Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 4. KINH SỢ HÃI VÀ KHIẾP ĐẢM

Bhayabheravasutta

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, tại tu viện của Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông chào hỏi Thế Tôn. Sau những lời chào hỏi thân hữu, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà-la-môn Jāṇussoṇi thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, những thiện nam tử vì niềm tin đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự hướng dẫn của Tôn giả Gotama; Tôn giả Gotama là người dẫn dắt họ, Tôn giả Gotama là người giúp đỡ họ nhiều nhất, Tôn giả Gotama là người khích lệ họ; và nhóm người ấy noi theo quan điểm của Tôn giả Gotama.”

“Đúng vậy, Này bà-la-môn, đúng vậy, Này bà-la-môn. Những thiện nam tử vì niềm tin đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự hướng dẫn của Ta; Ta là người dẫn dắt họ, Ta là người giúp đỡ họ nhiều nhất, Ta là người khích lệ họ; và nhóm người ấy noi theo quan điểm của Ta.”

“Thưa Tôn giả Gotama, thật khó chịu đựng nổi những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, thật khó để thực hành sự tĩnh cư, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự đơn độc. Tôi nghĩ rằng rừng sâu sẽ cướp đi tâm trí của một tỳ kheo chưa đạt được định (samādhi).”

"Đúng vậy, Này bà-la-môn, đúng vậy, Này bà-la-môn. Thật khó chịu đựng nổi những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, thật khó để thực hành sự tĩnh cư, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự đơn độc. Rừng sâu sẽ cướp đi tâm trí của một tỳ kheo chưa đạt được định.

4. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM

4. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM (Bhayabherava Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Bà-la-môn Janussoni đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, có những Thiện nam tử, vì lòng tin Tôn giả Gotama, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị lãnh đạo. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama giúp ích rất nhiều. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị khích lệ sách tấn. Các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Tôn giả Gotama.

– Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, có những Thiện nam tử, vì lòng tin nơi Ta, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta là vị lãnh đạo của họ. Ta đã giúp ích rất nhiều cho họ. Ta là vị khích lệ sách tấn cho họ. Và các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Ta.

– Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.

– Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.

Này bà-la-môn, trước khi giác ngộ, khi chưa giác ngộ hoàn toàn và vẫn còn là một Bồ-tát, Ta cũng đã nghĩ như sau: ‘Thật khó chịu đựng nổi những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, thật khó để thực hành sự tĩnh cư, thật khó để tìm thấy niềm vui trong sự đơn độc. Rừng sâu sẽ cướp đi tâm trí của một tỳ kheo chưa đạt được định.’

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào có hành động cơ thể không trong sạch mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của hành động cơ thể không trong sạch ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện (bất thiện pháp / akusala) cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có hành động cơ thể không trong sạch khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta có hành động cơ thể trong sạch. Ta là một trong những bậc thánh có hành động cơ thể trong sạch lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự trong sạch về hành động cơ thể này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này Bà-la-môn, xưa kia khi Ta chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi còn là Bồ-tát, Ta nghĩ như sau: “Thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định!”

Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào có lời nói không trong sạch… có ý nghĩ không trong sạch… có đời sống không trong sạch mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của đời sống không trong sạch ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có đời sống không trong sạch khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta có đời sống trong sạch. Ta là một trong những bậc thánh có đời sống trong sạch lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự trong sạch về đời sống này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào có lòng tham (tham ái / abhijjhā) và đắm nhiễm (tham ái / rāga) mãnh liệt vào sự dễ chịu giác quan (dục / kāma) mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của lòng thamđắm nhiễm mãnh liệt vào sự dễ chịu giác quan ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có lòng thamđắm nhiễm mãnh liệt vào sự dễ chịu giác quan khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta không có lòng tham. Ta là một trong những bậc thánh không có lòng tham lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự không có lòng tham này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào có tâm ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda) và suy nghĩ độc ác mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của tâm ác ý hãm hại và suy nghĩ độc ác ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không có tâm ác ý hãm hại và suy nghĩ độc ác khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta có tâm từ bi. Ta là một trong những bậc thánh có tâm từ bi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy tâm từ bi này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thīna-middha) mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không bị chi phối bởi uể oải, buồn ngủ khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã thoát khỏi uể oải, buồn ngủ. Ta là một trong những bậc thánh đã thoát khỏi uể oải, buồn ngủ lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự thoát khỏi uể oải, buồn ngủ này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bồn chồn (trạo cử / uddhacca) và có tâm không tĩnh lặng mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của sự bồn chồn và tâm không tĩnh lặng ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không bồn chồn và không có tâm không tĩnh lặng khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta có tâm tĩnh lặng. Ta là một trong những bậc thánh có tâm tĩnh lặng lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy tâm tĩnh lặng này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào do dự và nghi ngờ (nghi / vicikicchā) mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm của sự do dự và nghi ngờ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không do dự và nghi ngờ khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã vượt qua sự nghi ngờ. Ta là một trong những bậc thánh đã vượt qua sự nghi ngờ lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự vượt qua nghi ngờ này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào khen mình chê người mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm khen mình chê người ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không khen mình chê người khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta không khen mình, không chê người. Ta là một trong những bậc thánh không khen mình, không chê người lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự không khen mình, không chê người này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào run rẩy và có bản tính sợ hãi mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm run rẩy và bản tính sợ hãi ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không run rẩy và không có bản tính sợ hãi khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã thoát khỏi sự khiếp sợ. Ta là một trong những bậc thánh đã thoát khỏi sự khiếp sợ lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự thoát khỏi khiếp sợ này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào mong muốn lợi lộc, tôn kính và danh tiếng mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm mong muốn lợi lộc, tôn kính và danh tiếng ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không mong muốn lợi lộc, tôn kính và danh tiếng khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta có ít mong muốn. Ta là một trong những bậc thánh có ít mong muốn lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự ít mong muốn này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào lười biếng và thiếu nỗ lực (tinh tấn / vīriya) mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm lười biếng và thiếu nỗ lực ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không lười biếng và thiếu nỗ lực khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã khơi dậy nỗ lực. Ta là một trong những bậc thánh đã khơi dậy nỗ lực lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự khơi dậy nỗ lực này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào thiếu sự Tự quan sát (chánh niệm / sati) và không biết rõ (tỉnh giác / sampajāna) mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm thiếu sự Tự quan sát và không biết rõ ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không thiếu sự Tự quan sát và không biết rõ khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã thiết lập sự Tự quan sát. Ta là một trong những bậc thánh đã thiết lập sự Tự quan sát lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự thiết lập sự Tự quan sát này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào không có định và tâm tán loạn mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm không có định và tâm tán loạn ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không phải là người không có định và tâm tán loạn khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã thành tựu định. Ta là một trong những bậc thánh đã thành tựu định lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự thành tựu định này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào thiếu trí tuệ và ngu ngốc mà lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu, chính vì lỗi lầm thiếu trí tuệ và ngu ngốc ấy, những sa-môn, bà-la-môn đó chắc chắn sẽ mời gọi các điều không thiện cùng sự sợ hãi và khiếp đảm. Nhưng Ta không thiếu trí tuệ và ngu ngốc khi lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu; Ta đã thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc thánh đã thành tựu trí tuệ lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu.’ Này bà-la-môn, khi thấy sự thành tựu trí tuệ này trong chính mình, Ta càng có thêm sự tự tin để sống trong rừng.

(Kết thúc mười sáu trường hợp).

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào, có khẩu nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có ý nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có mạng sống không thanh tịnh sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có mạng sống không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tham dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham dục, ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta không có tham dục, Ta là một trong những bậc Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có tham dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tâm sân hận ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ý, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một trong những bậc Thánh có từ tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta có từ tâm như vậy, Ta cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy miên chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có hôn trầm thụy miên. Ta là một trong những bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào dao động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm không phải không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có dao động, tâm được an tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh không có dao động, tâm được an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta là một trong những bậc Thánh diệt trừ được nghi hoặc, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khen mình, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen mình, chê người, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có khen mình, chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có khen mình, không có chê người, Ta là một trong những bậc Thánh không có khen mình, không có chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta không có khen mình, không có chê người như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào run rẩy, sợ hãi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hãi, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có run rẩy, sợ hãi, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng ngược, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc dựng ngược, Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta là người ít dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh tấn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta siêng năng, tinh tấn. Ta là một trong những bậc Thánh siêng năng, tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh tấn như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không phải không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là một trong những bậc Thánh an trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh, tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh, tâm không bị tán loạn sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu định tâm như vậy, từ cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này bà-la-môn, Ta đã nghĩ như sau: ‘Vào những đêm được biết đến và ghi nhận—như ngày mười bốn, mười lăm và mùng tám của nửa tháng—Ta sẽ đến trú tại những đền tháp trong công viên, đền tháp trong rừng, đền tháp dưới gốc cây, những nơi đáng sợ và làm dựng tóc gáy, để xem Ta có thể đối mặt với sự sợ hãi và khiếp đảm đó hay không.’ Này bà-la-môn, vào một thời gian sau, trong những đêm được biết đến và ghi nhận—như ngày mười bốn, mười lăm và mùng tám của nửa tháng—Ta đã đến trú tại những đền tháp trong công viên, đền tháp trong rừng, đền tháp dưới gốc cây, những nơi đáng sợ và làm dựng tóc gáy. Trong khi Ta đang trú ở đó, Này bà-la-môn, một con nai đi tới, hoặc một con công làm rơi cành cây, hoặc gió thổi xào xạc qua đám lá rụng; Ta liền nghĩ: ‘Phải chăng sự sợ hãi và khiếp đảm đang đến?’ Rồi Ta lại nghĩ: ‘Tại sao Ta lại cứ phải sống trong sự chờ đợi nỗi sợ hãi? Khi nỗi sợ hãi và khiếp đảm ấy đến với Ta trong tư thế nào, Ta sẽ loại trừ nỗi sợ hãi và khiếp đảm ấy ngay trong tư thế đó.’

Này bà-la-môn, khi Ta đang đi kinh hành, sự sợ hãi và khiếp đảm ấy đến. Ta không đứng lại, không ngồi xuống, không nằm xuống, mà Ta loại trừ sự sợ hãi và khiếp đảm ấy ngay trong khi đang đi kinh hành. Này bà-la-môn, khi Ta đang đứng, sự sợ hãi và khiếp đảm ấy đến. Ta không đi kinh hành, không ngồi xuống, không nằm xuống, mà Ta loại trừ sự sợ hãi và khiếp đảm ấy ngay trong khi đang đứng. Này bà-la-môn, khi Ta đang ngồi, sự sợ hãi và khiếp đảm ấy đến. Ta không nằm xuống, không đứng lên, không đi kinh hành, mà Ta loại trừ sự sợ hãi và khiếp đảm ấy ngay trong khi đang ngồi. Này bà-la-môn, khi Ta đang nằm, sự sợ hãi và khiếp đảm ấy đến. Ta không ngồi dậy, không đứng lên, không đi kinh hành, mà Ta loại trừ sự sợ hãi và khiếp đảm ấy ngay trong khi đang nằm.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãy đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm ấy”. Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong những đêm như vậy, Ta đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược như vậy, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: “Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!”. Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy”.

Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la- môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang đứng. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang ngồi mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không nằm, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang nằm.

Này bà-la-môn, có một số sa-môn, bà-la-môn nhận thức đêm là ngày, nhận thức ngày là đêm. Ta nói rằng những sa-môn, bà-la-môn này đang sống trong sự u mê. Còn Ta, Này bà-la-môn, Ta nhận thức đêm chính là đêm, nhận thức ngày chính là ngày. Nếu có ai nói một cách chân thực rằng: ‘Một chúng sinh không bị u mê đã xuất hiện trên thế gian vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người’, thì người ấy phải nói điều đó về chính Ta.

Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: "Vị hữu tình nào không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ nói như sau: “Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.

Này bà-la-môn, nỗ lực của Ta được khơi dậy không lùi bước, sự Tự quan sát được thiết lập không xao lãng, cơ thể tĩnh lặng không kích động, tâm được định và hợp thành một. Hoàn toàn cách ly khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan, khỏi các điều không thiện, Ta đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái còn ý nghĩ và duy trì ý nghĩ (có tầm có tứ / savitakka savicāra), với hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự cách ly (viễn ly / viveka).

Với sự lắng dịu của ý nghĩ và duy trì ý nghĩ, Ta đạt và an trú Thiền-na thứ hai, một trạng thái tâm tĩnh lặng, tâm hợp thành một, không còn ý nghĩ hay duy trì ý nghĩ (không tầm không tứ / avitakka avicāra), với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định.

Cạn hêt đắm nhiễm với niềm hân hoan (Pītiyā ca virāgā ), Ta an trú trong tâm quân bình (xả / upekkhā), có sự Tự quan sátbiết rõ, cảm nhận hạnh phúc trên cơ thể, Ta đạt và an trú Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh mô tả: ‘Trú trong tâm quân bình, sự Tự quan sáthạnh phúc’.

Với sự từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúctừ bỏ đau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự chấm dứt của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, Ta đạt và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái Không Khó Chịu Không Dễ Chịu, với sự trong sáng của tâm quân bìnhsự Tự quan sát.

Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có loạn, thân được khinh an, không có dao động, tâm được định tĩnh, chuyên nhất.

Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.

Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.

Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm được định như vậy, trong sạch, chói sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động, Ta hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống trước đây. Ta nhớ lại vô số đời sống trước đây, cụ thể là—một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: ‘Tại nơi kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, Ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, Ta sinh ra ở đây.’ Như vậy, Ta nhớ lại vô số đời sống trước đây cùng với các chi tiết và đặc điểm của chúng.

Này bà-la-môn, đây là minh thứ nhất Ta đạt được trong canh đầu của đêm. Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) bị phá vỡ, minh sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu xảy ra cho một người sống không phóng dật, nhiệt tâm và kiên quyết.

Với tâm được định như vậy, trong sạch, chói sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động, Ta hướng tâm đến trí về sự chết và sinh của chúng sinh. Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, Ta thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, Ta hiểu rõ các chúng sinh đi theo nghiệp của mình: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành động cơ thể xấu xa, lời nói xấu xa, ý nghĩ xấu xa, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai lầm và hành động theo quan điểm sai lầm; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này có hành động cơ thể tốt đẹp, lời nói tốt đẹp, ý nghĩ tốt đẹp, không phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm đúng đắn và hành động theo quan điểm đúng đắn; sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi lành, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, Ta thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, Ta hiểu rõ các chúng sinh đi theo nghiệp của mình.

Này bà-la-môn, đây là minh thứ hai Ta đạt được trong canh giữa của đêm. Không Hiểu Biết bị phá vỡ, minh sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu xảy ra cho một người sống không phóng dật, nhiệt tâm và kiên quyết.

Với tâm được định như vậy, trong sạch, chói sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động, Ta hướng tâm đến trí về sự cạn sạch (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava). Ta hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhijānāti) đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) của đau khổ’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’. Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt của các nguồn ác’; Ta hiểu biết trực tiếp đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’.

Khi Ta biết như vậy, thấy như vậy, tâm Ta được giải thoát khỏi nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava). Khi được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Đã được giải thoát’.

Ta hiểu biết trực tiếp: ‘Sinh đã cạn sạch, nếp sống phạm hạnh đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại nào nữa’.

Này bà-la-môn, đây là minh thứ ba Ta đạt được trong canh cuối của đêm. Không Hiểu Biết bị phá vỡ, minh sinh khởi; bóng tối bị phá vỡ, ánh sáng sinh khởi, như điều tất yếu xảy ra cho một người sống không phóng dật, nhiệt tâm và kiên quyết.

Này bà-la-môn, ông có thể nghĩ rằng: ‘Cho đến hôm nay, sa-môn Gotama vẫn chưa thoát khỏi đắm nhiễm, chưa thoát khỏi ám ảnh khó chịu (sân / dosa), chưa thoát khỏi sự u mê (si / moha), do đó ngài vẫn lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu’. Này bà-la-môn, không nên nhìn nhận như vậy. Ta lui tới những chỗ ở hẻo lánh trong rừng sâu vì thấy rõ hai lý do: thấy được sự an trú hạnh phúc cho chính mình ngay trong hiện tại, và vì lòng thương tưởng đối với các thế hệ mai sau."

“Thật vậy, Tôn giả Gotama có lòng thương tưởng đối với các thế hệ mai sau, đúng như một bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày những gì bị che khuất, chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc; cũng vậy, Điều Dạy (pháp / dhamma) đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Điều Dạy và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Xin Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy y.”

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Bảng thuật ngữ:

Thuật ngữ Pali Từ cũ (Hán-Việt) Từ mới (Hiện đại) Ghi chú
akusala bất thiện các điều không thiện
samādhi định định
kāma dục sự dễ chịu giác quan
abhijjhā tham ái lòng tham
rāga tham ái / ái đắm nhiễm
byāpāda sân hận ác ý hãm hại
thīna-middha hôn trầm thụy miên uể oải, buồn ngủ
uddhacca trạo cử bồn chồn
vicikicchā nghi nghi ngờ
vīriya tinh tấn nỗ lực
sati chánh niệm / niệm sự Tự quan sát
sampajāna tỉnh giác biết rõ
vivicca ly cách ly
jhāna thiền Thiền-na
savitakka savicāra có tầm có tứ có ý nghĩ và duy trì ý nghĩ
viveka viễn ly sự rời xa
pīti hỷ hân hoan
sukha lạc hạnh phúc
avitakka avicāra không tầm không tứ không còn ý nghĩ hay duy trì ý nghĩ
virāgā ly tham phai nhạt của đắm nhiễm
upekkhā xả tâm quân bình
pahānā xả loại bỏ
dukkha khổ đau khổ
somanassa hỷ thanh thản
domanassa ưu ưu phiền
avijjā vô minh Không Hiểu Biết
khayā đoạn tận cạn sạch
āsava lậu hoặc nguồn ác
nirodha diệt chấm dứt
kāmāsava dục lậu nguồn ác của ham muốn giác quan
bhavāsava hữu lậu nguồn ác của mong muốn hiện hữu
avijjāsava vô minh lậu nguồn ác của Không Hiểu Biết
abhijānāti thắng tri hiểu biết trực tiếp
dosa sân ám ảnh khó chịu
moha si sự u mê
dhamma pháp Điều Dạy dùng khi chỉ lời dạy của Thế Tôn
[!] bhayabherava sợ hãi khiếp đảm sợ hãi và khiếp đảm trạng thái tâm lý hoảng sợ tột độ
[!] pajānāti tuệ tri hiểu rõ biết một cách thấu đáo, rõ ràng
[!] anussarati túc mạng minh / nhớ lại nhớ lại hồi tưởng lại những ký ức quá khứ
[!] vimuccati giải thoát được giải thoát sự cởi trói, thoát khỏi sự ràng buộc

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.

Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư tưởng như sau: “Nay Sa-môn Gotama chưa diệt trừ tham, chưa diệt trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai.

– Chúng sanh trong tương lai được Tôn giả Gotama thương tưởng, vì Tôn giả là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-