11. Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, giả sử ở đây có một tỳ kheo là người giải thoát cả hai phần (câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutto), và Ta yêu cầu vị ấy như sau: ‘Này tỳ kheo, hãy làm cây cầu [mà xây] trên bùn cho Ta’, liệu vị ấy có né tránh [bỏ đi], hoặc hướng đi sang hướng khác [để né tránh], hoặc nói ‘không’ chăng?"
“Thưa Thế Tôn, không thể có chuyện đó”.
“Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, giả sử ở đây có một tỳ kheo là người [đã được] giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát / paññāvimutto) … người chứng nghiệm bằng thân (thân chứng / kāyasakkhi) … người [đã] đạt đến qua nhìn thấy (kiến chí / diṭṭhippatto) … người [được] giải thoát bằng đức tin (tín giải / saddhāvimutto) … người đi theo Pháp [trí hiểu biết] (pháp tùy hành / dhammānusārī) … người đi theo bằng đức tin (tín tùy hành / saddhānusārī), và Ta yêu cầu vị ấy như sau: ‘Này tỳ kheo, hãy làm cây cầu [mà xây] trên bùn cho Ta’, liệu vị ấy có né tránh [bỏ đi], hoặc hướng đi sang hướng khác [để né tránh], hoặc nói ‘không’ chăng?”
“Thưa Thế Tôn, không thể có chuyện đó”.
12. "Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, vào thời điểm đó, ông có phải là người giải thoát cả hai phần, hay người [đã được] giải thoát bằng trí tuệ hay người chứng nghiệm bằng thân hay người [đã] đạt đến qua nhìn thấy hay người [được] giải thoát bằng đức tin hay người đi theo Pháp [trí hiểu biết] hay người đi theo bằng đức tin
“Thưa Thế Tôn, không phải vậy”.
“Này Bhaddāli, vào thời điểm đó, chẳng phải ông trống rỗng, rỗng tuếch và sai trái sao?”
13. "Thưa vâng, Thế Tôn.
Thưa Thế Tôn, lỗi lầm đã vượt qua con, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Thế Tôn thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, con lại bày tỏ sự không nỗ lực. Thưa Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con bảo vệ trong tương lai".
"Chắc chắn rồi, này Bhaddāli, lỗi lầm đã vượt qua ông, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Ta thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, ông lại bày tỏ sự không nỗ lực. Này Bhaddāli, vì ông đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sửa chữa đúng theo Quy luật (pháp / dhamma), nên Ta chấp nhận điều đó từ ông. Này Bhaddāli, trong luật của bậc thánh, đây là sự tiến bộ: người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sửa chữa đúng theo Quy luật, và đạt được sự bảo vệ trong tương lai.
14. Ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Vị ấy nghĩ thế này: ‘Hay là ta hãy tìm đến một chỗ ở rời bỏ (viễn ly / vivitta), như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Biết đâu ta có thể trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh’. Vị ấy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Khi vị ấy sống tách biệt như vậy, Bậc Đạo Sư khiển trách vị ấy, các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét cũng khiển trách vị ấy, chư thiên khiển trách vị ấy, và chính bản thân vị ấy cũng khiển trách mình. Bị Bậc Đạo Sư khiển trách, bị các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét khiển trách, bị chư thiên khiển trách, bị chính bản thân khiển trách, vị ấy không trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
15. Nhưng ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Vị ấy nghĩ thế này: ‘Hay là ta hãy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Biết đâu ta có thể trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh’. Vị ấy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Khi vị ấy sống tách biệt như vậy, Bậc Đạo Sư không khiển trách vị ấy, các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét không khiển trách vị ấy, chư thiên không khiển trách vị ấy, và chính bản thân vị ấy cũng không khiển trách mình. Không bị Bậc Đạo Sư khiển trách, không bị các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét khiển trách, không bị chư thiên khiển trách, không bị chính bản thân khiển trách, vị ấy trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh.
16. Vị ấy rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm và tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / vivekaja), đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
17. Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo lắng dịu (diệt / vūpasamā) chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, đạt và an trú Thiền-na thứ hai. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, trú trong tâm bình thản (xả / upekkhako), chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato ca sampajāno), cảm nhận hạnh phúc qua thân, điều mà các bậc thánh gọi là: ‘Người có tâm bình thản, chú tâm (chánh niệm giả / satimā), sống hạnh phúc’, đạt và an trú Thiền-na thứ ba. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) hạnh phúc và từ bỏ đau khổ (khổ / dukkhassa), các thư thái (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) trước đây đã tan biến (diệt / atthaṅgamā), đạt và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất lạc bất khổ / adukkhamasukhaṁ), sự quan sát được thanh tịnh nhờ tâm bình thản (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
18. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn (phiền não / upakkilese) đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống trước. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, cụ thể là—một sự Tái sinh (sinh / jāti), hai sự Tái sinh […lặp lại…] cứ như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
19. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và sự Tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá giới hạn con người, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và Tái sinh, thấp kém hay cao trọng, xinh đẹp hay xấu xí, đi về cõi lành hay cõi dữ, vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo nghiệp của mình: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành vi sai trái qua thân […lặp lại…] họ đã rơi vào cõi dữ, địa ngục; nhưng những chúng sinh này có hành vi tốt đẹp qua thân […lặp lại…] họ đã đi đến cõi lành, thế giới thiên giới’; cứ như vậy với mắt thần thanh tịnh, vượt quá giới hạn con người […lặp lại…] vị ấy biết rõ các chúng sinh đi theo nghiệp của mình. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
20. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành (tập / samudayo) của đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodho) đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’; vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’.
21. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết rằng: ‘Đã được giải thoát’.
Vị ấy biết rõ: ‘Sự Tái sinh đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) đã được sống trọn, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư".