ, một bậc Thánh phải thực hành, và có (thực hành) niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng đáng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng được điều phục”, do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, một con voi được điều phục do một vị điều ngự tượng sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con ngựa được điều phục do một vị điều ngự mã sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con bò được điều phục do một vị điều ngự sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam.

Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương.

Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. Vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ; đó là phương thứ năm. Vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có gì cả”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ; đó là phương thứ sáu. Vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ; chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là phương thứ bảy. Vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng (định); đó là phương thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, một người đáng được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp tám phương này.

Khi được nói đến “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng điều phục”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-