DN 15. KINH ĐẠI DUYÊN (Tóm tắt)
1. Sự hình thành qua quan hệ cùng sinh (Paṭiccasamuppāda)
Một thời Thế Tôn ở tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru. Tôn giả Ānanda đến đảnh lễ và thưa rằng sự hình thành qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda) tuy sâu sắc nhưng đối với mình lại có vẻ rất rõ ràng và dễ hiểu. Thế Tôn liền quở trách, nhấn mạnh rằng chính vì không thấu hiểu Điều (pháp / dhamma) này mà chúng sinh bị mắc kẹt trong vòng luân hồi, rối rắm như cuộn chỉ, không thể vượt qua cõi khổ.
Thế Tôn giải thích chuỗi nguyên nhân hình thành đau khổ như sau: Với sự Tái sinh (sinh / jāti) là điều kiện (duyên / paccaya), có già-chết (lão tử / jarāmaraṇa). Với Mầm sinh (hữu / bhava) là điều kiện, có sự Tái sinh. Với sự bám giữ (chấp thủ / upādāna) là điều kiện, có Mầm sinh. Với sự thèm khát (tham ái / taṇhā) là điều kiện, có sự bám giữ. Với cảm giác (thọ / vedanā) là điều kiện, có sự thèm khát. Với Xúc (xúc / phassa) là điều kiện, có cảm giác. Với Danh-sắc (danh sắc / nāmarūpa) là điều kiện, có Xúc. Với sự Nhận biết đi tái sinh (thức / viññāṇa) là điều kiện, có Danh-sắc. Và ngược lại, với Danh-sắc là điều kiện, có sự Nhận biết đi tái sinh.
Tóm lại, toàn bộ khối đau khổ (khổ / dukkha) bao gồm già-chết, sầu, bi, ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng đều có sự hình thành (tập / samudaya) từ chuỗi liên kết này.
Ngược lại, nếu một yếu tố bị chặn (diệt / nirodha), yếu tố tiếp theo sẽ không thể xuất hiện. Cụ thể:
- Nếu không có sự Tái sinh, già-chết không thể tồn tại.
- Nếu không có Mầm sinh (thuộc sự dễ chịu giác quan, vật chất hoặc phi vật chất), sự Tái sinh không thể tồn tại.
- Nếu không có sự bám giữ (vào sự dễ chịu giác quan, quan điểm sai, mê tín giáo điều, hoặc thuyết về ngã), Mầm sinh không thể tồn tại.
- Nếu không có sự thèm khát (đối với hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, mọi Điều), sự bám giữ không thể tồn tại.
- Nếu không có cảm giác (từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, giác quan Suy Nghĩ), sự thèm khát không thể tồn tại.
Thế Tôn cũng chỉ ra một chuỗi hệ lụy xã hội phát sinh từ cảm giác: Phụ thuộc (duyên / paṭicca) vào cảm giác sinh ra sự thèm khát; từ đó dẫn đến sự tìm kiếm (tìm cầu / pariyesanā) -> sự đạt được (lợi đắc / lābha) -> sự đánh giá (quyết định / vinicchaya) -> nhiễm vào sự ước mong (dục tham / chandarāga) -> sự dính mắc (tham trước / ajjhosāna) -> sự chiếm hữu (chấp thủ / pariggaha) -> sự keo kiệt (xan tham / macchariya) -> sự bảo vệ (thủ hộ / ārakkha). Chính từ sự bảo vệ này mà nảy sinh những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) như cầm vũ khí, cãi vã, đâm thọc và nói dối. Nếu các yếu tố trước bị chặn đứng, các ác pháp này sẽ không phát sinh.
Về mối quan hệ cốt lõi: Xúc chỉ xảy ra khi có Danh-sắc. Nếu không có các đặc điểm để sự định danh (thi thiết / paññatti) nhóm Danh và nhóm Sắc, thì Xúc qua tên gọi (danh tự xúc / adhivacanasamphassa) và Xúc qua va chạm (đối ngại xúc / paṭighasamphassa) đều không tồn tại. Tương tự, Danh-sắc và sự Nhận biết đi tái sinh nương tựa vào nhau. Nếu sự Nhận biết đi tái sinh không đi vào bụng mẹ, hoặc rời đi, hoặc bị cắt đứt, Danh-sắc không thể phát triển. Ngược lại, nếu sự Nhận biết đi tái sinh không có chỗ đứng trong Danh-sắc, đau khổ không thể sinh ra. Đây chính là giới hạn của ngôn ngữ, khái niệm và vòng luân hồi.
2. Sự tuyên bố về tự ngã (Attapaññatti)
Có bốn cách con người thường tự tuyên bố về tự ngã (ngã / attā): (1) có hình thể và hữu hạn, (2) có hình thể và vô hạn, (3) không có hình thể và hữu hạn, (4) không có hình thể và vô hạn. Dù họ tuyên bố điều này trong hiện tại, tương lai hay tự huyễn hoặc bản thân, thì một quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi) về tự ngã vẫn đang ngủ ngầm trong họ.
3. Không tuyên bố về tự ngã (Naattapaññatti)
Ngược lại, khi một người không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào trong bốn cách trên (dù ở hiện tại, tương lai hay trong suy nghĩ), thì quan điểm sai về tự ngã không còn ngủ ngầm trong người ấy.
4. Quan sát về tự ngã (Attasamanupassanā)
Khi quan sát (quán / samanupassati) về tự ngã, người ta thường rơi vào ba nhận định sai lầm:
- Cho rằng 'cảm giác là tự ngã': Điều này vô lý vì có ba loại cảm giác (cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu Không khó chịu), chúng không xuất hiện cùng lúc. Hơn nữa, mọi cảm giác đều không bền vững, do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), luôn tàn hoại và biến mất. Nếu cảm giác là tự ngã, thì khi cảm giác biến mất, tự ngã cũng biến mất.
- Cho rằng 'tự ngã vô cảm': Nếu hoàn toàn không có sự cảm nhận nào, thì không thể nảy sinh ý nghĩ "Đây là tôi".
- Cho rằng 'tự ngã có bản chất là cảm giác': Nếu mọi cảm giác bị chấm dứt hoàn toàn, ý niệm "Đây là tôi" cũng không thể tồn tại.
Khi một tỳ kheo không bám víu vào bất kỳ nhận định nào ở trên, vị ấy không bám giữ (chấp thủ / upādiyati) bất cứ điều gì ở đời, không lo âu và đạt đến tịch diệt. Vị ấy biết rõ sự Tái sinh đã cạn sạch (đoạn tận / khayā). Đối với vị tỳ kheo đã giải thoát, mọi tranh luận về việc Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) "tồn tại", "không tồn tại", "cả hai" hay "không phải cả hai" sau khi chết đều là sai lệch, vì vị ấy đã vượt ra khỏi mọi giới hạn của ngôn từ và khái niệm.
5. Nơi trú của sự Nhận biết (Sattaviññāṇaṭṭhiti)
Thế Tôn chỉ ra bảy nơi trú ngụ của sự Nhận biết (thức trú / viññāṇaṭṭhiti) và hai xứ (xứ / āyatana) của chúng sinh:
- Thân khác nhau, nhận thức khác nhau (người, chư thiên, chúng sinh cõi khổ).
- Thân khác nhau, nhận thức giống nhau (Phạm chúng thiên mới sinh).
- Thân giống nhau, nhận thức khác nhau (chư thiên cõi Quang Âm).
- Thân giống nhau, nhận thức giống nhau (chư thiên cõi Biến Tịnh).
- Cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana).
- Cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana).
- Cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana).
Hai xứ gồm: Xứ của chúng sinh không có nhận thức (vô tưởng hữu tình / asaññasatta) và cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).
Một người thấu hiểu rõ sự hình thành, sự tan biến (diệt / atthaṅgama), sự hấp dẫn, sự nguy hiểm và cách thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) các trạng thái này sẽ không bao giờ vui thú chạy theo (dục hỷ / abhinandati) chúng. Tỳ kheo thấu hiểu điều này được gọi là người giải thoát bằng trí tuệ.
6. Tám sự giải thoát (Aṭṭhavimokkha)
Cuối cùng, Thế Tôn giảng về tám sự giải thoát (giải thoát / vimokkha):
- Có hình thể và thấy các hình thể.
- Không nhận thức hình thể bên trong, nhưng thấy hình thể bên ngoài.
- Hướng chú ý vào cái đẹp.
- An trú trong cõi Không Gian là Vô Tận.
- An trú trong cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận.
- An trú trong cõi Không Có Vật Gì.
- An trú trong cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức".
- Đạt đến trạng thái làm ngưng nhận thức và cảm giác (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha).
Khi một tỳ kheo có thể tự do ra vào tám trạng thái này theo ý muốn, đồng thời cạn sạch các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), vị ấy đạt được sự giải thoát cả hai phần (tâm và trí tuệ) ngay trong hiện tại. Đây là sự giải thoát cao thượng nhất.
Tôn giả Ānanda vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandi) lời dạy của Thế Tôn.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| paṭiccasamuppāda | duyên khởi | sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc | |
| paccaya | duyên | Điều kiện | |
| jarāmaraṇa | lão-tử | già-chết | |
| jāti | sinh | sự Tái sinh | |
| bhava | hữu | Mầm sinh | dùng trong Duyên khởi |
| upādāna | thủ | Bám chặt | |
| taṇhā | ái | Khát ái | |
| vedanā | thọ | Cảm Giác | |
| phassa | xúc | Xúc | |
| nāmarūpa | danh-sắc | Danh–sắc | |
| viññāṇa | thức | sự Nhận biết đi tái sinh / sự Nhận biết | dùng "sự Nhận biết đi tái sinh" trong 12 nhân duyên |
| samudaya | tập / sinh | sự hình thành | |
| nirodha | diệt | bị chặn / biến mất / làm ngưng | |
| nissaraṇa | xuất ly | thoát khỏi | |
| [!] pariyesanā | cầu / tầm cầu | sự tìm kiếm | hành động tìm kiếm để thỏa mãn khát ái |
| [!] lābha | lợi đắc | sự đạt được | kết quả của việc tìm kiếm |
| [!] vinicchaya | thẩm lự | sự đánh giá | phán xét, cân nhắc giá trị của những gì đạt được |
| chandarāga | dục tham | nhiễm vào sự ước mong | |
| [!] ajjhosāna | đắm trước | sự đắm trước | sự dính mắc sâu sắc, trói buộc vào đối tượng |
| [!] pariggaha | chấp thủ | sự chiếm hữu | hành động giữ lấy làm của riêng |
| [!] macchariya | xan tham | sự keo kiệt | sự bủn xỉn, không muốn chia sẻ |
| [!] ārakkha | thủ hộ | sự bảo vệ | hành động canh giữ tài sản |
| [!] adhivacanasamphassa | danh tự xúc | xúc chạm qua ngôn ngữ | sự tiếp xúc thuộc về khái niệm, tên gọi (thuộc nhóm Danh) |
| [!] paṭighasamphassa | chướng ngại xúc | xúc chạm qua va vấp | sự tiếp xúc vật lý, có sự kháng cự (thuộc nhóm Sắc) |
| [!] atta | ngã | bản ngã | cái tôi cốt lõi, thường hằng |
| [!] paññatti | chế định | sự định danh | sự đặt tên, quy ước khái niệm |
| [!] rūpī | sắc | có hình thể | thuộc về vật chất, có hình dáng |
| [!] arūpī | vô sắc | không hình thể | phi vật chất |
| [!] paritta | thiểu | nhỏ hẹp | có giới hạn, hữu hạn |
| [!] ananta | vô lượng | vô tận | không có giới hạn |
| sukha-vedanā | thọ lạc | cảm giác dễ chịu | |
| dukkha-vedanā | thọ khổ | cảm giác khó chịu | |
| adukkhamasukha-vedanā | thọ bất khổ bất lạc | cảm giác không dễ chịu không khó chịu | |
| [!] anicca | vô thường | vô thường | không thường hằng, luôn thay đổi |
| saṅkhata | hữu vi | do Hợp mà thành | |
| paṭiccasamuppanna | duyên sinh | thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc | |
| khayā | đoạn tận | cạn sạch | |
| vayā | diệt | sự tàn hoại | |
| virāgā | ly tham | cạn hết đắm nhiễm | |
| [!] parinibbāyati | viên tịch | hoàn toàn tịch diệt | sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não và đau khổ |
| pajānāti | tuệ tri | thấy rõ | |
| Tathāgata | Như Lai | Người Đến Như Vậy | |
| abhiññā | thắng tri | hiểu biết trực tiếp | |
| [!] viññāṇaṭṭhiti | thức trú | trạm dừng của sự Nhận biết | nơi thức nương tựa, tồn tại |
| āyatana | xứ | xứ | |
| saññā | tưởng | Nhận Thức | |
| manasikāra | tác ý | suy nghĩ | |
| ākāsānañcāyatana | không vô biên xứ | cõi Không Gian là Vô Tận | |
| viññāṇañcāyatana | thức vô biên xứ | cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận | |
| ākiñcaññāyatana | vô sở hữu xứ | cõi Không Có Vật Gì | |
| nevasaññānāsaññāyatana | phi tưởng phi phi tưởng xứ | cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" | |
| atthaṅgama | diệt | tan biến | |
| abhinandati | dục hỷ | vui thú chạy theo | |
| [!] vimokkha | giải thoát | sự giải thoát | sự cởi trói khỏi các trói buộc tâm lý |
| [!] saññāvedayitanirodha | diệt thọ tưởng định | sự làm ngưng Nhận thức và Cảm giác | trạng thái thiền định cao nhất làm ngưng mọi hoạt động tâm trí |
| āsava | lậu hoặc | nguồn ác | |
| [!] cetovimutti | tâm giải thoát | tâm giải thoát | sự giải thoát của tâm khỏi tham ái |
| [!] paññāvimutti | tuệ giải thoát | tuệ giải thoát | sự giải thoát nhờ trí tuệ phá vỡ vô minh |
| [!] ubhatobhāgavimutta | câu hữu giải thoát | giải thoát cả hai phần | người đạt được cả tâm giải thoát và tuệ giải thoát cùng các tầng thiền vô sắc |
| abhinandunti | hoan hỷ | vui mừng đón nhận |
1 Vô minh (Avijjā): Không hiểu biết đúng đắn về Tứ diệu đế, vô ngã, vô thường. 2 Hành (Saṅkhārā): Các hành động, tạo tác (nghiệp) thân, khẩu, ý từ vô minh. 3 Thức (Viññāṇa): Sự nhận thức, tâm thức tái sinh. 4 Danh sắc (Nāmarūpa): Sự hình thành tâm lý (danh) và vật chất (sắc/thân thể). 5 Lục nhập (Saḷāyatana): Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc 6 trần. 6 Xúc (Phassa): Sự va chạm giữa căn, cảnh và thức. 7 Thọ (Vedanā): Cảm giác (vui, buồn, trung tính) từ xúc. 8 Ái (Taṇhā): Sự khao khát, thèm muốn, ham thích. 9 Thủ (Upādāna): Sự nắm giữ, chấp trước, bám víu. 10 Hữu (Bhava): Sự tồn tại, sự hình thành các nghiệp tạo ra sự tái sinh. 11 Sinh (Jāti): Sự ra đời, hiện hữu. 12 Lão tử (Jarāmaraṇa): Già, chết, ưu, bi, khổ, não.
Chuỗi Điều kiện theo kinh, thiếu 5, 2, 1:
- (12) già-chết
- (11) Tái sinh (sinh / jāti)
- (10) Mầm sinh (hữu / bhava)
- (9) Giữ chặt (thủ / upādāna)
- (8) yêu thích (ái / taṇhā)
- (7) Cảm Giác (thọ / vedanā)
- (6) Xúc (xúc / phassa) ?
- (4) Danh–sắc (danh-sắc / nāmarūpa)
- (3) sự Nhận biết (đi tái sinh) (thức / viññāṇa) -
- [Danh–sắc(lập lại)]
"Này Ananda, khi ta nói 'Danh Sắc (Tâm và Thân) là điều kiện sinh ra Xúc' – con cần phải hiểu điều đó theo logic sau đây:
Giả sử không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào để nhận biết phần Tâm (Danh), thì liệu phần Thân (Sắc) có thể tự mình tạo ra những 'tiếp xúc về mặt nhận thức/khái niệm' được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
Này Ananda, do những hành tướng nào, do những đặc tướng nào, do những tướng trạng nào, do những chỉ định nào mà Danh thân được thi thiết định danh; nếu vắng mặt những hành tướng ấy, những đặc tướng ấy, những tướng trạng ấy, những chỉ định ấy, thì liệu Tăng ngữ xúc có thể hiển lộ ở nơi Sắc thân được chăng?"
Này Ānanda, những đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Danh sắc (hệ thần kinh) đặt tên, khái niệm (chế định / paññatti); giả sử (hệ thần kinh) không có những (khái niệm về) đặc điểm, hình dáng, biểu hiện ấy; thì liệu sự xúc-qua khái niệm (danh tự xúc / adhivacanasamphassa) có thể xuất hiện từ Thân sắc (giác quan) được không?"
"Này Ānanda, bởi những khía cạnh nào, những đặc điểm nào, những hình dáng nào, những biểu hiện nào mà nhóm Sắc được định danh; nếu không có những khía cạnh ấy... những biểu hiện ấy, liệu xúc chạm qua va vấp (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể xuất hiện trong nhóm Danh được không?"
Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Thân sắc (giác quan) cảm nhận được (sự kích thích); giả sử không có những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện ấy (kích thích), thì liệu xúc-qua va chạm vật lý (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể tạo ra từ Danh sắc (hệ thần kinh) được không?
"Ngược lại, nếu không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào của phần Thân (Sắc) – như các giác quan – thì liệu phần Tâm (Danh) có thể trải nghiệm được những 'tiếp xúc do va chạm vật lý' không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Vậy nếu vắng bóng những đặc tính của cả Tâm lẫn Thân, thì liệu có bất kỳ loại tiếp xúc nào – dù là qua nhận thức hay qua va chạm vật lý – có thể xảy ra được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Nói tóm lại, nếu không có bất cứ dấu hiệu nào để hình thành nên Danh và Sắc, liệu Xúc có thể tồn tại được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Chính vì thế, này Ananda, con phải hiểu rằng: Danh và Sắc chính là cội nguồn, là nguyên nhân, và là điều kiện tiên quyết để sự Tiếp Xúc (Xúc) có thể sinh ra."
"'Do Danh-Sắc làm duyên, Xúc sinh khởi' — điều đó đã được nói như vậy. Này Ānanda, hãy hiểu điều đó theo cách giải thích sau: Chính nhờ những hình thái, những dấu hiệu, những tướng trạng, những đặc điểm mà danh thân được nhận biết và định danh — nếu những hình thái ấy, những dấu hiệu ấy, những tướng trạng ấy, những đặc điểm ấy không còn hiện hữu — thì liệu trên sắc thân có còn nhận ra được xúc qua ngôn danh nữa không?"
"'Do Danh-Sắc làm duyên, Xúc sinh khởi' — điều đó đã được nói như vậy. Này Ānanda, hãy hiểu điều đó theo cách giải thích sau: Chính nhờ những hình thái, những dấu hiệu, những tướng trạng, những đặc điểm mà danh thân được nhận biết và định danh — nếu những hình thái ấy, những dấu hiệu ấy, những tướng trạng ấy, những đặc điểm ấy không còn hiện hữu — thì liệu trên sắc thân có còn nhận ra được xúc qua ngôn danh nữa không?"
Sự tiếp xúc do 1) xúc do va chạm (xúc xuất phát từ giác quan) hoặc 2) xúc do danh xưng (xúc xuất phát từ não bộ) làm điều kiện cần. Điều này hiểu như nào?. Thông tin hình ảnh, âm thanh qua giác quan đi vào não, não [đặt tên, khái niệm hóa] những thông tin ấy.
Nếu những [tên đặt, khái niệm hóa] không còn, thì xúc xuất phát từ não bộ không ghi nhận ở giác quan khi gặp hình ảnh, âm thanh. Nếu những [hình ảnh, âm thanh] không đi vào giác quan, thì xúc xuất phát từ va chạm không ghi nhận ở não.
Này Ānanda, những đặc điểm, dấu hiệu, tướng trạng, và cách mô tả mà nhờ đó danh thân (phần tâm lý) được nhận biết — nếu tất cả những thứ đó không có mặt, thì liệu xúc do danh xưng (adhivacanasamphassa — sự tiếp xúc qua khái niệm/tên gọi) có thể xuất hiện ở sắc thân (phần vật chất) không?"
Giả sử không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào để nhận biết phần Tâm (Danh), thì liệu phần Thân (Sắc) có thể tự mình tạo ra những 'tiếp xúc về mặt nhận thức/khái niệm' được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
sự Tiếp xúc phát sinh từ 2 nguồn : Do sự tiếp xúc qua giác quan hoặc sự suy nghĩ dựa trên khái niệm của não bộ. Điều này hiểu như nào ? đầu tiên [sự vật, hiện tượng] được ghi nhận qua giác quan và hình thành [khái niệm, đặt tên] trong não, sau đó não bộ tự hoạt động dựa trên những [khái niệm, tên gọi] này. Nếu khồng có sự vật, hiện tượng thì giác quan sẽ không ghi nhận, không ghi nhận sẽ không có [khái niệm, tên gọi] trong não, nên không có xúc?