“Này các tỳ kheo, các ông có thấy: ‘Đây là sự hiện hữu (đã sinh / bhūta)’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có thấy: ‘Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng (thức ăn / āhāra)’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có thấy: ‘Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn (diệt / nirodha), cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng (pháp diệt / nirodhadhamma)’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, Nghi ngờ (nghi / vicikicchā) có phát sinh khi do dự: ‘Đây có phải là sự hiện hữu hay không?’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Nghi ngờ có phát sinh khi do dự: ‘Nó có phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng hay không?’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Nghi ngờ có phát sinh khi do dự: ‘Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có có bản chất bị chặn đứng hay không?’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính (như thật với chánh tuệ / yathābhūtaṁ sammappaññāya): ‘Đây là sự hiện hữu’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: ‘Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: ‘Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: ‘Đây là sự hiện hữu’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: ‘Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: ‘Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: ‘Đây là sự hiện hữu’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: ‘Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: ‘Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng’ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, nếu các ông bám víu, trân trọng, cất giữ, xem như của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu Điều dạy ta giảng giống như chiếc bè, dùng để thoát khỏi (xuất ly / nittharaṇa) chứ không phải để nắm giữ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, nếu các ông KHÔNG bám víu, không trân trọng, không cất giữ, không xem như của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu Điều dạy ta giảng giống như chiếc bè, dùng để thoát khỏi chứ không phải để nắm giữ không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
"Này các tỳ kheo, có bốn nguồn nuôi dưỡng để duy trì các chúng sinh đã sinh hoặc hỗ trợ các chúng sinh đang tìm chỗ sinh. Bốn là gì? Một là thức ăn vật lý (đoàn thực / kabaḷīkāro āhāro) thô hay tế; hai là Xúc (xúc / phassa); ba là ý chí (tư niệm thực / manosañcetanā); bốn là sự Nhận biết.
"Này các tỳ kheo, bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành (sinh / samudaya), lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy sự Khát khao (tham ái / taṇhā) làm gốc, lấy sự Khát khao làm sự hình thành, lấy sự Khát khao làm nơi sinh ra, lấy sự Khát khao làm nguồn gốc.
"Và sự Khát khao này lấy gì làm gốc…? sự Khát khao lấy Cảm Giác (thọ / vedanā) làm gốc…
"Và Cảm Giác này lấy gì làm gốc…? Cảm Giác lấy Xúc làm gốc…
"Và Xúc này lấy gì làm gốc…? Xúc lấy sáu Xứ (lục nhập / saḷāyatana) làm gốc…
"Và sáu Xứ này lấy gì làm gốc…? sáu Xứ lấy Tâm-Vật (danh-sắc / nāmarūpa) làm gốc…
"Và Tâm-Vật này lấy gì làm gốc…? Tâm-Vật lấy sự Nhận biết làm gốc…
"Và sự Nhận biết này lấy gì làm gốc…? sự Nhận biết lấy Hoạt động (hành / saṅkhārā) làm gốc…
"Và Hoạt động này lấy gì làm gốc…? Hoạt động lấy Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) làm gốc…
"Như vậy, này các tỳ kheo, phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh; phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh; phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh; phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh; phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh; phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh; phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ (chấp thủ / upādāna) phát sinh; phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống (hữu / bhava) phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh (sinh / jāti) phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết (lão-tử / jarāmaraṇa), sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (ưu / domanassa), tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
“‘Phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh.”
“‘Phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh.”
"‘Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh…”
"‘Phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh’…
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh…”
“‘Phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh.”
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Như vậy, các ông nói thế này, và ta cũng nói thế này: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Tức là: phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh; phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh; phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh; phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh; phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh; phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh; phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh; phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nhưng do chặn sạch hết đắm nhiễm (ly tham đoạn diệt không có dư tàn / asesavirāganirodhā) đối với Không Hiểu Biết, Hoạt động bị chặn (diệt / nirodha); do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn; do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn; do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn; do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn; do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn; do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt (diệt / nirujjhati). Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
“‘Do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn; chúng con hiểu ở đây là: do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn.”
"‘Do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn…”
"‘Do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn…”
"‘Do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn…”
"‘Do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn…”
"‘Do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn…”
"‘Do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn…”
"‘Do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn…”
"‘Do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn…”
"‘Do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn’…
“Bạch Thế Tôn, do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn…”
“‘Do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn’, điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn; chúng con hiểu ở đây là: do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn.”
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Như vậy, các ông nói thế này, và ta cũng nói thế này: Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này bị chặn, cái kia chấm dứt. Tức là: do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn; do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn; do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn; do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn; do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn; do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn; do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
“Này các tỳ kheo, biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy theo quá khứ: ‘Ta có mặt trong quá khứ không? Ta không có mặt trong quá khứ sao? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Từ cái gì, ta đã trở thành cái gì trong quá khứ?’ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy theo tương lai: ‘Ta sẽ có mặt trong tương lai không? Ta sẽ không có mặt trong tương lai sao? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Từ cái gì, ta sẽ trở thành cái gì trong tương lai?’ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có Nghi ngờ về hiện tại ở ngay bên trong mình: ‘Ta có mặt không? Ta không có mặt sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến, và sẽ đi về đâu?’ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói: ‘Bậc Đạo Sư là tôn kính của chúng ta, vì tôn kính Bậc Đạo Sư nên chúng ta nói như vậy’ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói: ‘Sa môn nói như vậy, và vì là sa môn nên chúng ta nói như vậy’ không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có tôn xưng một vị đạo sư khác không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay lại với các nghi lễ, sự kiêng kỵ, và những điều mê tín của các sa môn, bà la môn khác, xem đó là cốt lõi không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Này các tỳ kheo, chỉ những gì các ông tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu, các ông mới nói điều đó, phải không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Các ông đã được ta dẫn dắt bởi Điều dạy này, một Điều dạy có thể thấy ngay trong hiện tại (thiết thực hiện tại / sandiṭṭhika), không phụ thuộc thời gian (vượt thời gian / akālika), đến để tự thấy (đến để mà thấy / ehipassika), dẫn dắt vào trong (hướng thượng / opaneyyika), được người trí tự mình hiểu rõ (người trí tự mình giác hiểu / paccattaṁ veditabbo viññūhi). Điều dạy này có thể thấy ngay trong hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để tự thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình hiểu rõ—điều này đã được nói dựa trên cơ sở đó.
"Này các tỳ kheo, sự hình thành bào thai (nhập thai / gabbhassāvakkanti) xảy ra do sự hội tụ của ba yếu tố. Ở đây, cha mẹ có giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ thụ thai, và chúng sinh chuẩn bị tái sinh (hương ấm / gandhabba) không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Ở đây, cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, nhưng chúng sinh chuẩn bị tái sinh không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Nhưng khi cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, và chúng sinh chuẩn bị tái sinh hiện diện—do sự hội tụ của ba yếu tố này, bào thai hình thành.
"Này các tỳ kheo, người mẹ mang thai trong bụng chín hoặc mười tháng, chịu đựng gánh nặng lớn lao với nhiều âu lo. Sau chín hoặc mười tháng, người mẹ sinh con ra, chịu đựng gánh nặng lớn lao với nhiều âu lo. Khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các tỳ kheo, trong kỷ luật của bậc thánh, sữa mẹ được gọi là máu.
"Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó chơi những trò chơi của trẻ con, như chơi xe đất, chơi cù, chơi nhào lộn, chơi chong chóng, chơi đong lá, chơi xe nhỏ, chơi cung nhỏ.
"Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó tận hưởng năm sợi dây trói buộc của dễ chịu giác quan (ngũ dục / kāmaguṇa): hình ảnh nhận biết bởi mắt, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, kích thích sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), đầy cám dỗ; âm thanh nhận biết bởi tai… mùi nhận biết bởi mũi… vị nhận biết bởi lưỡi… xúc chạm nhận biết bởi cơ thể, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, kích thích sự dễ chịu giác quan, đầy cám dỗ.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, nó say đắm hình ảnh dễ chịu, ghét bỏ hình ảnh không dễ chịu. Nó sống không có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) về cơ thể, với tâm hạn hẹp. Nó không hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) chấm dứt không còn dư tàn.
"Bị vướng vào sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào nó cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu (thọ lạc / sukha), Cảm Giác Khó Chịu (thọ khổ / dukkha), hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukha)—nó đều vui thú chạy theo (dục hỷ / abhinandati), chào đón, và bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do nó vui thú chạy theo, chào đón và bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích (hỷ / nandī) phát sinh. sự vui thích đối với các Cảm Giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nghe một âm thanh bằng tai…
"Ngửi một mùi bằng mũi…
"Nếm một vị bằng lưỡi…
"Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể…
"Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, nó say đắm Điều dễ chịu, ghét bỏ Điều không dễ chịu. Nó sống không có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm hạn hẹp. Nó không hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Bị vướng vào sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào nó cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—nó đều vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do nó vui thú chạy theo, chào đón và bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích phát sinh. sự vui thích đối với các Cảm Giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Này các tỳ kheo, ở đây Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ và tuyên thuyết cho thế giới này, bao gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và loài người. Ngài thuyết giảng Điều dạy toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài phơi bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.
"Một gia chủ, hay con của một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Điều dạy ấy. Sau khi nghe Điều dạy, người ấy khởi lên niềm tin nơi Như Lai. Có được niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia rộng mở như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, sáng bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.’ Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ quyến thuộc ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.
"Đã xuất gia như vậy, sống trong sự rèn luyện và sinh kế của các tỳ kheo, vị ấy từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ đao kiếm, biết xấu hổ, có lòng từ bi, sống thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh.
"Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh tịnh, không trộm cắp.
"Vị ấy từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống cách biệt, tránh xa việc giao cấu là thói tục của dân làng.
"Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian.
"Vị ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ—nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Vị ấy hàn gắn những người chia rẽ, khuyến khích những người hòa hợp, vui thích sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
"Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác—vị ấy nói những lời nhu hòa, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm vui lòng nhiều người.
"Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật, nói những lời đáng ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
"Vị ấy tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cỏ; ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ. Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn; tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, đồ trang sức để làm đẹp; tránh xa việc nằm giường cao, giường lớn; tránh xa việc nhận vàng bạc; tránh xa việc nhận hạt giống sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ; tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ; tránh xa việc nhận dê cừu; tránh xa việc nhận gà lợn; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất; tránh xa việc làm môi giới hay chạy việc vặt; tránh xa việc mua bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền giả, thước đo; tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo; tránh xa việc đả thương, giết chóc, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt, bạo lực.
"Vị ấy bằng lòng với y áo để che thân, thức ăn để no bụng. Đi đến đâu, vị ấy mang theo tất cả những thứ ấy. Giống như con chim có cánh, bay đến đâu cũng mang theo đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để che thân, thức ăn để no bụng, đi đến đâu cũng mang theo tất cả. Thành tựu khối đạo đức (giới uẩn / sīlakkhandha) cao quý này, vị ấy cảm nhận hạnh phúc không tì vết bên trong.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền—những những điều không thiện—sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, thực hành bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / indriyasaṁvara) đối với giác quan mắt.
"Nghe một âm thanh bằng tai…
"Ngửi một mùi bằng mũi…
"Nếm một vị bằng lưỡi…
"Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể…
"Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu để giác quan Suy Nghĩ không được bảo vệ, lòng tham và ưu phiền—những những điều không thiện—sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan Suy Nghĩ, thực hành bảo vệ các giác quan đối với giác quan Suy Nghĩ. Thành tựu sự bảo vệ các giác quan cao quý này, vị ấy cảm nhận hạnh phúc không bị vấy bẩn bên trong.
"Vị ấy hành động với sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno) khi đi tới đi lui; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi chân; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi mang y tăng già lê, bình bát và y áo; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.
"Thành tựu khối đạo đức cao quý này, thành tựu sự bằng lòng cao quý này, thành tựu sự bảo vệ các giác quan cao quý này, thành tựu sự Tự Quan Sát và sự nhận biết rõ ràng cao quý này, vị ấy tìm đến một nơi thanh vắng—rừng núi, gốc cây, sườn đồi, hang đá, nghĩa địa, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm.
"Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, vị ấy ngồi kiết già, giữ lưng thẳng, thiết lập sự Tự Quan Sát trước mặt. Vị ấy loại bỏ lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham; loại bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), sống với tâm không ác ý hãm hại, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại; loại bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thīnamiddha), sống thoát khỏi uể oải, buồn ngủ, nhận biết ánh sáng, có sự Tự Quan Sát và sự nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi uể oải, buồn ngủ; loại bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), sống không bồn chồn, tâm lắng dịu (diệt / vūpasama) bên trong, gột rửa tâm khỏi bồn chồn, hối hận; loại bỏ Nghi ngờ, sống vượt qua Nghi ngờ, không còn do dự về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi Nghi ngờ.
"Sau khi loại bỏ năm sự làm Mờ Yếu (triền cái / nīvaraṇa) này—những thứ làm suy yếu trí tuệ—vị ấy hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan, rời bỏ những điều không thiện, đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / vitakkavicāra), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Lại nữa, này các tỳ kheo, do lắng dịu chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, vị ấy đạt sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakka avicāra), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, đạt và an trú Thiền-na thứ hai… Thiền-na thứ ba… Thiền-na thứ tư.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, vị ấy không say đắm hình ảnh dễ chịu, không ghét bỏ hình ảnh không dễ chịu. Vị ấy sống có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm vô lượng. Vị ấy hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Đã từ bỏ sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào vị ấy cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—vị ấy KHÔNG vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do vị ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích đối với các Cảm Giác chấm dứt. Do sự vui thích bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nghe một âm thanh bằng tai…
"Ngửi một mùi bằng mũi…
"Nếm một vị bằng lưỡi…
"Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể…
"Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, vị ấy không say đắm Điều dễ chịu, không ghét bỏ Điều không dễ chịu. Vị ấy sống có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm vô lượng. Vị ấy hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Đã từ bỏ sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào vị ấy cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—vị ấy KHÔNG vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do vị ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích đối với các Cảm Giác chấm dứt. Do sự vui thích bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
“Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ sự giải thoát nhờ cạn sạch (đoạn tận / khayā) sự Khát khao tóm tắt này của ta; còn tỳ kheo Sāti thì bị mắc kẹt trong mạng lưới khổng lồ của sự Khát khao.”
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.