DN 8. KINH TIẾNG RỐNG CỦA SƯ TỬ
(Mahāsīhanādasutta)
Bản tóm tắt→
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Uruññā, tại khu rừng nai Kaṇṇakatthala.
Khi ấy, người tu lõa thể Kassapa đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, liền chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, ông đứng sang một bên. Đứng sang một bên, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn điều này:
"Thưa tôn giả Gotama, tôi có nghe điều này: 'Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh (tapa), ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ (lūkhājīvi)'. Thưa tôn giả Gotama, những ai nói rằng: 'Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh, ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ', liệu họ có đang nói đúng những gì tôn giả Gotama đã nói, họ không vu khống tôn giả Gotama bằng những điều không thật, họ giải thích Điều dạy (pháp/dhamma) thuận theo Điều dạy, và không có một người đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách? Vì chúng tôi không muốn vu khống tôn giả Gotama."
"Này Kassapa, những ai nói rằng: 'Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh, ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ', họ không nói đúng những gì ta đã nói, và họ vu khống ta bằng những điều không thật, không có thật. Ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống kham khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi khốn cùng (ác thú/apāya), cõi xấu (đọa xứ/duggati), cõi đọa đày (vinipāta), địa ngục (niraya). Nhưng ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống kham khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi tốt đẹp (thiện thú/sugati), thế giới chư thiên (thiên giới/sagga loka).
Ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống ít đau khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi khốn cùng, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống ít đau khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới chư thiên. Này Kassapa, vì ta thấy rõ (tuệ tri/pajānāti) sự đến, sự đi, sự chết và sự Tái sinh (sinh/upapatti) của những người tu khổ hạnh này đúng như thật, làm sao ta có thể chê bai mọi hình thức khổ hạnh, hay hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ?
Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người hiểu biết, tinh tế, đã từng tranh luận với người khác, sắc bén như những người bắn đứt sợi tóc. Họ đi khắp nơi, dường như dùng trí tuệ của mình để phá vỡ các quan điểm. Giữa ta và họ, có những điểm đồng tình, có những điểm không đồng tình. Những gì họ nói là 'tốt', ta cũng nói là 'tốt'. Những gì họ nói là 'không tốt', ta cũng nói là 'không tốt'. Những gì họ nói là 'tốt', ta lại nói là 'không tốt'. Những gì họ nói là 'không tốt', ta lại nói là 'tốt'.
Những gì ta nói là 'tốt', người khác cũng nói là 'tốt'. Những gì ta nói là 'không tốt', người khác cũng nói là 'không tốt'. Những gì ta nói là 'không tốt', người khác lại nói là 'tốt'. Những gì ta nói là 'tốt', người khác lại nói là 'không tốt'.
1. Thảo luận về sự chất vấn (Samanuyuñjāpanakathā)
Ta đến gặp họ và nói thế này: 'Này các hiền giả, những điểm nào chúng ta không đồng tình, hãy gác lại. Những điểm nào chúng ta đồng tình, ở đó những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng:
"Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện (bất thiện pháp/akusalā dhammā), được xem là không thiện, có lỗi (sāvajjā), được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ (đoạn trừ/pajahati) không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, sa-môn Gotama hay các vị đạo sư của các hội chúng khác?"'
Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Sa-môn Gotama đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với các vị đạo sư của các hội chúng khác'. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.
Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện (thiện pháp/kusalā dhammā), được xem là thiện, không có lỗi (anavajjā), được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Ai là người đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, sa-môn Gotama hay các vị đạo sư của các hội chúng khác?'
Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với các vị đạo sư của các hội chúng khác'. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.
Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, hội chúng đệ tử của Gotama hay hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác?'
Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Hội chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác'. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.
Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Ai là người đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, hội chúng đệ tử của Gotama hay hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác?'
Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: 'Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Hội chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác'. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.
2. Tám Bước Thiện (Ariyaaṭṭhaṅgikamagga)
Này Kassapa, có một con đường, có một phương pháp thực hành, người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: 'Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật'. Này Kassapa, con đường đó là gì, phương pháp thực hành đó là gì, mà người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: 'Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật'? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo/Ariya Aṭṭhaṅgika Magga). Cụ thể là: Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến/Sammā-diṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy/Sammā-saṅkappa), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ/Sammā-vācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp/Sammā-kammanta), Đời Sống Thiện (Chánh mạng/Sammā-ājīva), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn/Sammā-vāyāma), Tự Quan Sát Thiện (Chánh niệm/Sammā-sati), Định thiện (Chánh định/Sammā-samādhi). Này Kassapa, đây là con đường, đây là phương pháp thực hành, mà người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: 'Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật'."
3. Các hình thức thực hành khổ hạnh (Tapopakkamakathā)
Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn:
"Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn được xem là đời sống sa-môn (sa-môn hạnh/sāmañña) và đời sống bà-la-môn (bà-la-môn hạnh/brahmañña). Người ấy sống lõa thể, sống buông lỏng, liếm sạch tay, không nhận lời mời 'hãy đến', không nhận lời mời 'hãy đứng lại', không nhận thức ăn mang đến tận nơi, không nhận thức ăn nấu riêng cho mình, không chấp nhận lời mời. Người ấy không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng chảo, không nhận qua ngưỡng cửa, không nhận qua cây gậy, không nhận qua cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận từ nơi quyên góp, không nhận từ nơi có chó đứng đợi, không nhận từ nơi ruồi nhặng bu quanh, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu lên men, không uống nước cám. Người ấy nhận thức ăn từ một nhà và chỉ ăn một miếng; hoặc nhận từ hai nhà và chỉ ăn hai miếng... nhận từ bảy nhà và chỉ ăn bảy miếng; nuôi sống bằng một bát, nuôi sống bằng hai bát...nuôi sống bằng bảy bát; ăn một ngày một bữa, hai ngày ăn một bữa... bảy ngày ăn một bữa. Cứ như vậy, người ấy thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần.
Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn cũng được xem là đời sống sa-môn và đời sống bà-la-môn. Người ấy ăn rau, hoặc ăn lúa miêu, hoặc ăn lúa hoang, hoặc ăn da vụn, hoặc ăn rong rêu, hoặc ăn cám, hoặc ăn váng gạo, hoặc ăn bã vừng, hoặc ăn cỏ, hoặc ăn phân bò, sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng.
Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn cũng được xem là đời sống sa-môn và đời sống bà-la-môn. Người ấy mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải liệm người chết, mặc giẻ rách nhặt từ đống rác, mặc vỏ cây, mặc da linh dương, mặc áo da linh dương có móng, mặc áo bện bằng cỏ kusa, mặc áo bện bằng vỏ cây, mặc áo bện bằng dăm gỗ, mặc áo bện bằng tóc, mặc áo bện bằng lông đuôi ngựa, mặc áo bện bằng lông cú; chuyên tâm thực hành việc nhổ tóc và râu; đứng liên tục, từ chối chỗ ngồi; ngồi xổm liên tục, chuyên tâm thực hành việc ngồi xổm; nằm trên gai, dọn chỗ ngủ trên gai; nằm trên ván gỗ; nằm trên đất trần; nằm nghiêng một bên, mặc cho bụi bẩn bám đầy người; sống ngoài trời, ngồi đâu cũng được; chuyên tâm thực hành việc ăn phân; chuyên tâm thực hành việc không uống nước lạnh; xuống nước tắm ba lần mỗi ngày (sáng, trưa, tối) để gột rửa."
4. Sự vô ích của các hình thức khổ hạnh (Tapopakkamaniratthakathā)
"Này Kassapa, cho dù một người sống lõa thể, sống buông lỏng, liếm sạch tay... [cho đến]... thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức (giới uẩn/sīlasampadā), sự trọn vẹn về tâm (tâm uẩn/cittasampadā), và sự trọn vẹn về trí tuệ (tuệ uẩn/paññāsampadā) của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương (từ/Mettā) không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch (đoạn tận/khayā) các nguồn ác (lậu hoặc/Āsava), tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri/abhijānāti), chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm (tâm giải thoát/cetovimutti), sự giải thoát của trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti) không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu... [cho đến]... sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, và sự trọn vẹn về trí tuệ của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha... [cho đến]... xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, và sự trọn vẹn về trí tuệ của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn."
Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: "Thật khó làm thay, thưa tôn giả Gotama, là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn."
"Này Kassapa, ngoài đời người ta thường nói: 'Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn'. Này Kassapa, nếu chỉ cần sống như người sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay... [cho đến]... thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Ta hãy sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay... [cho đến]... thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn'. Này Kassapa, đó là khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu... [cho đến]... sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Ta hãy ăn rau, hoặc ăn lúa miêu... [cho đến]... sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn'. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha... [cho đến]... xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Ta hãy mặc vải gai, mặc vải gai pha... [cho đến]... xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn'. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: "Thật khó nhận biết thay, thưa tôn giả Gotama, là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn."
"Này Kassapa, ngoài đời người ta thường nói: 'Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn'. Này Kassapa, cho dù một người sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay... [cho đến]... thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Người này sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay... [cho đến]... thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn'. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu... [cho đến]... sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Người này ăn rau, hoặc ăn lúa miêu... [cho đến]... sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn'. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.
Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha... [cho đến]... xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.
Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: 'Người này mặc vải gai, mặc vải gai pha... [cho đến]... xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa'.
Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: 'Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn'. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn."
5. Sự trọn vẹn về Đạo đức, Tâm và Trí tuệ (Sīlasamādhipaññāsampadā)
Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: "Thưa tôn giả Gotama, thế nào là sự trọn vẹn về đạo đức, thế nào là sự trọn vẹn về tâm, thế nào là sự trọn vẹn về trí tuệ?"
"Ở đây, này Kassapa, Người Đến Như Vậy (Như Lai/Tathāgata) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Tỉnh Giác Trọn Vẹn... [cho đến]... thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, có hành động và lời nói thiện, có đời sống trong sạch, trọn vẹn về đạo đức, phòng hộ các giác quan, có sự nhận biết rõ ràng, và sống biết đủ.
Và này Kassapa, thế nào là tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức? Ở đây, này Kassapa, tỳ kheo từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, tránh xa việc giết hại sinh mệnh, bỏ gậy gộc, bỏ đao kiếm, biết xấu hổ, có lòng thương xót, sống với lòng từ bi hướng đến lợi ích của mọi sinh linh. Đây thuộc về sự trọn vẹn về đạo đức của vị ấy... [cho đến]...
Hoặc như một số sa-môn, bà-la-môn, dù ăn thức ăn do tín đồ cúng dường, vẫn nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các tà thuật như: bói toán, cầu nguyện... [cho đến]... bốc thuốc chữa bệnh. Vị ấy tránh xa tà mạng qua các tà thuật như vậy. Đây thuộc về sự trọn vẹn về đạo đức của vị ấy.
Này Kassapa, tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức như vậy không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ sự bảo vệ của đạo đức. Này Kassapa, giống như một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã tiêu diệt kẻ thù, không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ đã dẹp yên quân địch; cũng vậy, này Kassapa, tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức như vậy không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ sự bảo vệ của đạo đức. Vị ấy, được trang bị bằng khối đạo đức cao thượng này, trải nghiệm niềm hạnh phúc (lạc/sukha) không có lỗi ở bên trong. Này Kassapa, như vậy là tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức. Đây là sự trọn vẹn về đạo đức... [cho đến]... vị ấy chứng và an trú Thiền-na (Thiền/jhāna) thứ nhất. Đây thuộc về sự trọn vẹn về tâm của vị ấy... [cho đến]... chứng và an trú Thiền-na thứ hai... Thiền-na thứ ba... Thiền-na thứ tư. Đây thuộc về sự trọn vẹn về tâm của vị ấy. Đây là sự trọn vẹn về tâm.
Với tâm được định tĩnh như vậy... [cho đến]... vị ấy hướng tâm, dồn tâm đến tri kiến... Đây thuộc về sự trọn vẹn về trí tuệ của vị ấy... [cho đến]... vị ấy biết rằng 'không còn sự tồn tại nào ở trạng thái này nữa'. Đây thuộc về sự trọn vẹn về trí tuệ của vị ấy. Đây là sự trọn vẹn về trí tuệ.
Này Kassapa, không có sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, sự trọn vẹn về trí tuệ nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, sự trọn vẹn về trí tuệ này.
6. Tiếng rống của sư tử (Sīhanādakathā)
Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao đạo đức. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi đạo đức. Cho đến mức độ đạo đức cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về đạo đức cao thượng.
Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Cho đến mức độ thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt cao thượng.
Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao trí tuệ. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi trí tuệ. Cho đến mức độ trí tuệ cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về trí tuệ cao thượng.
Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao sự giải thoát. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi sự giải thoát. Cho đến mức độ giải thoát cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về sự giải thoát cao thượng.
Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử (sư tử hống/sīhanāda), nhưng ngài chỉ rống trong ngôi nhà trống, chứ không rống giữa các hội chúng'. Cần phải nói với họ: 'Đừng nói như vậy'. Cần phải nói với họ: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử, và ngài rống giữa các hội chúng'.
Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, nhưng ngài không rống một cách tự tin đầy đủ'. Cần phải nói với họ: 'Đừng nói như vậy'. Cần phải nói với họ: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, và ngài rống một cách tự tin đầy đủ'.
Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, ngài rống một cách tự tin đầy đủ, nhưng người ta không hỏi ngài câu hỏi... [cho đến]... người ta có hỏi ngài câu hỏi; nhưng ngài không trả lời được câu hỏi của họ... [cho đến]... ngài có trả lời được câu hỏi của họ; nhưng ngài không làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời... [cho đến]... ngài có làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời; nhưng họ không nghĩ rằng điều đó đáng để nghe... [cho đến]... họ có nghĩ rằng điều đó đáng để nghe; nhưng sau khi nghe họ không có niềm tin... [cho đến]... sau khi nghe họ có niềm tin; nhưng họ không thể hiện thái độ tin tưởng... [cho đến]... họ có thể hiện thái độ tin tưởng; nhưng họ không thực hành theo đúng như vậy... [cho đến]... họ có thực hành theo đúng như vậy; nhưng những người thực hành không đạt được kết quả'. Cần phải nói với họ: 'Đừng nói như vậy'. Cần phải nói với họ: 'Sa-môn Gotama rống tiếng rống của sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, ngài rống một cách tự tin đầy đủ, người ta có hỏi ngài câu hỏi, ngài có trả lời được câu hỏi của họ, ngài có làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời, họ nghĩ rằng điều đó đáng để nghe, sau khi nghe họ có niềm tin, họ thể hiện thái độ tin tưởng, họ thực hành theo đúng như vậy, và những người thực hành đạt được kết quả'.
7. Thời gian thử thách cho ngoại đạo (Titthiyaparivāsakathā)
Này Kassapa, có một lần ta đang trú ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Tại đó, một người tu phạm hạnh tên là Nigrodha đã hỏi ta một câu hỏi về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Khi được hỏi về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt, ta đã trả lời. Và sau khi ta trả lời, ông ấy đã vô cùng hoan hỉ."
"Thưa Thế Tôn, ai nghe Điều dạy của Thế Tôn mà lại không vô cùng hoan hỉ? Con cũng vô cùng hoan hỉ khi nghe Điều dạy của Thế Tôn. Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình ảnh; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Điều dạy và hội chúng tỳ kheo. Xin cho con được rời bỏ gia đình (xuất gia/pabbajja) và nhận giới cụ túc (thọ đại giới/upasampada) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn."
"Này Kassapa, ai trước đây là ngoại đạo, nay muốn rời bỏ gia đình, muốn nhận giới cụ túc trong Điều dạy và Kỷ luật này, người đó phải trải qua thời gian thử thách (biệt trú/parivāsa) bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các tỳ kheo hài lòng, họ sẽ cho rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo. Tuy nhiên, ta nhận thấy có sự khác biệt giữa các cá nhân ở đây."
"Thưa Thế Tôn, nếu những người trước đây là ngoại đạo, nay muốn rời bỏ gia đình, muốn nhận giới cụ túc trong Điều dạy và Kỷ luật này, phải trải qua thời gian thử thách bốn tháng, và sau bốn tháng, nếu các tỳ kheo hài lòng, họ sẽ cho rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo. Con sẵn sàng trải qua thời gian thử thách bốn năm, và sau bốn năm, nếu các tỳ kheo hài lòng, xin hãy cho con rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo."
Người tu lõa thể Kassapa đã được rời bỏ gia đình và nhận giới cụ túc dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn. Không lâu sau khi nhận giới cụ túc, tôn giả Kassapa sống một mình, tách biệt, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết chí. Và không bao lâu, mục đích vô thượng của đời sống thanh tịnh mà các thiện nam tử đã chân chính rời bỏ gia đình để hướng tới, vị ấy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại.
Vị ấy biết rõ: "Sự Tái sinh (sinh/jāti) đã cạn sạch, đời sống thanh tịnh đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn sự tồn tại nào ở trạng thái này nữa". Và tôn giả Kassapa đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
Kinh Tiếng Rống Của Sư Tử thứ tám kết thúc.