Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 36. KINH DÀI SACCACA

(Mahāsaccakasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thời, Thế Tôn đang trú tại Vesāli, trong Đại Lâm, tại Trùng Các Giảng Đường.

2. Lúc bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát, muốn đi vào Vesāli để khất thực.

3. Khi ấy, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đang đi dạo và vãn cảnh, đi đến Trùng Các Giảng Đường trong Đại Lâm. Tôn giả Ānanda nhìn thấy Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đang đi đến từ đằng xa. Thấy vậy, Tôn giả nói với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Saccaka con của người Nigaṇṭha đang đi đến, đây là một người thích tranh luận, tự xưng là học giả, được nhiều người tôn kính. Bạch Thế Tôn, người này muốn chê bai Phật, muốn chê bai Giáo pháp (pháp / dhamma), muốn chê bai Tăng. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng thương xót mà ngồi lại một lát.” Thế Tôn bèn ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn.

Sau đó, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông ta chào hỏi Thế Tôn, trao đổi những lời chào đón thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, nói với Thế Tôn điều này:

MN 36. ÐẠI KINH SACCAKA

(Mahàsaccaka Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Vesali, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường Trùng Các.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y thật đầy đủ, cầm y bát, muốn vào Vesali để khất thực. Rồi Niganthaputta Saccaka tánh hay ngao du thiên hạ, trong khi đi khắp đó đây, đến tại Ðại Lâm, giảng đường Trùng Các. Tôn giả Ananda thấy Niganthaputta Saccaka từ xa đi lại, liền bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Niganthaputta Saccaka đang đến, tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được số đông tôn kính. Bạch Thế Tôn, vị này ưa chỉ trích Phật, ưa chỉ trích Pháp, ưa chỉ trích Tăng. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn ngồi lại một lát.

Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Rồi Niganthaputta Saccaka đi đến chỗ Thế Tôn ở, nói lên những lời hỏi thăm, chúc tụng, xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka nói với Thế Tôn:

4. "Thưa Tôn giả Gotama, có một số sa-môn, bà-la-môn sống chuyên tâm vào việc rèn luyện thân (tu tập thân / kāyabhāvanā), chứ không rèn luyện tâm (tu tập tâm / cittabhāvanā). Thưa Tôn giả Gotama, họ trải qua những cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā) thuộc về thể xác. Thưa Tôn giả Gotama, trước đây đã từng có trường hợp, khi bị cảm giác khó chịu thuộc về thể xác tác động, đùi của người ấy bị co rút, tim bị vỡ, máu nóng trào ra từ miệng, và người ấy rơi vào trạng thái điên loạn, mất trí. Thưa Tôn giả Gotama, đối với người ấy, tâm chạy theo thân, bị thân chi phối. Nguyên nhân của điều đó là gì? Là do tâm không được rèn luyện.

Nhưng thưa Tôn giả Gotama, lại có một số sa-môn, bà-la-môn sống chuyên tâm vào việc rèn luyện tâm, chứ không rèn luyện thân. Thưa Tôn giả Gotama, họ trải qua những cảm giác khó chịu thuộc về tinh thần. Thưa Tôn giả Gotama, trước đây đã từng có trường hợp, khi bị cảm giác khó chịu thuộc về tinh thần tác động, đùi của người ấy bị co rút, tim bị vỡ, máu nóng trào ra từ miệng, và người ấy rơi vào trạng thái điên loạn, mất trí. Thưa Tôn giả Gotama, đối với người ấy, thân chạy theo tâm, bị tâm chi phối. Nguyên nhân của điều đó là gì? Là do thân không được rèn luyện. Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghĩ như thế này: ‘Chắc chắn các đệ tử của Tôn giả Gotama sống chuyên tâm vào việc rèn luyện tâm, chứ không rèn luyện thân’."

5. “Này Aggivessana, ông đã nghe về việc rèn luyện thân như thế nào?”

“Đó là — Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, Makkhali Gosāla — thưa Tôn giả Gotama, những người này sống trần truồng, phóng uế bừa bãi, liếm tay cho sạch, không nhận thức ăn từ người gọi ‘hãy đến, thưa ngài’, không nhận thức ăn từ người gọi ‘hãy đứng lại, thưa ngài’, không nhận thức ăn mang đến sẵn, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời thọ thực. Họ không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng chảo, không nhận thức ăn qua ngưỡng cửa, không nhận thức ăn qua cây gậy, không nhận thức ăn qua chày giã gạo, không nhận thức ăn khi hai người đang ăn, không nhận thức ăn từ phụ nữ có thai, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận thức ăn từ nơi đang phân phát, không nhận thức ăn ở nơi có chó đứng chờ, không nhận thức ăn ở nơi ruồi nhặng bu bám; họ không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu lên men, không uống nước cháo chua. Họ chỉ nhận thức ăn tại một nhà và ăn một miếng, hoặc nhận tại hai nhà và ăn hai miếng […lặp lại…] hoặc nhận tại bảy nhà và ăn bảy miếng. Họ sống bằng một bát nhỏ, sống bằng hai bát nhỏ […lặp lại…] sống bằng bảy bát nhỏ. Họ ăn một ngày một lần, ăn hai ngày một lần […lặp lại…] ăn bảy ngày một lần. Cứ như vậy, họ sống chuyên tâm vào việc thực hành ăn uống theo chu kỳ lên đến nửa tháng một lần.”

6. “Này Aggivessana, họ có thể sống sót chỉ với chừng đó thôi sao?”

“Không đâu, thưa Tôn giả Gotama. Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng họ ăn những thức ăn cứng thượng hạng, ăn những thức ăn mềm thượng hạng, nếm những đồ nếm thượng hạng, uống những đồ uống thượng hạng. Bằng cách đó, họ làm cho thân này lấy lại sức mạnh, làm cho nó nở nang, làm cho nó béo tốt.”

“Này Aggivessana, những gì họ từ bỏ lúc trước, sau đó họ lại tích lũy vào, như vậy thân này có sự tăng lên và giảm xuống. Này Aggivessana, nhưng ông đã nghe về việc rèn luyện tâm như thế nào?” Khi được Thế Tôn hỏi về việc rèn luyện tâm, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, không thể trả lời được.

7. Khi ấy, Thế Tôn nói với Saccaka, con của người Nigaṇṭha: “Này Aggivessana, những gì ông vừa nói về việc rèn luyện thân trước đó, trong luật của bậc thánh, đó không phải là sự rèn luyện thân đúng Quy luật (pháp / dhamma). Này Aggivessana, ông còn không biết thế nào là rèn luyện thân, thì làm sao ông biết được thế nào là rèn luyện tâm? Tuy nhiên, này Aggivessana, thế nào là người không rèn luyện thân (abhāvitakāyo) và không rèn luyện tâm (abhāvitacitto), thế nào là người đã rèn luyện thân (bhāvitakāyo) và đã rèn luyện tâm (bhāvitacitto). Hãy lắng nghe điều đó, hãy suy nghĩ (tác ý / manasi karohi) cẩn thận, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

– Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên lo tu tập về thân, không tu tập về tâm. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về thân. Sự tình này đã xảy ra, này Tôn giả Gotama, do cảm khổ về thân, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu nóng có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự tình này xảy ra đối với người mà tâm tùy thuộc thân, khi tâm chịu sự điều khiển của thân. Vì sao vậy? Vì tâm không được tu tập. Tôn giả Gotama, nhưng có một số Sa- môn, Bà-la-môn, sống chuyên lo tu tập về tâm, không tu tập về thân. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về tâm. Sự tình này đã xảy ra, này Tôn giả Gotama; do cảm khổ thọ về tâm, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự tình này xảy ra đối với người mà thân tùy thuộc tâm, khi thân chịu sự điều khiển của tâm. Vì sao vậy? Vì thân không được tu tập. Này Tôn giả Gotama, rồi tôi suy nghĩ: “Thật sự, Thanh văn đệ tử của Tôn giả Gotama sống chuyên lo tu tập về tâm không tu tập về thân?”

– Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về thân như thế nào?

– Như Nanda Vaccha, Kisa Sankicca, Makkhàli Gosàla, những vị này, này Tôn giả Gotama, sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu, không ăn cá thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo trấu. Những vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy các vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.

– Này Aggivessana, họ có thể tự nuôi sống với mức độ như vậy chăng?

– Không phải vậy, này Tôn giả Gotama. Thỉnh thoảng, này Tôn giả Gotama, họ ăn những món ăn thù thắng loại cứng, họ ăn những món ăn thù thắng loại mền, họ nếm những vị ăn thù thắng, họ uống những

đồ uống thù thắng. Họ nhờ các món ăn ấy gầy dựng thân lực, làm cho thân to lớn, làm cho thân béo mập.

– Này Aggivessana, như vậy những gì ban đầu họ từ bỏ, về sau họ lại thọ dụng. Như vậy có tụ, có tán (có được, có mất) cho thân này. Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về tâm như thế nào?

Niganthaputta Saccaka, được Thế Tôn hỏi tu tập về tâm, không có thể trả lời được. Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:

– Này Aggivessana, thân tu tập mà Ông vừa mới nói đầu tiên ấy không phải là thân tu tập đúng pháp trong giới luật của bậc Thánh. Này Aggivessana, Ông còn không hiểu thân tu tập, làm sao Ông có thể hiểu tâm tu tập. Và này Aggivessana, như thế nào là thân không tu tập, tâm không tu tập; như thế nào là thân tu tập, tâm tu tập? Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

8. "Này Aggivessana, thế nào là người không rèn luyện thân và không rèn luyện tâm? Ở đây, này Aggivessana, đối với một người không học (vô văn / assutavato) người thường (phàm phu / puthujjanassa), một cảm giác dễ chịu sinh ra. Bị cảm giác dễ chịu ấy tác động, người ấy trở nên say đắm trong sự dễ chịu và rơi vào trạng thái say đắm sự dễ chịu. Rồi cảm giác dễ chịu ấy của người đó chấm dứt (diệt / nirujjhati). Do cảm giác dễ chịu bị chấm dứt (diệt / nirodhā), một cảm giác khó chịu sinh ra. Bị cảm giác khó chịu ấy tác động, người ấy sầu não, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la và rơi vào sự u mê (si / sammohaṁ). Này Aggivessana, đối với người ấy, cảm giác dễ chịu sinh ra chi phối và bám rễ (pariyādāya tiṭṭhati) trong tâm do thân không được rèn luyện; cảm giác khó chịu sinh ra cũng chi phối và bám rễ trong tâm do tâm không được rèn luyện. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà cả hai khía cạnh này xảy ra:

– Cảm giác dễ chịu sinh ra chi phối và bám rễ trong tâm do thân không được rèn luyện;

– Cảm giác khó chịu sinh ra chi phối và bám rễ trong tâm do tâm không được rèn luyện;

như vậy, này Aggivessana, là người không rèn luyện thân và không rèn luyện tâm.

9. Này Aggivessana, thế nào là người đã rèn luyện thân và đã rèn luyện tâm? Ở đây, này Aggivessana, đối với một đệ tử có học (hữu học / sutavato) của bậc thánh (thánh nhân / ariyasāvakassa), một cảm giác dễ chịu sinh ra. Bị cảm giác dễ chịu ấy tác động nhưng vị ấy không trở nên say đắm trong sự dễ chịu, không rơi vào trạng thái say đắm sự dễ chịu. Rồi cảm giác dễ chịu ấy của vị đó chấm dứt. Do cảm giác dễ chịu bị chấm dứt, một cảm giác khó chịu sinh ra. Bị cảm giác khó chịu ấy tác động nhưng vị ấy không sầu não, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào sự u mê. Này Aggivessana, đối với vị ấy, cảm giác dễ chịu sinh ra không chi phối và bám rễ trong tâm do thân được rèn luyện; cảm giác khó chịu sinh ra cũng không chi phối và bám rễ trong tâm do tâm được rèn luyện. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà cả hai khía cạnh này xảy ra: cảm giác dễ chịu sinh ra không chi phối và bám rễ trong tâm do thân được rèn luyện, và cảm giác khó chịu sinh ra không chi phối và bám rễ trong tâm do tâm được rèn luyện. Như vậy, này Aggivessana, là người đã rèn luyện thân và đã rèn luyện tâm."

10. “Tôi có niềm tin vào Tôn giả Gotama như thế này: Tôn giả Gotama chính là người đã rèn luyện thân và đã rèn luyện tâm.”

“Này Aggivessana, lời nói này của ông mang tính áp đặt, khiêu khích, nhưng Ta vẫn sẽ trả lời ông. Này Aggivessana, kể từ khi Ta cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ (viễn ly / agārasmā) gia đình sống không gia đình, việc một cảm giác dễ chịu sinh ra có thể chi phối và bám rễ trong tâm Ta, hoặc một cảm giác khó chịu sinh ra có thể chi phối và bám rễ trong tâm Ta — điều đó là không thể xảy ra.”

– Này Aggivessana, thế nào là thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? Ở đây, này Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập; khổ thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Như vậy, này Aggivessana, người ấy là người có thân không tu tập và tâm không tu tập.

Và này Aggivessana, thế nào là thân tu tập và tâm tu tập? Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập, như vậy này Aggivessana, người ấy là người có thân tu tập, có tâm tu tập.

– Như vậy, tôi có lòng tin tưởng với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama là vị có thân tu tập và có tâm tu tập.

– Này Aggivessana, dầu cho lời nói của Ông có vẻ trịch thượng và khiêu khích, nhưng Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Aggivessana, vì Ta đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lạc thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, hay khổ thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, sự tình như vậy không thể xảy ra.

11. “Chẳng lẽ Tôn giả Gotama chưa từng sinh ra một cảm giác dễ chịu mạnh mẽ đến mức cảm giác dễ chịu ấy có thể chi phối và bám rễ trong tâm? Chẳng lẽ Tôn giả Gotama chưa từng sinh ra một cảm giác khó chịu mạnh mẽ đến mức cảm giác khó chịu ấy có thể chi phối và bám rễ trong tâm sao?”

12. "Làm sao lại không có, này Aggivessana? Ở đây, này Aggivessana, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là Bồ-tát chưa giác ngộ hoàn toàn, Ta đã nghĩ thế này: ‘Đời sống gia đình là chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia là không gian rộng mở. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện một cách hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Hay là Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình.’

13. Rồi này Aggivessana, vào một thời gian sau, khi Ta còn trẻ, tóc đen nhánh, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân, trong độ tuổi đầu đời, mặc cho cha mẹ không đồng ý, khóc lóc nước mắt đầm đìa, Ta đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, đang tìm kiếm điều thiện, đang tìm kiếm trạng thái bình an vô thượng, Ta đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện trong Giáo pháp và luật này.’

Được nói vậy, này Aggivessana, Āḷāra Kālāma nói với Ta: ‘Tôn giả hãy ở lại, Giáo pháp này là như vậy, nơi mà một người trí tuệ không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) và đạt đến học thuyết của chính vị đạo sư của mình.’

Này Aggivessana, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Giáo pháp ấy. Này Aggivessana, chỉ với việc mấp máy môi, chỉ với việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được học thuyết về trí tuệ và học thuyết của các trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: ‘Tôi biết, tôi thấy.’

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Āḷāra Kālāma không chỉ tuyên bố Giáo pháp này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến nó; chắc chắn Āḷāra Kālāma sống biết và thấy Giáo pháp này.’

Sau đó, này Aggivessana, Ta đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, theo những cách nào (kittāvatā) ngài tuyên bố rằng ngài tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này?’ Được nói vậy, này Aggivessana, Āḷāra Kālāma tuyên bố về cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana).

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tập trung chú ý (niệm / sati), Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có Định, Ta cũng có Định; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Giáo pháp mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến.’ Này Aggivessana, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp ấy.

14. Sau đó, này Aggivessana, Ta đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, có phải cho đến mức độ này ngài tuyên bố rằng ngài tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này?’

‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ này tôi tuyên bố rằng tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này.’

‘Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này cho đến mức độ này.’

‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là khéo đạt được cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi thấy một người bạn đồng tu như Tôn giả. Như vậy, Giáo pháp mà tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, Tôn giả cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến; Giáo pháp mà Tôn giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Giáo pháp mà tôi biết, Tôn giả cũng biết; Giáo pháp mà Tôn giả biết, tôi cũng biết. Như vậy, tôi như thế nào, Tôn giả như thế ấy; Tôn giả như thế nào, tôi như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, hãy đến đây, cả hai chúng ta cùng nhau dẫn dắt hội chúng này.’ Như vậy, này Aggivessana, Āḷāra Kālāma là thầy của Ta, lại đặt Ta — một học trò — ngang hàng với chính mình, và tôn vinh Ta bằng sự tôn vinh cao quý.

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Giáo pháp này không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), không dẫn đến chấm dứt (diệt / nirodhāya), không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến sự tái sinh vào cõi Không Có Vật Gì.’ Này Aggivessana, Ta không thỏa mãn với Giáo pháp ấy, Ta chán ngán Giáo pháp ấy và rời đi.

15. Này Aggivessana, đang tìm kiếm điều thiện, đang tìm kiếm trạng thái bình an vô thượng, Ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện trong Giáo pháp và luật này.’

Được nói vậy, này Aggivessana, Udaka Rāmaputta nói với Ta: ‘Tôn giả hãy ở lại, Giáo pháp này là như vậy, nơi mà một người trí tuệ không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến học thuyết của chính vị đạo sư của mình.’

Này Aggivessana, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Giáo pháp ấy. Này Aggivessana, chỉ với việc mấp máy môi, chỉ với việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được học thuyết về trí tuệ và học thuyết của các trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: ‘Tôi biết, tôi thấy.’

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Rāma không chỉ tuyên bố Giáo pháp này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến nó. Chắc chắn Rāma sống biết và thấy Giáo pháp này.’

Sau đó, này Aggivessana, Ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, theo những cách nào Rāma tuyên bố rằng ngài tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này?’ Được nói vậy, này Aggivessana, Udaka Rāmaputta tuyên bố về xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Không phải chỉ Rāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Rāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Rāma mới có tập trung chú ý, Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Rāma mới có Định, Ta cũng có Định; không phải chỉ Rāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Giáo pháp mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến.’ Này Aggivessana, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp ấy.

Sau đó, này Aggivessana, Ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, có phải cho đến mức độ này Rāma tuyên bố rằng ngài tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này?’

‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ này Rāma tuyên bố rằng ngài tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này.’

‘Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến Giáo pháp này cho đến mức độ này.’

‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là khéo đạt được cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi thấy một người bạn đồng tu như Tôn giả. Như vậy, Giáo pháp mà Rāma tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, Tôn giả cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến; Giáo pháp mà Tôn giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và đạt đến, Rāma cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Giáo pháp mà Rāma đã hiểu toàn bộ, Tôn giả cũng biết; Giáo pháp mà Tôn giả biết, Rāma cũng đã hiểu toàn bộ. Như vậy, Rāma như thế nào, Tôn giả như thế ấy; Tôn giả như thế nào, Rāma như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, Tôn giả hãy dẫn dắt hội chúng này.’ Như vậy, này Aggivessana, Udaka Rāmaputta là bạn đồng tu của Ta, lại đặt Ta vào vị trí của một người thầy, và tôn vinh Ta bằng sự tôn vinh cao quý.

Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Giáo pháp này không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, không dẫn đến chấm dứt, không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến sự tái sinh vào xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”.’ Này Aggivessana, Ta không thỏa mãn với Giáo pháp ấy, Ta chán ngán Giáo pháp ấy và rời đi.

16. Này Aggivessana, đang tìm kiếm điều thiện, đang tìm kiếm trạng thái bình an vô thượng, Ta đi bộ dần qua vùng Magadha và đến thị trấn Uruvelā. Tại đó, Ta thấy một vùng đất dễ thương, một khu rừng tĩnh lặng, một dòng sông chảy êm đềm với nước trong vắt, bến bờ bằng phẳng dễ chịu, và xung quanh có các ngôi làng để khất thực. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Vùng đất này thật dễ thương, khu rừng thật tĩnh lặng, dòng sông chảy êm đềm với nước trong vắt, bến bờ bằng phẳng dễ chịu, và xung quanh có các ngôi làng để khất thực. Nơi này thật thích hợp cho một thanh niên thiện gia đang mong muốn nỗ lực tột độ (tinh cần / padhānāyā).’ Này Aggivessana, Ta bèn ngồi xuống ngay tại đó, nghĩ rằng: ‘Nơi này thật thích hợp để nỗ lực tột độ.’

– Phải chăng, một lạc thọ không khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho lạc thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú, phải chăng một khổ thọ khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho khổ thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú?

– Này Aggivessana, sao có thể không như vậy được? Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ðời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

Rồi này Aggivessana, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Aggivessana, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này Aggivessana, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ.

Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.

Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: “Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” --“Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. – “Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”

Như vậy nàyAggivessana, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

Rồi này Aggivessana, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Ðược nói vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Aggivessana, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.

Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Aggivessana, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” --“Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"

Như vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

Này Aggivessana, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này Aggivessana, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ rằng: “Thật đáng cố gắng tinh tấn ở nơi đây”.

17. Này Aggivessana, ba ví dụ này đã hiện lên trong Ta, những ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây. Giống như, này Aggivessana, có một khúc gỗ ướt, đầy nhựa, bị vứt chìm trong nước. Rồi một người đàn ông mang theo dụng cụ tạo lửa đến, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho ngọn lửa bùng lên.’ Này Aggivessana, ông nghĩ sao, người đàn ông đó mang dụng cụ tạo lửa đến cọ xát vào khúc gỗ ướt, đầy nhựa, bị vứt chìm trong nước kia, liệu có thể tạo ra lửa, làm cho ngọn lửa bùng lên được không?"

“Không đâu, thưa Tôn giả Gotama.” “Nguyên nhân của điều đó là gì?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì đó là khúc gỗ ướt, đầy nhựa, và nó lại bị vứt chìm trong nước. Người đàn ông đó chỉ chuốc lấy sự mệt nhọc và bực bội mà thôi.”

"Cũng vậy, này Aggivessana, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào sống mà thân và tâm trí không rời bỏ khỏi (ly / avūpakaṭṭhā) ham muốn bản năng (dục / kāmehi), và đối với ham muốn bản năng, muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchando), sự khao khát bản năng, sự mê đắm bản năng, sự thèm khát bản năng, sự thiêu đốt của bản năng bên trong họ chưa được từ bỏ (đoạn trừ / suppahīno) hoàn toàn, chưa được lắng dịu (diệt / suppaṭippassaddho) hoàn toàn; dù cho những sa-môn, bà-la-môn này có trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ cũng không thể đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Và dù cho những sa-môn, bà-la-môn này không trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ cũng không thể đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ nhất hiện lên trong Ta, một ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây.

18. Này Aggivessana, một ví dụ thứ hai khác hiện lên trong Ta, một ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây. Giống như, này Aggivessana, có một khúc gỗ ướt, đầy nhựa, bị vứt trên bờ khô ráo, cách xa nước. Rồi một người đàn ông mang theo dụng cụ tạo lửa đến, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho ngọn lửa bùng lên.’ Này Aggivessana, ông nghĩ sao, người đàn ông đó mang dụng cụ tạo lửa đến cọ xát vào khúc gỗ ướt, đầy nhựa, bị vứt trên bờ khô ráo cách xa nước kia, liệu có thể tạo ra lửa, làm cho ngọn lửa bùng lên được không?"

“Không đâu, thưa Tôn giả Gotama.” “Nguyên nhân của điều đó là gì?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì đó là khúc gỗ ướt, đầy nhựa, mặc dù nó bị vứt trên bờ khô ráo cách xa nước. Người đàn ông đó chỉ chuốc lấy sự mệt nhọc và bực bội mà thôi.”

"Cũng vậy, này Aggivessana, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào sống mà thân và tâm trí đã rời bỏ khỏi ham muốn bản năng, nhưng đối với ham muốn bản năng, muốn thỏa mãn bản năng, sự khao khát bản năng, sự mê đắm bản năng, sự thèm khát bản năng, sự thiêu đốt của bản năng bên trong họ chưa được từ bỏ hoàn toàn, chưa được lắng dịu hoàn toàn; dù cho những sa-môn, bà-la-môn này có trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ cũng không thể đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Và dù cho những sa-môn, bà-la-môn này không trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ cũng không thể đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ hai hiện lên trong Ta, một ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây.

19. Này Aggivessana, một ví dụ thứ ba khác hiện lên trong Ta, một ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây. Giống như, này Aggivessana, có một khúc gỗ khô, mục nát, bị vứt trên bờ khô ráo, cách xa nước. Rồi một người đàn ông mang theo dụng cụ tạo lửa đến, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho ngọn lửa bùng lên.’ Này Aggivessana, ông nghĩ sao, người đàn ông đó mang dụng cụ tạo lửa đến cọ xát vào khúc gỗ khô, mục nát, bị vứt trên bờ khô ráo cách xa nước kia, liệu có thể tạo ra lửa, làm cho ngọn lửa bùng lên được không?"

“Có thể, thưa Tôn giả Gotama.” “Nguyên nhân của điều đó là gì?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì đó là khúc gỗ khô, mục nát, và nó lại bị vứt trên bờ khô ráo cách xa nước.”

"Cũng vậy, này Aggivessana, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào sống mà thân và tâm trí đã rời bỏ khỏi ham muốn bản năng, và đối với ham muốn bản năng, muốn thỏa mãn bản năng, sự khao khát bản năng, sự mê đắm bản năng, sự thèm khát bản năng, sự thiêu đốt của bản năng bên trong họ đã được từ bỏ hoàn toàn, đã được lắng dịu hoàn toàn; nếu những sa-môn, bà-la-môn này trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ có khả năng đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Và ngay cả khi những sa-môn, bà-la-môn này không trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, họ vẫn có khả năng đạt đến tri thức, tầm nhìn và sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ ba hiện lên trong Ta, một ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây. Này Aggivessana, ba ví dụ này đã hiện lên trong Ta, những ví dụ kỳ diệu chưa từng được nghe trước đây.

Rồi này Aggivessana, ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và đặt trong nước. Có một người đến,

cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa thì có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?

– Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.

– Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà- la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?

– Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.

– Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà- la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không?

– Thưa được, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.

– Cũng vậy, này Aggivessana, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

20. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, vắt kiệt và thiêu đốt tâm.’ Này Aggivessana, Ta bèn nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, vắt kiệt và thiêu đốt tâm. Này Aggivessana, khi Ta nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, vắt kiệt và thiêu đốt tâm, mồ hôi túa ra từ nách Ta. Giống như, này Aggivessana, một người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy đầu hoặc vai của một người yếu hơn, đè nén, vắt kiệt và thiêu đốt người đó; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nghiến chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, vắt kiệt và thiêu đốt tâm, mồ hôi túa ra từ nách Ta. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

21. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy thực hành Thiền-na ngưng thở (thiền nín thở / appāṇakaṁ jhānaṁ).’ Này Aggivessana, Ta bèn chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng và mũi. Này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng và mũi, có một âm thanh cực kỳ lớn của luồng gió thoát ra qua lỗ tai. Giống như âm thanh cực kỳ lớn của bễ lò rèn đang được thổi; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng và mũi, có một âm thanh cực kỳ lớn của luồng gió thoát ra qua lỗ tai. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

22. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy tiếp tục thực hành Thiền-na ngưng thở.’ Này Aggivessana, Ta bèn chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai. Này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, những luồng gió cực mạnh đập vào đỉnh đầu Ta. Giống như, này Aggivessana, một người đàn ông khỏe mạnh dùng một thanh kiếm sắc nhọn đâm vào đỉnh đầu; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, những luồng gió cực mạnh đập vào đỉnh đầu Ta. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

23. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy tiếp tục thực hành Thiền-na ngưng thở.’ Này Aggivessana, Ta bèn chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai. Này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, có những cơn đau đầu cực kỳ dữ dội. Giống như, này Aggivessana, một người đàn ông khỏe mạnh dùng một sợi dây da cứng siết chặt quanh đầu; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, có những cơn đau đầu cực kỳ dữ dội. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

24. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy tiếp tục thực hành Thiền-na ngưng thở.’ Này Aggivessana, Ta bèn chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai. Này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, những luồng gió cực mạnh cắt xé bụng Ta. Giống như, này Aggivessana, một người đồ tể lành nghề hoặc người học việc của ông ta dùng một con dao mổ bò sắc bén cắt xé bụng; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, những luồng gió cực mạnh cắt xé bụng Ta. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

25. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy tiếp tục thực hành Thiền-na ngưng thở.’ Này Aggivessana, Ta bèn chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai. Này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, có một sức nóng cực kỳ dữ dội trong thân. Giống như, này Aggivessana, hai người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy hai cánh tay của một người yếu hơn, nướng và thiêu đốt người đó trên một hố than hồng; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta chặn đứng hơi thở vào và hơi thở ra qua miệng, mũi và tai, có một sức nóng cực kỳ dữ dội trong thân. Này Aggivessana, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, tập trung chú ý được thiết lập không mờ mịt, nhưng thân Ta bị kích động, không lắng dịu, do bị áp đảo bởi chính sự nỗ lực tột độ đau đớn đó. Này Aggivessana, dù cảm giác khó chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

26. Này Aggivessana, một số chư thiên thấy Ta bèn nói: ‘Sa-môn Gotama đã chết.’ Một số chư thiên khác nói: ‘Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng đang hấp hối.’ Một số chư thiên khác lại nói: ‘Sa-môn Gotama không chết, cũng không hấp hối, Sa-môn Gotama là một bậc A-la-hán, đây chính là cách sống của một bậc A-la-hán.’

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta hãy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!” Này Aggivessana, rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta. Này Aggivessana, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Aggivessana, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy này Aggivessana, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau : “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh khủng. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại, nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Lại nữa, này Aggivessana, chư Thiên thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama đã chết rồi”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn Gotama sắp sửa chết”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy”.

27. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy thực hành cắt đứt hoàn toàn thức ăn.’ Khi ấy, này Aggivessana, chư thiên đến gặp Ta và nói: ‘Thưa ngài, xin đừng thực hành cắt đứt hoàn toàn thức ăn. Nếu ngài thực hành cắt đứt hoàn toàn thức ăn, chúng tôi sẽ truyền tinh chất cõi trời qua các lỗ chân lông của ngài, và ngài sẽ sống sót nhờ đó.’ Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Nếu Ta tuyên bố nhịn ăn hoàn toàn, mà những chư thiên này lại truyền tinh chất cõi trời qua các lỗ chân lông của Ta, và Ta sống sót nhờ đó, thì đó là một sự dối trá của Ta.’ Này Aggivessana, Ta từ chối những chư thiên ấy, Ta nói: ‘Không cần đâu.’

28. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Hay là Ta hãy dùng thức ăn từng chút, từng chút một, mỗi lần một vốc tay, dù là cháo đậu xanh, cháo đậu ván, cháo đậu lăng, hay cháo đậu Hà Lan.’ Này Aggivessana, Ta bèn ăn từng chút, từng chút một, mỗi lần một vốc tay, dù là cháo đậu xanh, cháo đậu ván, cháo đậu lăng, hay cháo đậu Hà Lan. Này Aggivessana, khi Ta ăn từng chút, từng chút một, mỗi lần một vốc tay, dù là cháo đậu xanh, cháo đậu ván, cháo đậu lăng, hay cháo đậu Hà Lan, thân Ta đạt đến trạng thái gầy gò tột độ. Giống như những đốt cây leo āsītika hay cây leo kāḷa; cũng vậy, các chi phần thân Ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như móng guốc của con lạc đà; cũng vậy, mông của Ta trở nên như thế do ăn quá ít. Giống như một chuỗi hạt; cũng vậy, xương sống của Ta nhô lên lõm xuống như thế do ăn quá ít. Giống như những rui mè của một ngôi nhà hoang tàn bị sụp đổ; cũng vậy, các xương sườn của Ta gầy guộc như thế do ăn quá ít. Giống như trong một giếng nước sâu, những vì sao phản chiếu dưới nước trông sâu thẳm và chìm lấp; cũng vậy, trong hốc mắt của Ta, con ngươi trông sâu thẳm và chìm lấp như thế do ăn quá ít. Giống như một quả bầu đắng bị cắt khi còn xanh, bị gió và nắng làm cho teo héo và nhăn nheo; cũng vậy, da đầu của Ta teo héo và nhăn nheo như thế do ăn quá ít.

Này Aggivessana, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ da bụng’, thì Ta nắm trúng xương sống; khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ xương sống’, thì Ta nắm trúng da bụng. Này Aggivessana, da bụng của Ta dính sát vào xương sống do ăn quá ít. Này Aggivessana, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hay tiểu tiện’, thì Ta ngã gục úp mặt xuống ngay tại đó do ăn quá ít. Này Aggivessana, khi Ta xoa bóp thân để làm dịu nó, thì những sợi lông với gốc rễ thối rữa rụng lả tả khỏi thân Ta do ăn quá ít.

29. Này Aggivessana, những người thấy Ta bèn nói: ‘Sa-môn Gotama có màu da đen.’ Một số người khác nói: ‘Sa-môn Gotama không có màu da đen, Sa-môn Gotama có màu da sẫm.’ Một số người khác lại nói: ‘Sa-môn Gotama không có màu da đen, cũng không có màu da sẫm, Sa-môn Gotama có màu da xám xịt.’ Này Aggivessana, màu da vốn dĩ trong trẻo, sáng sủa của Ta đã bị hủy hoại đến mức như vậy do ăn quá ít.

30. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, thì đây là mức độ tột cùng, không thể hơn thế này. Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, thì đây là mức độ tột cùng, không thể hơn thế này. Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại đang trải qua những cảm giác khó chịu đau đớn, dữ dội, khốc liệt do tự ép xác, thì đây là mức độ tột cùng, không thể hơn thế này. Nhưng bằng sự khổ hạnh khốc liệt này, Ta vẫn không đạt được trạng thái vượt qua giới hạn con người, không đạt được tri thức và tầm nhìn thù thắng của bậc thánh. Liệu có một con đường nào khác dẫn đến giác ngộ chăng?’

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy hoàn toàn tuyệt thực”. Rồi này Aggivessana, chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống”. Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối Ta”. Này Aggivessana, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: “Như vậy là đủ”.

Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: “Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ”. Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện” thì Ta ngã quúp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama có da đen”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám.” Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm”. Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?”

31. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Ta nhớ lại khi cha Ta, người dòng họ Thích-ca, đang làm việc, Ta ngồi dưới bóng mát của cây hồng táo (jambu), rời bỏ khỏi ham muốn bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), Ta đã đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ. Liệu đây có phải là con đường dẫn đến giác ngộ chăng?’

Này Aggivessana, sau ký ức (niệm/sati) đó ta nhận ra (thức/Viññāṇa) (một nhận thức sau ký ức đó/ satānusāri viññāṇaṁ ahosi): ‘Đây chính là con đường dẫn đến giác ngộ.’

32. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Tại sao Ta lại tránh né hạnh phúc đó, một hạnh phúc hoàn toàn tách biệt khỏi ham muốn bản năng, tách biệt khỏi những điều không thiện?’ Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Ta không tránh né hạnh phúc đó, một hạnh phúc hoàn toàn tách biệt khỏi ham muốn bản năng, tách biệt khỏi những điều không thiện.’

33. Này Aggivessana, Ta nghĩ thế này: ‘Thật không dễ gì đạt được hạnh phúc đó với một thân gầy gò tột độ như thế này. Hay là Ta hãy ăn thức ăn đặc (thô thực / oḷārikaṁ āhāraṁ), như cơm và cháo.’ Này Aggivessana, Ta bèn ăn thức ăn đặc, như cơm và cháo.

Lúc bấy giờ, này Aggivessana, có năm tỳ kheo đang hầu hạ Ta, nghĩ rằng: ‘Khi nào Sa-môn Gotama đạt được Giáo pháp, ngài sẽ báo cho chúng ta biết.’ Nhưng này Aggivessana, khi Ta bắt đầu ăn thức ăn đặc, như cơm và cháo, thì năm tỳ kheo ấy chán ngán Ta và bỏ đi, nói rằng: ‘Sa-môn Gotama đã sống buông thả, đã từ bỏ sự nỗ lực tột độ, đã quay trở lại lối sống buông thả.’

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích- ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?” Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện”.’

Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: “Nay thật không dễ gì chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hãy ăn thô thực ăn cơm chua”. Rồi này Aggivessana, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Aggivessana, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: “Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết”. Này Aggivessana, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: “Sa-môn Gotama nay sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc”.

34. Này Aggivessana, sau khi ăn thức ăn đặc và lấy lại sức mạnh, rời bỏ khỏi ham muốn bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện, Ta đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

35-37. Với sự lắng dịu của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), Ta đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

Với sự phai nhạt của hân hoan, Ta an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhā), tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno). Ta trải nghiệm trực tiếp (vedeti / paṭisaṁvedesiṁ) hạnh phúc bằng thân, trạng thái mà các bậc thánh gọi là: ‘Người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’; Ta đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

Với sự từ bỏ hạnh phúc và từ bỏ đau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) trước đó, Ta đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), nơi tập trung chú ý được thanh lọc hoàn toàn bởi Tâm quân bình. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

38. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn (phiền não / upakkilese) đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, Ta hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các đời sống quá khứ. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, đó là — một đời sống […lặp lại…] cứ như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các chi tiết và bối cảnh của chúng.

39. Này Aggivessana, đây là hiểu biết (minh / vijjā) thứ nhất mà Ta đạt được trong canh đầu của đêm; không hiểu biết (vô minh / avijjā) bị phá hủy, hiểu biết sinh ra; bóng tối bị phá hủy, ánh sáng sinh ra; như điều xảy ra đối với một người sống không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết tâm. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

40. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá giới hạn con người, Ta thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, hạnh phúc và đau khổ, Ta thấy rõ (tuệ tri / pajānāmi) các chúng sinh đi theo nghiệp của mình […lặp lại…]

41. Này Aggivessana, đây là hiểu biết thứ hai mà Ta đạt được trong canh giữa của đêm; không hiểu biết bị phá hủy, hiểu biết sinh ra; bóng tối bị phá hủy, ánh sáng sinh ra; như điều xảy ra đối với một người sống không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết tâm. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

42. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành (sinh / samudayo) của đau khổ’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ’. Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’; Ta hiểu toàn bộ đúng như thật: ‘Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt các nguồn ác’.

43. Khi Ta biết như vậy, thấy như vậy, tâm Ta được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm Ta được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm Ta được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi được giải thoát, có sự nhận biết rằng: ‘Đã được giải thoát.’

Ta hiểu toàn bộ: ‘sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt, đời sống thánh thiện đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa.’

44. Này Aggivessana, đây là hiểu biết thứ ba mà Ta đạt được trong canh cuối của đêm; không hiểu biết bị diệt, hiểu biết sinh ra; bóng tối bị diệt, ánh sáng sinh ra; như điều xảy ra đối với một người sống không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết tâm. Này Aggivessana, dù cảm giác dễ chịu sinh ra như vậy, nó vẫn không chi phối và bám rễ trong tâm Ta.

45. Này Aggivessana, Ta nhớ lại đã giảng Giáo pháp cho một hội chúng hàng trăm người. Và mỗi người trong số họ đều nghĩ thế này: ‘Sa-môn Gotama đang giảng Giáo pháp nhắm riêng vào ta.’ Này Aggivessana, không nên hiểu như vậy; Như Lai giảng Giáo pháp cho người khác chỉ nhằm mục đích làm cho họ hiểu rõ. Này Aggivessana, ngay khi kết thúc bài giảng đó, Ta không suy nghĩ nữa, đặt tâm vào bên trong (đưa tâm trở về nội tâm) khiến tâm lắng đọng, [tâm] hợp làm một và tâm được an tịnh (ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapemi sannisādemi ekodiṁ karomi samādahāmi) trên chính đối tượng Định ban đầu, nhờ đó Ta luôn an trú."

“Điều này thật đáng tin cậy đối với Tôn giả Gotama, vì ngài là một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng Tôn giả Gotama có nhớ mình từng ngủ vào ban ngày không?”

46. “Này Aggivessana, Ta nhớ vào tháng cuối cùng của mùa hè, sau bữa ăn, khi đi khất thực về, Ta gấp áo saṅghāṭi làm bốn, nằm nghiêng bên phải, tập trung chú ý, nhận biết rõ ràng và chìm vào giấc ngủ.”

“Thưa Tôn giả Gotama, một số sa-môn, bà-la-môn gọi đó là trạng thái sống trong sự u mê.”

“Này Aggivessana, không phải chỉ vì thế mà một người là u mê (sammūḷho) hay không u mê (asammūḷho). Tuy nhiên, này Aggivessana, thế nào là người u mê và thế nào là người không u mê, hãy lắng nghe điều đó, hãy suy nghĩ cẩn thận, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đáp lời Thế Tôn.

Thế Tôn nói điều này:

47. "Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà các nguồn ác gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang theo sự sợ hãi, dẫn đến kết quả đau khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai vẫn chưa được từ bỏ, Ta gọi người đó là ‘u mê’. Này Aggivessana, vì không từ bỏ các nguồn ác nên người đó là u mê. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà các nguồn ác gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang theo sự sợ hãi, dẫn đến kết quả đau khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai đã được từ bỏ, Ta gọi người đó là ‘không u mê’. Này Aggivessana, vì đã từ bỏ các nguồn ác nên người đó là không u mê.

Này Aggivessana, đối với Như Lai, các nguồn ác gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang theo sự sợ hãi, dẫn đến kết quả đau khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, bị làm cho như một thân cây cọ bị chặt đứt, bị làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại (vô sanh / anuppādadhammā) trong tương lai. Giống như, này Aggivessana, một cây cọ bị chặt đứt ngọn thì không thể mọc lại được nữa; cũng vậy, này Aggivessana, đối với Như Lai, các nguồn ác gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, mang theo sự sợ hãi, dẫn đến kết quả đau khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, bị làm cho như một thân cây cọ bị chặt đứt, bị làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai."

48. Khi được nói vậy, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, nói với Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật phi thường, thưa Tôn giả Gotama. Dù Tôn giả Gotama bị công kích liên tục như vậy, bị dồn ép bằng những lời lẽ tranh luận như vậy, màu da của ngài vẫn sáng sủa, nét mặt của ngài vẫn rạng rỡ, đúng như một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác.

Thưa Tôn giả Gotama, tôi nhớ đã từng tranh luận với Pūraṇa Kassapa. Khi bị tôi dồn ép bằng những lời lẽ tranh luận, ông ta đã lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh trống lảng ra ngoài, và bộc lộ sự tức giận, thù hằn, bất mãn. Nhưng Tôn giả Gotama, dù bị công kích liên tục như vậy, bị dồn ép bằng những lời lẽ tranh luận như vậy, màu da của ngài vẫn sáng sủa, nét mặt của ngài vẫn rạng rỡ, đúng như một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác.

Thưa Tôn giả Gotama, tôi nhớ đã từng tranh luận với Makkhali Gosāla […lặp lại…] Ajita Kesakambala… Pakudha Kaccāyana… Sañjaya Belaṭṭhaputta… Nigaṇṭha Nāṭaputta. Khi bị tôi dồn ép bằng những lời lẽ tranh luận, ông ta đã lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh trống lảng ra ngoài, và bộc lộ sự tức giận, thù hằn, bất mãn. Nhưng Tôn giả Gotama, dù bị công kích liên tục như vậy, bị dồn ép bằng những lời lẽ tranh luận như vậy, màu da của ngài vẫn sáng sủa, nét mặt của ngài vẫn rạng rỡ, đúng như một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác.

Và bây giờ, thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi xin phép được ra về. Chúng tôi có nhiều việc phải làm, nhiều trách nhiệm phải lo."

“Này Aggivessana, ông hãy làm những gì ông cho là đúng lúc.”

Sau đó, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinanditvā) và tán thán lời Thế Tôn nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Kinh Đại Saccaka kết thúc, bài thứ sáu.

Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát” Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Như vậy này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Này Aggivessana, Ta biết rằng khi Ta thuyết pháp cho đại chúng gồm hàng trăm người, mỗi người nghĩ như thế này về Ta: “Ðặc biệt cho ta, Sa-môn Gotama thuyết pháp”. Này Aggivessana, chớ có hiểu như vậy. Khi Như Lai thuyết pháp cho đại chúng, thì đó chỉ vì mục đích giảng dạy. Và Ta, này Aggivessana, sau khi chấm dứt một buổi thuyết giảng như vậy, Ta an trú nội tâm, làm cho tịnh chỉ, làm cho nhất tâm, làm cho định tĩnh trên định tướng thứ nhất ấy, và như vậy Ta sống an trú, trường cửu, vĩnh viễn.

– Như vậy, Tôn giả Gotama thật đáng tin cậy, vì Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có cho phép ngủ ban ngày không?

– Này Aggivessana, Ta có cho phép, vào cuối tháng hạ, sau khi khất thực về, sau khi xếp áo sanghati (đại y) thành bốn, chánh niệm tỉnh giác, Ta nằm xuống ngủ, nằm phía tay mặt.

– Này Tôn giả Gotama, như vậy một số Sa-môn, Bà-la-môn gọi là an trú nơi si ám.

– Này Aggivessana, như vậy không phải là si ám hay không si ám. Này Aggivessana, như thế nào là si ám và như thế nào là không si ám? Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Ðối với ai, các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng

đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là còn si ám. Này Aggivessana, đối với ai các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là không si ám. Này Aggivessana, sự đoạn trừ lậu hoặc là không si ám. Này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai. Này Aggivessana, ví như cây ta-la bị chặt đứt đầu, không lớn lên; cũng vậy, này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai.

Khi được nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn:

– Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mỉa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ, như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Purana Kassapa biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn, liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận, tức tối. Còn Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Makkhali Gosala… Ajita Kesakambala… Pakudha Kaccayana… Sanjaya Belatthiputta… cùng với Nigantha Nataputta biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận và tức tối. Còn Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội, trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Và này Tôn giả Gotama, chúng tôi nay phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm.

– Này Aggivessana, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

Rồi Niganthaputta Saccaka hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.

-ooOoo-