Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 3. KINH NGƯỜI THỪA KẾ GIÁO PHÁP

(Dhammadāyādasutta)

Tôi nghe như vầy, một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, trong rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, hãy là những người thừa kế Điều dạy (thừa tự pháp / dhammadāyādā) của ta, đừng là những người thừa kế vật chất (thừa tự tài vật / āmisadāyādā). Tôi có lòng thương tưởng đến các vị [với suy nghĩ]: ‘Làm thế nào để các đệ tử của ta là người thừa kế Điều dạy, không phải là người thừa kế vật chất?’

Này các tỳ kheo, nếu các vị là những người thừa kế vật chất của ta, không phải là những người thừa kế Điều dạy, vì điều đó các vị sẽ bị chỉ trích rằng: ‘Các đệ tử của Đạo sư sống như những người thừa kế vật chất, không phải người thừa kế Điều dạy’; và vì điều đó tôi cũng sẽ bị chỉ trích rằng: ‘Các đệ tử của Đạo sư sống như những người thừa kế vật chất, không phải người thừa kế Điều dạy’.

Này các tỳ kheo, nếu các vị là những người thừa kế Điều dạy của ta, không phải là những người thừa kế vật chất, vì điều đó các vị sẽ không bị chỉ trích rằng: ‘Các đệ tử của Đạo sư sống như những người thừa kế Điều dạy, không phải người thừa kế vật chất’; và vì điều đó tôi cũng sẽ không bị chỉ trích rằng: ‘Các đệ tử của Đạo sư sống như những người thừa kế Điều dạy, không phải người thừa kế vật chất’.

Vì vậy, này các tỳ kheo, hãy là những người thừa kế Điều dạy của ta, đừng là những người thừa kế vật chất. Tôi có lòng thương tưởng đến các vị [với suy nghĩ]: ‘Làm thế nào để các đệ tử của ta là người thừa kế Điều dạy, không phải là người thừa kế vật chất’.

Giả sử ở đây, này các tỳ kheo, tôi đã ăn xong, đã từ chối ăn thêm, đã no nê, đã hoàn tất, đã thỏa mãn, đã ăn đủ mức; và đồ ăn khất thực của ta vẫn còn dư thừa và phải đem đổ bỏ. Lúc đó, có hai vị tỳ kheo đi đến, bị cơn đói và sự suy nhược hành hạ. Tôi sẽ nói với họ như vầy: ‘Này các tỳ kheo, tôi đã ăn xong, đã từ chối ăn thêm, đã no nê, đã hoàn tất, đã thỏa mãn, đã ăn đủ mức; nhưng đồ ăn khất thực này của ta vẫn còn dư thừa và phải đem đổ bỏ. Nếu các vị muốn, hãy ăn đi. Nếu các vị không ăn, bây giờ tôi sẽ đổ vào nơi có ít cỏ xanh, hoặc sẽ trút vào nước không có sinh vật’.

Ở đó, một vị tỳ kheo nghĩ như vầy: ‘Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối ăn thêm, đã no nê, đã hoàn tất, đã thỏa mãn, đã ăn đủ mức; và đồ ăn khất thực này của Thế Tôn còn dư thừa và phải đem đổ bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Thế Tôn sẽ đổ vào nơi có ít cỏ xanh, hoặc sẽ trút vào nước không có sinh vật. Nhưng Thế Tôn đã từng nói điều này: “Này các tỳ kheo, hãy là những người thừa kế Điều dạy của ta, đừng là những người thừa kế vật chất”. Đồ ăn khất thực này chính là một loại vật chất. Vậy ta không ăn đồ ăn khất thực này, cứ mang theo cơn đói và sự suy nhược này mà trải qua ngày đêm đó’. Vị ấy không ăn đồ ăn khất thực đó, cứ mang theo cơn đói và sự suy nhược đó mà trải qua ngày đêm đó.

Rồi vị tỳ kheo thứ hai nghĩ như vầy: ‘Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối ăn thêm, đã no nê, đã hoàn tất, đã thỏa mãn, đã ăn đủ mức; và đồ ăn khất thực này của Thế Tôn còn dư thừa và phải đem đổ bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Thế Tôn sẽ đổ vào nơi có ít cỏ xanh, hoặc sẽ trút vào nước không có sinh vật. Vậy ta hãy ăn đồ ăn khất thực này, xua tan cơn đói và sự suy nhược, rồi trải qua ngày đêm đó’. Vị ấy ăn đồ ăn khất thực đó, xua tan cơn đói và sự suy nhược, rồi trải qua ngày đêm đó.

Này các tỳ kheo, mặc dù vị tỳ kheo [thứ hai] đó sau khi ăn đồ ăn khất thực, xua tan cơn đói và sự suy nhược mà trải qua ngày đêm đó, nhưng đối với tôi, vị tỳ kheo đầu tiên đáng được tôn trọng hơn và đáng được khen ngợi hơn. Vì lý do gì? Này các tỳ kheo, vì điều đó sẽ dẫn đến sự ít mong muốn (thiểu dục / appicchatā), sự biết đủ (tri túc / santuṭṭhi), sự gột rửa (khổ hạnh / sallekha), sự dễ nuôi dưỡng (dễ nuôi / subharatā), và sự nỗ lực (tinh cần / vīriyārambha) lâu dài cho vị tỳ kheo ấy.

Vì vậy, này các tỳ kheo, hãy là những người thừa kế Điều dạy của ta, đừng là những người thừa kế vật chất. Tôi có lòng thương tưởng đến các vị [với suy nghĩ]: ‘Làm thế nào để các đệ tử của ta là người thừa kế Điều dạy, không phải là người thừa kế vật chất’".

Thế Tôn đã nói như vậy. Nói xong điều này, bậc Thiện thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.

Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn vừa rời đi không lâu, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ kheo: “Này các hiền giả tỳ kheo”.

“Thưa hiền giả”, các tỳ kheo ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

“Này các hiền giả, theo những cách nào (cho đến mức độ nào / kittāvatā) khi Đạo sư sống rời bỏ (an tịnh / pavivittassa viharato), các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ (viễn ly / viveka)? Và theo những cách nào khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ?”

“Thưa hiền giả, dù từ nơi xa, chúng tôi cũng đến đây trước mặt Tôn giả Sāriputta để được biết ý nghĩa của lời nói này. Tốt đẹp thay, mong Tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này; sau khi nghe Tôn giả Sāriputta, các tỳ kheo sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì này các hiền giả, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ thận trọng, tôi sẽ nói.”

“Thưa vâng, hiền giả”, các tỳ kheo ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

"Này các hiền giả, theo những cách nào khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ? Ở đây, này các hiền giả, khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ; và những Điều (pháp / dhamma) nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ (đoạn trừ / pajahati), họ lại không từ bỏ những Điều ấy; họ sống tích lũy (đa truân / bāhulikā), buông lơi (lỏng lẻo / sāthalikā), đi đầu trong sự trượt dốc (đi đầu thối đọa / okkamane pubbaṅgamā), bỏ bê nhiệm vụ về sự rời bỏ (bỏ rơi gánh nặng viễn ly / paviveke nikkhittadhurā). Ở đây, này các hiền giả, do ba nguyên nhân, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị chê trách. ‘Khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ’, do nguyên nhân thứ nhất này, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị chê trách. ‘Và những Điều nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ, họ lại không từ bỏ những Điều ấy’, do nguyên nhân thứ hai này, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị chê trách. ‘Họ sống tích lũy, buông lơi, đi đầu trong sự trượt dốc, bỏ bê nhiệm vụ về sự rời bỏ’, do nguyên nhân thứ ba này, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị chê trách. Này các hiền giả, do ba nguyên nhân này, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị chê trách. Ở đây, này các hiền giả, do ba nguyên nhân, các tỳ kheo trung niên […lặp lại…] các tỳ kheo mới tu đáng bị chê trách. ‘Khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ’, do nguyên nhân thứ nhất này, các tỳ kheo mới tu đáng bị chê trách. ‘Và những Điều nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ, họ lại không từ bỏ những Điều ấy’, do nguyên nhân thứ hai này, các tỳ kheo mới tu đáng bị chê trách. ‘Họ sống tích lũy, buông lơi, đi đầu trong sự trượt dốc, bỏ bê nhiệm vụ về sự rời bỏ’, do nguyên nhân thứ ba này, các tỳ kheo mới tu đáng bị chê trách. Này các hiền giả, do ba nguyên nhân này, các tỳ kheo mới tu đáng bị chê trách. Cho đến mức độ này, này các hiền giả, khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử không rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ.

theo những cách nào, này các hiền giả, khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ? Ở đây, này các hiền giả, khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ, những Điều nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ, họ từ bỏ những Điều ấy; họ không sống tích lũy, không buông lơi, bỏ bê nhiệm vụ trong sự trượt dốc, đi đầu trong sự rời bỏ. Ở đây, này các hiền giả, do ba nguyên nhân, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. ‘Khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ’, do nguyên nhân thứ nhất này, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. ‘Và những Điều nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ, họ từ bỏ những Điều ấy’, do nguyên nhân thứ hai này, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. ‘Họ không sống tích lũy, không buông lơi, bỏ bê nhiệm vụ trong sự trượt dốc, đi đầu trong sự rời bỏ’, do nguyên nhân thứ ba này, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. Này các hiền giả, do ba nguyên nhân này, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. Ở đây, này các hiền giả, do ba nguyên nhân, các tỳ kheo trung niên […lặp lại…] các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. ‘Khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ’, do nguyên nhân thứ nhất này, các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. ‘Và những Điều nào mà Đạo sư bảo hãy từ bỏ, họ từ bỏ những Điều ấy’, do nguyên nhân thứ hai này, các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. ‘Họ không sống tích lũy, không buông lơi, bỏ bê nhiệm vụ trong sự trượt dốc, đi đầu trong sự rời bỏ’, do nguyên nhân thứ ba này, các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. Này các hiền giả, do ba nguyên nhân này, các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. Cho đến mức độ này, này các hiền giả, khi Đạo sư sống rời bỏ, các đệ tử rèn luyện theo sự hoàn toàn rời bỏ.

Ở đây, này các hiền giả, ám ảnh dễ chịu (tham / lobha) là xấu xa và ám ảnh khó chịu (sân / dosa) là xấu xa. Để hoàn toàn từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) ám ảnh dễ chịuhoàn toàn từ bỏ ám ảnh khó chịu, có một con đường ở giữa (trung đạo / majjhimā paṭipadā) tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu (tịch tịnh / upasamā), dẫn đến hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Và này các hiền giả, thế nào là con đường ở giữa tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu toàn bộ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát chánh đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) này, tức là: Nhìn thấy Thiện (Chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy nghĩ Thiện (Chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời nói Thiện (Chánh ngữ / sammāvācā), Hành động Thiện (Chánh nghiệp / sammākammanto), Đời sống Thiện (Chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), Trí nhớ không quên Thiện (Chánh niệm / sammāsati), Định thiện (Chánh định / sammāsamādhi). Này các hiền giả, đây chính là con đường ở giữa tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu toàn bộ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn.

Ở đây, này các hiền giả, phẫn nộ (phẫn / kodho) là xấu xa và thù hằn (hận / upanāho) là xấu xa […lặp lại…] che giấu lỗi (não / makkho) là xấu xa và ganh đua (tật / paḷāso) là xấu xa, đố kỵ (xan / issā) là xấu xa và keo kiệt (lận / macchera) là xấu xa, dối trá (trá / māyā) là xấu xa và lừa lọc (ngụy / sāṭheyya) là xấu xa, cứng đầu (ngoan cố / thambho) là xấu xa và gây gổ (bạo tàn / sārambho) là xấu xa, ngạo mạn (mạn / māno) là xấu xa và quá ngạo mạn (quá mạn / atimāno) là xấu xa, say sưa (kiêu / mado) là xấu xa và sao nhãng (phóng dật / pamādo) là xấu xa. Để hoàn toàn từ bỏ sự say sưahoàn toàn từ bỏ sự sao nhãng, có một con đường ở giữa tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu toàn bộ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Và này các hiền giả, thế nào là con đường ở giữa tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu toàn bộ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn? Đó chính là Tám Bước Thiện này, tức là: Nhìn thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, Hành động Thiện, Đời sống Thiện, Nỗ lực Thiện, Trí nhớ không quên Thiện, Định thiện. Này các hiền giả, đây chính là con đường ở giữa tạo ra nhãn quan, tạo ra hiểu biết, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu toàn bộ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn."

Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Những tỳ kheo ấy vô cùng hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Tôn giả Sāriputta nói.

Kinh Người thừa kế Điều dạy kết thúc, bài thứ ba.

MN 3. KINH THỪA TỰ PHÁP

(Dhammadàyàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, --“Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.

Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”.

Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: “Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy”. Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật”. Ðây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy”. Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy. Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Lúc ấy, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ- kheo!” --“Thưa vâng Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói:

“Này các Hiền giả, như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?” --“Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lý câu nói này từ Tôn giả Sariputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sariputta thuyết giảng nghĩa lý câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sariputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì” --“Chư Hiền, vậy hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng” --“Thưa vâng, Hiền giả”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

– Này chư Hiền, ở đây vị Ðạo Sư sống viễn ly các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.

Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách.

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, … (như trên)…

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.

Và như thế nào, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly.

Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. … (như trên)…

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.

Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta.

-ooOoo-