Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 3. KINH NGƯỜI THỪA KẾ ĐIỀU DẠY

(Dhammadāyādasutta)

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, hãy là người thừa kế Điều Dạy (thừa tự pháp / dhammadāyādā) của Ta, đừng là người thừa kế vật chất (thừa tự tài vật / āmisadāyādā). Ta có lòng thương tưởng đến các vị: ‘Làm sao các đệ tử của Ta là người thừa kế Điều Dạy, không phải là người thừa kế vật chất?’

Này các tỳ kheo, nếu các vị là người thừa kế vật chất của Ta, không phải là người thừa kế Điều Dạy, các vị sẽ bị chỉ trích bởi điều đó: ‘Các đệ tử của Như Lai sống như những người thừa kế vật chất, không phải người thừa kế Điều Dạy’; và Ta cũng sẽ bị chỉ trích bởi điều đó: ‘Các đệ tử của Như Lai sống như những người thừa kế vật chất, không phải người thừa kế Điều Dạy’.

Này các tỳ kheo, nếu các vị là người thừa kế Điều Dạy của Ta, không phải là người thừa kế vật chất, các vị sẽ không bị chỉ trích bởi điều đó: ‘Các đệ tử của Như Lai sống như những người thừa kế Điều Dạy, không phải người thừa kế vật chất’; và Ta cũng không bị chỉ trích bởi điều đó: ‘Các đệ tử của Như Lai sống như những người thừa kế Điều Dạy, không phải người thừa kế vật chất’.

Do đó, này các tỳ kheo, hãy là người thừa kế Điều Dạy của Ta, đừng là người thừa kế vật chất. Ta có lòng thương tưởng đến các vị: ‘Làm sao các đệ tử của Ta là người thừa kế Điều Dạy, không phải là người thừa kế vật chất?’

Này các tỳ kheo, giả sử Ta đã ăn xong, thỏa mãn, no nê, hoàn tất, đầy đủ; và đồ ăn khất thực này của Ta còn dư lại, đáng lẽ phải vứt bỏ. Rồi có hai tỳ kheo đi đến, kiệt sức vì đói lả. Ta sẽ nói với họ như sau: ‘Này các tỳ kheo, Ta đã ăn xong, thỏa mãn, no nê, hoàn tất, đầy đủ; và đồ ăn khất thực này của Ta còn dư lại, đáng lẽ phải vứt bỏ. Nếu các vị muốn, hãy ăn. Nếu các vị không ăn, bây giờ Ta sẽ vứt bỏ nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc đổ xuống nơi nước không có sinh vật nhỏ’.

Rồi một tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Thế Tôn đã ăn xong, thỏa mãn, no nê, hoàn tất, đầy đủ; và đồ ăn khất thực này của Thế Tôn còn dư lại, đáng lẽ phải vứt bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Thế Tôn sẽ vứt bỏ nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc đổ xuống nơi nước không có sinh vật nhỏ. Nhưng Thế Tôn đã nói điều này: “Này các tỳ kheo, hãy là người thừa kế Điều Dạy của Ta, đừng là người thừa kế vật chất”. Đồ ăn khất thực này là một loại vật chất. Vậy ta không ăn đồ ăn khất thực này, và với sự kiệt sức vì đói lả này, ta sẽ trải qua ngày đêm nay’. Vị ấy không ăn đồ ăn khất thực đó, và với sự kiệt sức vì đói lả đó, vị ấy trải qua ngày đêm ấy.

Rồi tỳ kheo thứ hai nghĩ thế này: ‘Thế Tôn đã ăn xong, thỏa mãn, no nê, hoàn tất, đầy đủ; và đồ ăn khất thực này của Thế Tôn còn dư lại, đáng lẽ phải vứt bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Thế Tôn sẽ vứt bỏ nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc đổ xuống nơi nước không có sinh vật nhỏ. Vậy ta hãy ăn đồ ăn khất thực này, xua tan sự kiệt sức vì đói lả, và trải qua ngày đêm nay’. Vị ấy ăn đồ ăn khất thực đó, xua tan sự kiệt sức vì đói lả, và trải qua ngày đêm ấy.

Này các tỳ kheo, mặc dù tỳ kheo thứ hai ăn đồ ăn khất thực đó, xua tan sự kiệt sức vì đói lả, và trải qua ngày đêm ấy, nhưng đối với Ta, tỳ kheo thứ nhất đáng được tôn kính hơn và đáng được khen ngợi hơn. Vì sao vậy? Này các tỳ kheo, vì điều đó sẽ dẫn đến sự ít mong muốn (thiểu dục / appicchatā), biết đủ (tri túc / santuṭṭhī), gột rửa (khổ hạnh / sallekha), dễ nuôi dưỡng, và khởi lên nỗ lực (tinh cần / vīriyārambha) lâu dài cho tỳ kheo ấy.

Do đó, này các tỳ kheo, hãy là người thừa kế Điều Dạy của Ta, đừng là người thừa kế vật chất. Ta có lòng thương tưởng đến các vị: ‘Làm sao các đệ tử của Ta là người thừa kế Điều Dạy, không phải là người thừa kế vật chất?’"

3. KINH THỪA TỰ PHÁP

3. KINH THỪA TỰ PHÁP (Dhammadàyàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, --“Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.

Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”.

Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: “Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy”. Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật”. Ðây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy”. Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy. Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.

Thế Tôn nói điều này. Nói xong điều này, Bậc Thiện Thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.

Khi Thế Tôn vừa rời đi không lâu, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ kheo: “Này các hiền giả tỳ kheo”.

“Thưa vâng, hiền giả”, các tỳ kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

“Này các hiền giả, cho đến mức độ nào, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly (viễn ly / pavivitta), các đệ tử không học theo sự cách ly (viễn ly / viveka)? đó. Và cho đến mức độ nào, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly? đó”

“Này hiền giả, chúng tôi từ xa đến gặp Tôn giả Sāriputta để biết ý nghĩa của lời nói này. Thật tốt đẹp thay nếu Tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này; sau khi nghe Tôn giả Sāriputta, các tỳ kheo sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì này các hiền giả, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ lưỡng, tôi sẽ nói.”

“Thưa vâng, hiền giả”, các tỳ kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

"Này các hiền giả, cho đến mức độ nào, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử không học theo sự cách ly? Ở đây, này các hiền giả, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử không học theo sự cách ly; những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ (xả / pahāna), họ không loại bỏ những điều ấy; họ sống buông thả (phóng dật / bāhulikā), lỏng lẻo (lười biếng / sāthalikā), đi đầu trong sự sa sút (đọa lạc / okkamane pubbaṅgamā), bỏ thực hành sự rời xa (bỏ rơi viễn ly / paviveke nikkhittadhurā). Ở đây, này các hiền giả, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị khiển trách ở ba điểm. ‘Khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử không học theo sự cách ly’—đây là điểm thứ nhất các tỳ kheo trưởng lão đáng bị khiển trách. ‘Những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ, họ không loại bỏ những điều ấy’—đây là điểm thứ hai các tỳ kheo trưởng lão đáng bị khiển trách. ‘Họ sống buông thả, lỏng lẻo, đi đầu trong sự sa sút, bỏ thực hành sự rời xa’—đây là điểm thứ ba các tỳ kheo trưởng lão đáng bị khiển trách. Này các hiền giả, các tỳ kheo trưởng lão đáng bị khiển trách ở ba điểm này. Ở đây, này các hiền giả, các tỳ kheo trung niên … các tỳ kheo mới tu đáng bị khiển trách ở ba điểm. ‘Khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử không học theo sự cách ly’—đây là điểm thứ nhất các tỳ kheo mới tu đáng bị khiển trách. ‘Những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ, họ không loại bỏ những điều ấy’—đây là điểm thứ hai các tỳ kheo mới tu đáng bị khiển trách. ‘Họ sống buông thả, lỏng lẻo, đi đầu trong sự sa sút, bỏ thực hành sự rời xa’—đây là điểm thứ ba các tỳ kheo mới tu đáng bị khiển trách. Này các hiền giả, các tỳ kheo mới tu đáng bị khiển trách ở ba điểm này. Cho đến mức độ này, này các hiền giả, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử không học theo sự cách ly.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Lúc ấy, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ- kheo!” --“Thưa vâng Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói:

“Này các Hiền giả, như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?” --“Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lý câu nói này từ Tôn giả Sariputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sariputta thuyết giảng nghĩa lý câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sariputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì” --“Chư Hiền, vậy hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng” --“Thưa vâng, Hiền giả”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

– Này chư Hiền, ở đây vị Ðạo Sư sống viễn ly các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.

Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách.

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, … (như trên)…

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.

Và như thế nào, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly.

Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. … (như trên)…

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Và cho đến mức độ nào, này các hiền giả, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly? Ở đây, này các hiền giả, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly—những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ, họ loại bỏ những điều ấy; họ không sống buông thả, không lỏng lẻo, xóa bỏ gánh nặng sa sút, đi đầu thực hành sự rời xa. Ở đây, này các hiền giả, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi ở ba điểm. ‘Khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly’—đây là điểm thứ nhất các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. ‘Những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ, họ loại bỏ những điều ấy’—đây là điểm thứ hai các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. ‘Họ không sống buông thả, không lỏng lẻo, xóa bỏ gánh nặng sa sút, đi đầu thực hành sự rời xa’—đây là điểm thứ ba các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi. Này các hiền giả, các tỳ kheo trưởng lão đáng được khen ngợi ở ba điểm này. Ở đây, này các hiền giả, các tỳ kheo trung niên … các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi ở ba điểm. ‘Khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly’—đây là điểm thứ nhất các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. ‘Những điều gì Bậc Đạo Sư bảo loại bỏ, họ loại bỏ những điều ấy’—đây là điểm thứ hai các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. ‘Họ không sống buông thả, không lỏng lẻo, xóa bỏ gánh nặng sa sút, đi đầu thực hành sự rời xa’—đây là điểm thứ ba các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi. Này các hiền giả, các tỳ kheo mới tu đáng được khen ngợi ở ba điểm này. Cho đến mức độ này, này các hiền giả, khi Bậc Đạo Sư sống thực trong cách ly, các đệ tử học theo sự cách ly.

Ở đây, này các hiền giả, Ám ảnh dễ chịu (tham / lobha) là xấu xa và Ám ảnh khó chịu (sân / dosa) là xấu xa. Để loại bỏ Ám ảnh dễ chịuloại bỏ Ám ảnh khó chịu, có một Con đường ở giữa (trung đạo / majjhimā paṭipadā) mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), giác ngộ, và Niết-bàn. Và này các hiền giả, Con đường ở giữa mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn đó là gì? Chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) này, cụ thể là: Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ / sammāvācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp / sammākammanto), Đời Sống Thiện (Chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), Tự Quan Sát Thiện (Chánh niệm / sammāsati), Định thiện (Chánh định / sammāsamādhi). Đây là Con đường ở giữa, này các hiền giả, mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn.

Ở đây, này các hiền giả, tức giận (phẫn / kodha) là xấu xa và thù hằn (hận / upanāha) là xấu xa … xấu tính (não / makkha) là xấu xa và hống hách (tật / paḷāsa) là xấu xa, đố kỵ (đố / issā) là xấu xa và keo kiệt (xan / macchera) là xấu xa, dối trá (cuống / māyā) là xấu xa và đạo đức giả (xiểm / sāṭheyya) là xấu xa, cố chấp (cứng đầu / thambha) là xấu xa và hơn thua (tranh đua / sārambha) là xấu xa, Ngạo mạn (mạn / māna) là xấu xa và vô cùng ngạo mạn (quá mạn / atimāna) là xấu xa, tự phụ (kiêu / mada) là xấu xa và cẩu thả (phóng dật / pamāda) là xấu xa. Để loại bỏ tự phụ và loại bỏ cẩu thả, có một Con đường ở giữa mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn. Và này các hiền giả, Con đường ở giữa mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn đó là gì? Chính là Tám Bước Thiện này, cụ thể là: Nhìn Thấy Thiện, Suy Nghĩ Thiện, Lời Nói Thiện, Hành Động Thiện, Đời Sống Thiện, Nỗ lực Thiện, Tự Quan Sát Thiện, Định thiện. Đây là Con đường ở giữa, này các hiền giả, mang lại tầm nhìn, mang lại sự hiểu biết, dẫn đến sự bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn."

Tôn giả Sāriputta nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng và vui mừng đón nhận lời nói của Tôn giả Sāriputta.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.

Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta.

-ooOoo-

Bảng thuật ngữ:

Thuật ngữ Pali Từ cũ (Hán-Việt) Từ mới (Hiện đại) Ghi chú
bhikkhu tỳ kheo tỳ kheo
dhamma pháp Điều Dạy Lời dạy của Bậc Đạo Sư
[!] dhammadāyāda pháp tự người thừa kế Điều Dạy Kế thừa những giá trị tinh thần, chân lý
[!] āmisadāyāda tài tự người thừa kế vật chất Kế thừa những thứ thuộc về vật chất, thế gian
[!] appicchatā thiểu dục ít mong muốn Trạng thái không đòi hỏi nhiều
[!] santuṭṭhī tri túc biết đủ Hài lòng với những gì đang có
[!] sallekha khổ hạnh gột rửa Sự bào mòn, tẩy sạch những thói hư tật xấu
[!] subharatā dễ nuôi dễ nuôi dưỡng Không kén chọn, đòi hỏi trong đời sống
[!] vīriyārambha tinh cần khởi lên nỗ lực Bắt đầu và duy trì sự cố gắng
[!] pavivitta viễn ly thực trong cách ly Thực sự sống tách rời khỏi sự ồn ào, đám đông
[!] viveka viễn ly sự tĩnh lặng Từ chỉ trạng thái yên tĩnh
pahāna xả loại bỏ
[!] bāhulikā phóng dật sống buông thả Chạy theo nhiều sự vụ, không thu thúc
[!] sāthalikā lười biếng lỏng lẻo Thiếu sự nghiêm túc, chểnh mảng
[!] okkamane pubbaṅgamā dẫu đầu về đọa lạc đi đầu trong sự sa sút Dẫn đầu trong việc đi lùi, thoái chí
[!] paviveke nikkhittadhurā bỏ rơi viễn ly bỏ thực hành sự rời xa Buông bỏ gánh nặng thực hành sự tĩnh lặng
lobha tham Ám ảnh dễ chịu
dosa sân Ám ảnh khó chịu
[!] majjhimā paṭipadā trung đạo Con đường ở giữa Con đường tránh xa hai cực đoan
abhiññā thắng tri hiểu biết trực tiếp
ariyo aṭṭhaṅgiko maggo Bát Thánh Đạo Tám Bước Thiện
sammādiṭṭhi Chánh kiến Nhìn Thấy Thiện
sammāsaṅkappo Chánh tư duy Suy Nghĩ Thiện
sammāvācā Chánh ngữ Lời Nói Thiện
sammākammanto Chánh nghiệp Hành Động Thiện
sammāājīvo Chánh mạng Đời Sống Thiện
sammāvāyāmo Chánh tinh tấn Nỗ lực Thiện
sammāsati Chánh niệm Tự Quan Sát Thiện
sammāsamādhi Chánh định Định thiện
māna mạn Ngạo mạn
abhinandunti hỷ lạc vui mừng đón nhận